Thứ tư 23/09/2026 06:13
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quyền tự bào chữa trong tố tụng hình sự và những vấn đề đặt ra trong thực tiễn ở Việt Nam hiện nay

Theo quy định tại khoản 4 Điều 31 Hiến pháp năm 2013 thì “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa”; Điều 16 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa…”. Có thể nhận thấy, quyền tự bào chữa là một trong những quyền cơ bản của con người, được quy định cụ thể trong Hiến pháp và pháp luật tố tụng hình sự (TTHS). Theo đó, người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử (gọi chung là người bị buộc tội) có quyền tự bào chữa. Trong trường hợp những người này không tự bào chữa cho mình được thì có thể nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa. Quyền tự bào chữa được thực hiện xuyên suốt trong toàn bộ quá trình tố tụng, từ khi bị bắt, tạm giữ, tạm giam cho đến quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử.


Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và các văn bản pháp luật liên quan khác không có sự giải thích về việc tự bào chữa và quyền tự bào chữa. Tuy nhiên, từ thực tiễn trong hoạt động TTHS, có thể hiểu, tự bào chữa là việc dùng lý lẽ, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong TTHS. Quyền tự bào chữa là quyền của người bị buộc tội được Hiến pháp và pháp luật về TTHS quy định, trong đó, người bị buộc tội được dùng lý lẽ, chứng cứ để tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Trên thế giới, đặc biệt là ở các nước phát triển, quyền tự bào chữa trong TTHS được pháp luật quy định rất cụ thể, rõ ràng và được thực hiện rộng rãi trong đời sống xã hội. Quyền tự bào chữa được xác lập trong toàn bộ quá trình tố tụng. Người dân có thể sử dụng quyền tự bào chữa, quyền nhờ người bào chữa hoặc có thể sử dụng đồng thời cả hai quyền này. Do đó, quyền lợi của người bị buộc tội trong hoạt động TTHS được bảo đảm khá triệt để trong thực tiễn.

Trong xu hướng hiện nay ở nước ta, kinh tế xã hội ngày càng phát triển, trình độ hiểu biết pháp luật của người dân ngày càng được nâng cao, việc thực hiện quyền tự bào chữa đang trở thành một yêu cầu cấp thiết. Tuy nhiên, trong thực tiễn, quyền tự bào chữa hầu như không được thực hiện. Nói cách khác, các quy định pháp luật về quyền tự bào chữa chưa thực sự đi vào đời sống xã hội. Từ thực tiễn ở nước ta hiện nay, có thể nhận thấy một số hạn chế, bất cập và khó khăn, vướng mắc trong quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về quyền tự bào chữa trong TTHS như sau:

Một là, các quy định pháp luật hiện hành về quyền tự bào chữa trong TTHS còn chung chung, khái quát, chưa cụ thể, rõ ràng

Trong Hiến pháp và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đều quy định quyền tự bào chữa là một trong những quyền cơ bản của con người. Khi tham gia vào quan hệ pháp luật TTHS, người bị buộc tội đều được giải thích về các quyền do pháp luật quy định, trong đó có quyền tự bào chữa. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định cụ thể thế nào là quyền tự bào chữa, tức là chưa quy định cụ thể về nội hàm của quyền tự bào chữa và việc tự bào chữa. Điều này dẫn đến thực trạng hiện nay là người bị buộc tội muốn thực hiện quyền tự bào chữa nhưng không biết được làm những gì trong từng giai đoạn của quá trình tố tụng. Đây rõ ràng là những vấn đề còn bỏ ngỏ, chưa được quy định hoặc hướng dẫn cụ thể, chi tiết.

Hai là, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chưa có sự tách biệt trong việc quy định giữa người tự bào chữa và người bào chữa

Chương 5 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (từ Điều 72 đến Điều 84) quy định cụ thể về việc bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự. Theo đó, Bộ luật quy định cụ thể về người bào chữa; quyền và nghĩa vụ của người bào chữa; thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng; lựa chọn người bào chữa; chỉ định người bào chữa; thay đổi hoặc từ chối người bào chữa; thủ tục đăng ký bào chữa; trách nhiệm thông báo cho người bào chữa; gặp người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đang bị tạm giam; thu thập, giao chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc bào chữa; đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án… Tuy nhiên, Bộ luật không có các quy định tương tự về người tự bào chữa.

Việc không tách biệt giữa người bào chữa và người tự bào chữa như quy định pháp luật hiện hành sẽ dẫn đến cách hiểu người tự bào chữa chính là người bào chữa. Trong trường hợp này, người tự bào chữa được hưởng quyền, nghĩa vụ và thực hiện những công việc như người bào chữa. Tuy nhiên, điều này là không hợp lý trong thực tế, bởi lẽ, người tự bào chữa và người bào chữa trong vụ án hình sự về bản chất là khác nhau, quyền, nghĩa vụ của người bào chữa vàngười tự bào chữa cũng khác nhau.

Ba là, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chưa có sự phân biệt giữa người bị buộc tội với người tự bào chữa

Khác với trường hợp nhờ người bào chữa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình, người tự bào chữa vừa là người bị buộc tội trong vụ án, vừa là người bào chữa cho mình, tức là, một người đóng hai vai trò khác nhau. Với vai trò là người bị buộc tội trong vụ án, người bị buộc tội có thể là người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo theo từng giai đoạn của quá trình tố tụng hình sự, có quyền và nghĩa vụ tương ứng theo quy định của pháp luật. Với vai trò là người tự bào chữa trong vụ án, người tự bào chữa được hưởng quyền và nghĩa vụ của việc bào chữa theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa có các quy định để phân biệt giữa người bị buộc tội với người tự bào chữa trong trường hợp người bị buộc tội thực hiện quyền tự bào chữa. Chúng ta có thể thấy điều này trong một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về thủ tục tranh tụng như sau:

Tại khoản 3 Điều 309 quy định: “Khi được chủ tọa phiên tòa đồng ý, bị cáo được đặt câu hỏi với bị cáo khác về các vấn đề có liên quan đến bị cáo”; Điều 310 quy định: “Khi được chủ tọa phiên tòa đồng ý, bị cáo có thể hỏi bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ về các vấn đề có liên quan đến bị cáo”; khoản 2 Điều 311 quy định: “Khi được chủ tọa phiên tòa đồng ý, bị cáo có thể hỏi người làm chứng về các vấn đề có liên quan đến bị cáo”... Điều này cho thấy, các quy định nêu trên chưa có sự phân biệt giữa bị cáo với người tự bào chữa. Trong các trường hợp này, nếu bị cáo thực hiện quyền tự bào chữa thì rõ ràng quyền tranh tụng của bị cáo có sự hạn chế nhất định.

Bốn là, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chưa có quy định cụ thể đối với trường hợp người tự bào chữa thực hiện quyền thay đổi vai trò bào chữa trong quá trình tố tụng

Trên thực tế, có những trường hợp, người bị buộc tội nhờ người bào chữa cho mình nhưng trong quá trình giải quyết vụ án, người bị buộc tội muốn thay đổi, tự mình thực hiện việc bào chữa. Hoặc trường hợp ngược lại, ban đầu, người bị buộc tội thực hiện quyền tự bào chữa nhưng trong quá trình giải quyết vụ án, người bị buộc tội muốn nhờ người bào chữa bảo vệ quyền lợi cho mình. Bên cạnh đó, có những trường hợp, người bị buộc tội muốn sử dụng đồng thời quyền tự bào chữa và quyền nhờ người khác bào chữa. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa có quy định cụ thể hoặc hướng dẫn về việc thực hiện những quyền này, do đó, trên thực tế, người bị buộc tội không biết thực hiện những quyền này như thế nào.

Năm là, thực tiễn thực hiện pháp luật về quyền tự bào chữa trong TTHS còn có những khó khăn, vướng mắc

Như đã đề cập ở trên, quyền tự bào chữa trong TTHS là quyền cơ bản được Hiến pháp và pháp luật quy định. Tuy nhiên, việc thực hiện quyền này hầu như chưa được thực hiện trên thực tế. Điều đó cho thấy không chỉ có những hạn chế, bất cập trong các quy định pháp luật hiện hành mà còn có những vướng mắc, khó khăn trong việc thực hiện pháp luật về quyền tự bào chữa trong TTHS.

Xét về phía người bị buộc tội, có thể nhận thấy, khi một người muốn thực hiện quyền tự bào chữa thì bản thân họ không biết thực hiện quyền này như thế nào, đâu là giới hạn của nó. Việc thực hiện quyền tự bào chữa có được bảo đảm một cách triệt để và có cơ chế bảo vệ cho việc thực hiện quyền đó hay không. Trên thực tế, có nhiều trường hợp, người bị buộc tội hoàn toàn có thể tự bào chữa cho mình và không cần nhờ người khác bào chữa. Thậm chí, một số trường hợp, việc tự bào chữa của người bị buộc tội có thể mang lại hiệu quả nhiều hơn so với việc nhờ người bào chữa. Điều này cho thấy, tính hiệu quả trong thực tế đối với quy định pháp luật về quyền tự bào chữa trong TTHS chưa đạt được.

Xét về phía cơ quan tiến hành tố tụng (THTT), các cơ quan THTT cũng rất lúng túng khi người bị buộc tội yêu cầu thực hiện quyền tự bào chữa. Thực tế cho thấy, các cơ quan THTT gặp khó khăn ngay từ giai đoạn giải thích pháp luật và hướng dẫn về việc thực hiện quyền tự bào chữa trong TTHS. Điều này xuất phát từ các quy định pháp luật về quyền tự bào chữa hiện nay chưa cụ thể, chi tiết, đặc biệt, hiện chưa có cơ chế thực thi và kiểm sát, giám sát đối với việc thực hiện quyền tự bào chữa. Do vậy, việc phổ biến rộng rãi và tạo điều kiện để quyền tự bào chữa phát huy hiệu quả trong thực tiễn còn có nhiều hạn chế.

Từ những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn hiện nay, tác giả xin nêu một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật, đồng thời, nâng cao hiệu quả việc thực hiện quyền tự bào chữa trong TTHS như sau:

Thứ nhất, hoàn thiện các quy định pháp luật về quyền tự bào chữa trong TTHS, trong đó tập trung giải quyết một số nội dung sau:

(i) Quy định cụ thể thế nào là quyền tự bào chữa và nội dung cụ thể của việc tự bào chữa trong từng giai đoạn của quá trình tố tụng, trong đó, cần quy định rõ phạm vi, giới hạn của quyền tự bào chữa, cơ chế đảm bảo cho việc thực hiện quyền tự bào chữa trong thực tiễn.

(ii) Cần có các quy định cụ thể về người tự bào chữa, để phân biệt với người bào chữa nói chung, tức là, cần quy định cụ thể về quyền, nghĩa vụ và những việc người tự bào chữa được thực hiện trong từng giai đoạn của quá trình tố tụng.

(iii) Cần có các quy định phân biệt người bị buộc tội và người tự bào chữa trong vụ án hình sự. Trong trường hợp người bị buộc tội thực hiện quyền tự bào chữa, người bị buộc tội vừa có quyền, nghĩa vụ của người bị buộc tội nhưng đồng thời có quyền, nghĩa vụ của người tự bào chữa và quyền, nghĩa này bình đẳng trước pháp luật.

(iv) Quy định cụ thể đối với trường hợp người tự bào chữa thực hiện quyền thay đổi vai trò bào chữa trong quá trình tố tụng. Theo đó, trong quá trình tố tụng, người tự bào chữa có thể thay đổi vai trò bào chữa bằng cách nhờ người bào chữa cho mình, chấm dứt vai trò của người bào chữa để tự mình bào chữa hoặc sử dụng đồng thời quyền tự bào chữa và quyền nhờ người khác bào chữa ở bất cứ giai đoạn nào.

(v) Cần có cơ chế thực thi cho việc thực hiện quyền tự bào chữa trong TTHS. Các cơ quan THTT cần giải thích, hướng dẫn cụ thể về quyền tự bào chữa và việc thực hiện quyền tự bào chữa cho người bị buộc tội, khuyến khích, tạo điều kiện để người bị buộc tội có thể thực hiện quyền tự bào chữa một cách dễ dàng nhất.

(vi) Cần có các quy định về kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền tự bào chữa trong TTHS. Theo đó, việc thực hiện quyền tự bào chữa trong TTHS phải được giám sát chặt chẽ trong khuôn khổ pháp luật. Người bị buộc tội có thể thực hiện quyền tự bào chữa một cách đầy đủ và toàn diện nhất trên cơ sở pháp luật. Bên cạnh đó, các cơ quan THTT thực hiện theo đúng thủ tục, trình tự được pháp luật quy định, một mặt, cho phép người bị buộc tội thực hiện quyền tự bào chữa theo quy định pháp luật, mặt khác, không để xảy ra tình trạng hạn chế quyền hoặc mở rộng quyền trong thực tế.

Thứ hai, nâng cao hiệu quả trong việc thực hiện pháp luật về quyền tự bào chữa trong TTHS:

(i) Các cơ quan, tổ chức, cá nhân cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về quyền tự bào chữa trong TTHS để tất cả người dân đều hiểu và nhận thức sâu rộng về quyền này.

(ii) Trong quá trình tố tụng, các cơ quan THTT cần đẩy mạnh việc giải thích, hướng dẫn để người bị buộc tội có thể dễ dàng tiếp cận và thực hiện được quyền tự bào chữa của mình có hiệu quả trên thực tế.

(iii) Cần có sự công khai, minh bạch trong việc thực hiện quyền tự bào chữa của người bị buộc tội trong TTHS.

(iv) Xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm về việc thực hiện quyền tự bào chữa trong TTHS. Theo đó, những hành vi như lạm quyền, lợi dụng quyền tự bào chữa để vi phạm pháp luật của người bị buộc tội hoặc những hành vi như hạn chế quyền, mở rộng quyền từ phía cơ quan THTT cần được xử lý nghiêm trên thực tế.

Như vậy, quyền tự bào chữa trong TTHS là quyền cơ bản của con người được Hiến pháp và pháp luật về TTHS ghi nhận. Tuy nhiên, trên thực tế, các quy định về quyền tự bào chữa trong TTHS ở nước ta chưa thực sự đi vào đời sống xã hội. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó, có những hạn chế, bất cập về các quy định pháp luật hiện hành và có những vướng mắc, khó khăn từ thực tiễn thực hiện pháp luật. Việc thực hiện đồng bộ một số giải pháp nêu trên sẽ góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật về quyền tự bào chữa trong TTHS, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu quả của việc thực hiện quyền tự bào chữa trong thực tiễn TTHS ở nước ta hiện nay.

TS. Nguyễn Tuấn An

Sở Tư pháp Vĩnh Phúc

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: