Thứ năm 12/03/2026 16:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quyền tự bào chữa trong tố tụng hình sự và những vấn đề đặt ra trong thực tiễn ở Việt Nam hiện nay

Theo quy định tại khoản 4 Điều 31 Hiến pháp năm 2013 thì “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa”; Điều 16 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa…”. Có thể nhận thấy, quyền tự bào chữa là một trong những quyền cơ bản của con người, được quy định cụ thể trong Hiến pháp và pháp luật tố tụng hình sự (TTHS). Theo đó, người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử (gọi chung là người bị buộc tội) có quyền tự bào chữa. Trong trường hợp những người này không tự bào chữa cho mình được thì có thể nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa. Quyền tự bào chữa được thực hiện xuyên suốt trong toàn bộ quá trình tố tụng, từ khi bị bắt, tạm giữ, tạm giam cho đến quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử.


Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và các văn bản pháp luật liên quan khác không có sự giải thích về việc tự bào chữa và quyền tự bào chữa. Tuy nhiên, từ thực tiễn trong hoạt động TTHS, có thể hiểu, tự bào chữa là việc dùng lý lẽ, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong TTHS. Quyền tự bào chữa là quyền của người bị buộc tội được Hiến pháp và pháp luật về TTHS quy định, trong đó, người bị buộc tội được dùng lý lẽ, chứng cứ để tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Trên thế giới, đặc biệt là ở các nước phát triển, quyền tự bào chữa trong TTHS được pháp luật quy định rất cụ thể, rõ ràng và được thực hiện rộng rãi trong đời sống xã hội. Quyền tự bào chữa được xác lập trong toàn bộ quá trình tố tụng. Người dân có thể sử dụng quyền tự bào chữa, quyền nhờ người bào chữa hoặc có thể sử dụng đồng thời cả hai quyền này. Do đó, quyền lợi của người bị buộc tội trong hoạt động TTHS được bảo đảm khá triệt để trong thực tiễn.

Trong xu hướng hiện nay ở nước ta, kinh tế xã hội ngày càng phát triển, trình độ hiểu biết pháp luật của người dân ngày càng được nâng cao, việc thực hiện quyền tự bào chữa đang trở thành một yêu cầu cấp thiết. Tuy nhiên, trong thực tiễn, quyền tự bào chữa hầu như không được thực hiện. Nói cách khác, các quy định pháp luật về quyền tự bào chữa chưa thực sự đi vào đời sống xã hội. Từ thực tiễn ở nước ta hiện nay, có thể nhận thấy một số hạn chế, bất cập và khó khăn, vướng mắc trong quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về quyền tự bào chữa trong TTHS như sau:

Một là, các quy định pháp luật hiện hành về quyền tự bào chữa trong TTHS còn chung chung, khái quát, chưa cụ thể, rõ ràng

Trong Hiến pháp và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đều quy định quyền tự bào chữa là một trong những quyền cơ bản của con người. Khi tham gia vào quan hệ pháp luật TTHS, người bị buộc tội đều được giải thích về các quyền do pháp luật quy định, trong đó có quyền tự bào chữa. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định cụ thể thế nào là quyền tự bào chữa, tức là chưa quy định cụ thể về nội hàm của quyền tự bào chữa và việc tự bào chữa. Điều này dẫn đến thực trạng hiện nay là người bị buộc tội muốn thực hiện quyền tự bào chữa nhưng không biết được làm những gì trong từng giai đoạn của quá trình tố tụng. Đây rõ ràng là những vấn đề còn bỏ ngỏ, chưa được quy định hoặc hướng dẫn cụ thể, chi tiết.

Hai là, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chưa có sự tách biệt trong việc quy định giữa người tự bào chữa và người bào chữa

Chương 5 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (từ Điều 72 đến Điều 84) quy định cụ thể về việc bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự. Theo đó, Bộ luật quy định cụ thể về người bào chữa; quyền và nghĩa vụ của người bào chữa; thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng; lựa chọn người bào chữa; chỉ định người bào chữa; thay đổi hoặc từ chối người bào chữa; thủ tục đăng ký bào chữa; trách nhiệm thông báo cho người bào chữa; gặp người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đang bị tạm giam; thu thập, giao chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc bào chữa; đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án… Tuy nhiên, Bộ luật không có các quy định tương tự về người tự bào chữa.

Việc không tách biệt giữa người bào chữa và người tự bào chữa như quy định pháp luật hiện hành sẽ dẫn đến cách hiểu người tự bào chữa chính là người bào chữa. Trong trường hợp này, người tự bào chữa được hưởng quyền, nghĩa vụ và thực hiện những công việc như người bào chữa. Tuy nhiên, điều này là không hợp lý trong thực tế, bởi lẽ, người tự bào chữa và người bào chữa trong vụ án hình sự về bản chất là khác nhau, quyền, nghĩa vụ của người bào chữa vàngười tự bào chữa cũng khác nhau.

Ba là, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chưa có sự phân biệt giữa người bị buộc tội với người tự bào chữa

Khác với trường hợp nhờ người bào chữa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình, người tự bào chữa vừa là người bị buộc tội trong vụ án, vừa là người bào chữa cho mình, tức là, một người đóng hai vai trò khác nhau. Với vai trò là người bị buộc tội trong vụ án, người bị buộc tội có thể là người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo theo từng giai đoạn của quá trình tố tụng hình sự, có quyền và nghĩa vụ tương ứng theo quy định của pháp luật. Với vai trò là người tự bào chữa trong vụ án, người tự bào chữa được hưởng quyền và nghĩa vụ của việc bào chữa theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa có các quy định để phân biệt giữa người bị buộc tội với người tự bào chữa trong trường hợp người bị buộc tội thực hiện quyền tự bào chữa. Chúng ta có thể thấy điều này trong một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về thủ tục tranh tụng như sau:

Tại khoản 3 Điều 309 quy định: “Khi được chủ tọa phiên tòa đồng ý, bị cáo được đặt câu hỏi với bị cáo khác về các vấn đề có liên quan đến bị cáo”; Điều 310 quy định: “Khi được chủ tọa phiên tòa đồng ý, bị cáo có thể hỏi bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ về các vấn đề có liên quan đến bị cáo”; khoản 2 Điều 311 quy định: “Khi được chủ tọa phiên tòa đồng ý, bị cáo có thể hỏi người làm chứng về các vấn đề có liên quan đến bị cáo”... Điều này cho thấy, các quy định nêu trên chưa có sự phân biệt giữa bị cáo với người tự bào chữa. Trong các trường hợp này, nếu bị cáo thực hiện quyền tự bào chữa thì rõ ràng quyền tranh tụng của bị cáo có sự hạn chế nhất định.

Bốn là, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chưa có quy định cụ thể đối với trường hợp người tự bào chữa thực hiện quyền thay đổi vai trò bào chữa trong quá trình tố tụng

Trên thực tế, có những trường hợp, người bị buộc tội nhờ người bào chữa cho mình nhưng trong quá trình giải quyết vụ án, người bị buộc tội muốn thay đổi, tự mình thực hiện việc bào chữa. Hoặc trường hợp ngược lại, ban đầu, người bị buộc tội thực hiện quyền tự bào chữa nhưng trong quá trình giải quyết vụ án, người bị buộc tội muốn nhờ người bào chữa bảo vệ quyền lợi cho mình. Bên cạnh đó, có những trường hợp, người bị buộc tội muốn sử dụng đồng thời quyền tự bào chữa và quyền nhờ người khác bào chữa. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa có quy định cụ thể hoặc hướng dẫn về việc thực hiện những quyền này, do đó, trên thực tế, người bị buộc tội không biết thực hiện những quyền này như thế nào.

Năm là, thực tiễn thực hiện pháp luật về quyền tự bào chữa trong TTHS còn có những khó khăn, vướng mắc

Như đã đề cập ở trên, quyền tự bào chữa trong TTHS là quyền cơ bản được Hiến pháp và pháp luật quy định. Tuy nhiên, việc thực hiện quyền này hầu như chưa được thực hiện trên thực tế. Điều đó cho thấy không chỉ có những hạn chế, bất cập trong các quy định pháp luật hiện hành mà còn có những vướng mắc, khó khăn trong việc thực hiện pháp luật về quyền tự bào chữa trong TTHS.

Xét về phía người bị buộc tội, có thể nhận thấy, khi một người muốn thực hiện quyền tự bào chữa thì bản thân họ không biết thực hiện quyền này như thế nào, đâu là giới hạn của nó. Việc thực hiện quyền tự bào chữa có được bảo đảm một cách triệt để và có cơ chế bảo vệ cho việc thực hiện quyền đó hay không. Trên thực tế, có nhiều trường hợp, người bị buộc tội hoàn toàn có thể tự bào chữa cho mình và không cần nhờ người khác bào chữa. Thậm chí, một số trường hợp, việc tự bào chữa của người bị buộc tội có thể mang lại hiệu quả nhiều hơn so với việc nhờ người bào chữa. Điều này cho thấy, tính hiệu quả trong thực tế đối với quy định pháp luật về quyền tự bào chữa trong TTHS chưa đạt được.

Xét về phía cơ quan tiến hành tố tụng (THTT), các cơ quan THTT cũng rất lúng túng khi người bị buộc tội yêu cầu thực hiện quyền tự bào chữa. Thực tế cho thấy, các cơ quan THTT gặp khó khăn ngay từ giai đoạn giải thích pháp luật và hướng dẫn về việc thực hiện quyền tự bào chữa trong TTHS. Điều này xuất phát từ các quy định pháp luật về quyền tự bào chữa hiện nay chưa cụ thể, chi tiết, đặc biệt, hiện chưa có cơ chế thực thi và kiểm sát, giám sát đối với việc thực hiện quyền tự bào chữa. Do vậy, việc phổ biến rộng rãi và tạo điều kiện để quyền tự bào chữa phát huy hiệu quả trong thực tiễn còn có nhiều hạn chế.

Từ những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn hiện nay, tác giả xin nêu một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật, đồng thời, nâng cao hiệu quả việc thực hiện quyền tự bào chữa trong TTHS như sau:

Thứ nhất, hoàn thiện các quy định pháp luật về quyền tự bào chữa trong TTHS, trong đó tập trung giải quyết một số nội dung sau:

(i) Quy định cụ thể thế nào là quyền tự bào chữa và nội dung cụ thể của việc tự bào chữa trong từng giai đoạn của quá trình tố tụng, trong đó, cần quy định rõ phạm vi, giới hạn của quyền tự bào chữa, cơ chế đảm bảo cho việc thực hiện quyền tự bào chữa trong thực tiễn.

(ii) Cần có các quy định cụ thể về người tự bào chữa, để phân biệt với người bào chữa nói chung, tức là, cần quy định cụ thể về quyền, nghĩa vụ và những việc người tự bào chữa được thực hiện trong từng giai đoạn của quá trình tố tụng.

(iii) Cần có các quy định phân biệt người bị buộc tội và người tự bào chữa trong vụ án hình sự. Trong trường hợp người bị buộc tội thực hiện quyền tự bào chữa, người bị buộc tội vừa có quyền, nghĩa vụ của người bị buộc tội nhưng đồng thời có quyền, nghĩa vụ của người tự bào chữa và quyền, nghĩa này bình đẳng trước pháp luật.

(iv) Quy định cụ thể đối với trường hợp người tự bào chữa thực hiện quyền thay đổi vai trò bào chữa trong quá trình tố tụng. Theo đó, trong quá trình tố tụng, người tự bào chữa có thể thay đổi vai trò bào chữa bằng cách nhờ người bào chữa cho mình, chấm dứt vai trò của người bào chữa để tự mình bào chữa hoặc sử dụng đồng thời quyền tự bào chữa và quyền nhờ người khác bào chữa ở bất cứ giai đoạn nào.

(v) Cần có cơ chế thực thi cho việc thực hiện quyền tự bào chữa trong TTHS. Các cơ quan THTT cần giải thích, hướng dẫn cụ thể về quyền tự bào chữa và việc thực hiện quyền tự bào chữa cho người bị buộc tội, khuyến khích, tạo điều kiện để người bị buộc tội có thể thực hiện quyền tự bào chữa một cách dễ dàng nhất.

(vi) Cần có các quy định về kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền tự bào chữa trong TTHS. Theo đó, việc thực hiện quyền tự bào chữa trong TTHS phải được giám sát chặt chẽ trong khuôn khổ pháp luật. Người bị buộc tội có thể thực hiện quyền tự bào chữa một cách đầy đủ và toàn diện nhất trên cơ sở pháp luật. Bên cạnh đó, các cơ quan THTT thực hiện theo đúng thủ tục, trình tự được pháp luật quy định, một mặt, cho phép người bị buộc tội thực hiện quyền tự bào chữa theo quy định pháp luật, mặt khác, không để xảy ra tình trạng hạn chế quyền hoặc mở rộng quyền trong thực tế.

Thứ hai, nâng cao hiệu quả trong việc thực hiện pháp luật về quyền tự bào chữa trong TTHS:

(i) Các cơ quan, tổ chức, cá nhân cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về quyền tự bào chữa trong TTHS để tất cả người dân đều hiểu và nhận thức sâu rộng về quyền này.

(ii) Trong quá trình tố tụng, các cơ quan THTT cần đẩy mạnh việc giải thích, hướng dẫn để người bị buộc tội có thể dễ dàng tiếp cận và thực hiện được quyền tự bào chữa của mình có hiệu quả trên thực tế.

(iii) Cần có sự công khai, minh bạch trong việc thực hiện quyền tự bào chữa của người bị buộc tội trong TTHS.

(iv) Xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm về việc thực hiện quyền tự bào chữa trong TTHS. Theo đó, những hành vi như lạm quyền, lợi dụng quyền tự bào chữa để vi phạm pháp luật của người bị buộc tội hoặc những hành vi như hạn chế quyền, mở rộng quyền từ phía cơ quan THTT cần được xử lý nghiêm trên thực tế.

Như vậy, quyền tự bào chữa trong TTHS là quyền cơ bản của con người được Hiến pháp và pháp luật về TTHS ghi nhận. Tuy nhiên, trên thực tế, các quy định về quyền tự bào chữa trong TTHS ở nước ta chưa thực sự đi vào đời sống xã hội. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó, có những hạn chế, bất cập về các quy định pháp luật hiện hành và có những vướng mắc, khó khăn từ thực tiễn thực hiện pháp luật. Việc thực hiện đồng bộ một số giải pháp nêu trên sẽ góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật về quyền tự bào chữa trong TTHS, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu quả của việc thực hiện quyền tự bào chữa trong thực tiễn TTHS ở nước ta hiện nay.

TS. Nguyễn Tuấn An

Sở Tư pháp Vĩnh Phúc

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: