Thứ ba 10/03/2026 14:14
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng về tài sản đối với người thứ ba khi ly hôn

Bài viết này bàn luận việc áp dụng pháp luật về quyền tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba cũng như nghĩa vụ của họ đối với người khác, từ đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật để có cách hiểu và vận dụng thống nhất.

Gia đình luôn là cái nôi hình thành và nuôi dưỡng nhân cách của mỗi con người. Những nhân cách ấy đã góp phần tạo nên bộ mặt của mỗi quốc gia. Những gia đình tốt đẹp sẽ xây dựng được một xã hội tiến bộ văn minh, một xã hội tiến bộ văn minh là cơ sở để xây dựng một gia đình tốt đẹp. Tuy nhiên, mặt trái của xã hội đã tạo nên một thực trạng đáng lo ngại, đó là vấn đề ly hôn ngày càng tăng và trở nên phổ biến, trở thành vấn đề được cả xã hội quan tâm, để lại nhiều hậu quả nặng nề cho các thành viên trong gia đình và cả xã hội. Một khi hôn nhân chấm dứt bằng việc ly hôn sẽ phát sinh quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba. Thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân các cấp cho thấy, chưa có sự thống nhất trong việc áp dụng pháp luật về quyền tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba cũng như nghĩa vụ của họ đối với người khác. Do đó, cần có cách hiểu và vận dụng được thống nhất.

1. Quy định quyền, nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba khi ly hôn

1.1. Quyền về tài sản của vợ chồng trong trường hợp họ sống chung cùng với gia đình

Tài sản của vợ chồng được xác định căn cứ vào nguồn gốc tài sản và thời kỳ hôn nhân[1]. Khi hôn nhân được xác lập, vợ chồng có thể cùng nhau sống riêng hoặc sống chung với gia đình bên chồng hoặc bên vợ. Trong quá trình sống chung đó, vợ chồng sẽ có khả năng cùng với gia đình tạo lập được khối tài sản chung. Khối tài sản chung này có thể xác định được theo phần. Về bản chất, đây là trường hợp vợ chồng đã có quyền đối với tài sản khi sống chung với gia đình. Do đó, pháp luật đã dự định hai trường hợp phát sinh như sau:

Thứ nhất, tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được. Theo quy định của pháp luật, trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình bên vợ hoặc bên chồng mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp đối với việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết[2].

Thứ hai, tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần. Theo quy định của pháp luật, trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần, thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định của pháp luật[3]. Theo đó, việc phân chia phải đảm bảo các nguyên tắc như: Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố khác, tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được hiện vật thì chia theo giá trị hoặc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình[4]. Để phân chia tài sản, thì đầu tiên phải xác định phần quyền của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình, sau đó mới tiến hành phân chia.

1.2. Quyền về tài sản của vợ chồng đưa vào kinh doanh

Hoạt động sản xuất, kinh doanh của gia đình được thể hiện thông qua việc tổ chức tham gia hoạt động sản xuất, kinh doanh chung của gia đình. Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề pháp luật không cấm. Điều này đã được khẳng định tại Điều 33 Hiến pháp năm 2013. Khoản 1 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định, hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn. Xuất phát từ các quy định trên cho thấy, trước khi mối quan hệ hôn nhân được xác lập thì nam, nữ thực hiện hoạt động kinh doanh một cách riêng lẻ, tuy nhiên, sau khi kết hôn, quyền tự do kinh doanh của nam, nữ có thể mang danh nghĩa vợ chồng. Mối quan hệ vợ chồng có thể chấm dứt bằng sự kiện ly hôn, điều này đặt ra vấn đề cần được giải quyết là quyền tài sản của vợ chồng được xác định như thế nào khi tài sản đã đưa vào kinh doanh. Theo quy định của pháp luật, vợ chồng đang thực hiện hoạt động kinh doanh liên quan đến tài sản chung có quyền được nhận tài sản đó và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản mà họ được hưởng, trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác. Trên thực tế, vợ chồng có thể thành lập, góp vốn vào doanh nghiệp để kinh doanh. Đặt trong bối cảnh đó, sẽ đặt ra nghĩa vụ của người thứ ba (doanh nghiệp) đối với vợ chồng liên quan đến phần vốn của họ trong doanh nghiệp đó[5].

1.3. Nghĩa vụ thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình

Theo quy định của pháp luật, “nhu cầu thiết yếu là nhu cầu sinh hoạt thông thường về ăn, mặc, ở, học tập, khám bệnh, chữa bệnh và nhu cầu sinh hoạt thông thường khác không thể thiếu cho cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình”[6]. Khi xác lập mối quan hệ hôn nhân, vợ chồng có sự gắn kết rất chặt chẽ với nhau trong các lĩnh vực về nhân thân và tài sản theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Tuy nhiên, vợ chồng lúc này vẫn có tư cách độc lập của riêng mình trong các mỗi quan hệ xã hội. Do đó, đối với những giao dịch dân sự do một bên vợ chồng xác lập, về cơ bản, vợ chồng phải chịu trách nhiệm riêng đối với những nghĩa vụ phát sinh từ các giao dịch này. Nhưng bên cạnh đó, xuất phát từ mục đích xây dựng, chăm sóc gia đình của việc kết hôn, pháp luật đã quy định một trường hợp ngoại lệ làm phát sinh trách nhiệm liên đới của hai vợ chồng, đó là việc một bên vợ chồng xác lập giao dịch dân sự nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình: “Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện” quy định tại khoản 1 Điều 30 hoặc “... giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các Điều 24, 25 và 26 của Luật Hôn nhân và gia đình”; “Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình”; “Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây: …Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình”; “Vợ, chồng có các nghĩa vụ riêng về tài sản sau đây: …Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập, thực hiện không vì nhu cầu của gia đình”[7]. Nói cách khác, đối với những giao dịch dân sự nhằm mục đích phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của gia đình, một bên vợ chồng được tự mình xác lập giao dịch. Trong trường hợp này, bên vợ chồng xác lập giao dịch được xem là đang đại diện cho cả hai vợ chồng trong mối quan hệ đó.

1.4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc định đoạt tài sản chung của vợ chồng

Theo quy định của pháp luật, về nguyên tắc, việc định đoạt tài sản chung sẽ do vợ chồng thỏa thuận. Sự thỏa thuận đó có thể được thực hiện bằng văn bản, lời nói hoặc bằng hành vi cụ thể. Cá biệt, đối với các tài sản gồm: (i) Bất động sản; (ii) Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu; (iii) Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình, thì việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng. Đồng thời, pháp luật cũng đưa ra nguyên tắc nếu giao dịch do một bên xác lập, thực hiện không vì nhu cầu của gia đình, thì được xem là nghĩa vụ riêng của người đã xác lập, thực hiện giao dịch đó[8]. Như vậy, về nguyên tắc, việc định đoạt tài sản chung đối với các bất động sản cũng như động sản phải đăng ký phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng. Đối với tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình, pháp luật không có sự giải thích, tuy nhiên, theo nguyên tắc loại trừ, có thể đây là các động sản không cần phải đăng ký nhưng đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình.

Khi vợ, chồng định đoạt tài sản chung sẽ dẫn đến phát sinh quyền lợi của bên thứ ba. Theo quy định của pháp luật, trong trường hợp vợ hoặc chồng có tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản tự mình xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch với người thứ ba trái với quy định về đại diện giữa vợ và chồng của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì giao dịch đó vô hiệu, trừ trường hợp theo quy định của pháp luật mà người thứ ba ngay tình được bảo vệ quyền lợi[9].

2. Thực tiễn giải quyết quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba khi ly hôn

Một là, đối với quyền về tài sản của vợ chồng trong trường hợp sống chung với gia đình. Trên thực tế, việc phân chia tài sản chung của vợ chồng liên quan đến khối tài sản chung của gia đình cha mẹ chồng hoặc cha mẹ vợ luôn là công việc khác nhau. Pháp luật quy định, vợ chồng có phần quyền trong trường hợp sống chung với gia đình nhưng không hướng dẫn cụ thể như thế nào là sống chung. Việc sống chung đó có nhất thiết ở chung thường xuyên một nhà hay không? Chính vì không quy định cụ thể, nên trong thực tiễn, đã có nhiều cách hiểu khác nhau khi thực hiện xét xử, khiến việc giải quyết chưa thống nhất.

Hai là, đối với tài sản của vợ chồng đưa vào kinh doanh. Thực tiễn xét xử cho thấy, cách phân chia tài sản chung đôi khi có sự khác nhau. Tuy nhiên, nhiều bản án cũng không nhận định rõ có sự thỏa thuận bằng văn bản trong trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về việc một bên đưa tài sản chung vào kinh doanh thì người này có quyền tự mình thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung đó theo như quy định tại Điều 36 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Bởi lẽ, khi đánh giá được vấn đề này thì sẽ đánh giá được việc thực hiện hoạt động kinh doanh có hướng tới mục đích chung của vợ chồng hay không cũng như làm cơ sở xác định công sức đóng góp của các bên khi phân chia tài sản, chính vì sự đánh giá chưa rõ ràng nên dẫn đến tranh chấp kéo dài.

Ba là, đối với nghĩa vụ thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình. Thực tiễn vẫn còn có cách xác định khác nhau về phạm vi khái niệm “nhu cầu thiết yếu của gia đình” và xác định giao dịch dân sự nhằm phục vụ nhu cầu thiết yếu của gia đình. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chưa giải thích cho phạm vi áp dụng khái niệm “nhu cầu thiết yếu của gia đình” một cách rõ ràng, gây khó khăn trong việc áp dụng. Cụ thể, nếu giao dịch dân sự do một bên vợ chồng thiết lập không nhằm mục đích trực tiếp đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của gia đình mà chỉ để tạo ra những công cụ hỗ trợ cho việc đáp ứng các nhu cầu thiết yếu thì có phát sinh trách nhiệm liên đới của vợ chồng hay không. Nói cách khác, trong trường hợp này, một bên vợ chồng có quyền đại diện cho bên còn lại để xác lập các giao dịch dân sự hay không?

Bốn là, đối với nghĩa vụ phát sinh từ việc định đoạt tài sản chung của vợ chồng. Bộ luật Dân sự và các luật chuyên ngành đã quy định rõ về đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản để xác định chủ sở hữu hoặc chủ sử dụng tài sản. Tài sản chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên cả vợ và chồng. Tuy nhiên, thực tế vẫn còn nhiều trường hợp có những tài sản là tài sản chung của vợ chồng nhưng trong giấy chứng nhận quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng chỉ ghi tên của một bên[10]. Do đó, việc xác định người còn lại có được định đoạt đối với tài sản đó hay không cũng gặp nhiều khó khăn. Theo quy định tại Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, thì việc định đoạt tài sản là bất động sản phải có sự đồng ý bằng văn bản của vợ, chồng nhưng không đề cập đến việc trong trường hợp vợ, chồng đang có nghĩa vụ đối với người thứ ba thì có cần sự đồng ý của người thứ ba khi vợ chồng định đoạt tài sản hay không[11]. Ngoài ra, cũng theo quy định tại Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng khi là: “Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình”. Đồng thời, theo quy định tại Điều 32 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, trong giao dịch với người thứ ba ngay tình, thì vợ, chồng là người đứng tên tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán được coi là người có quyền xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản đó. Trong giao dịch với người thứ ba ngay tình thì vợ, chồng đang chiếm hữu động sản mà theo quy định của pháp luật không phải đăng ký quyền sở hữu được coi là người có quyền xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản đó trong trường hợp Bộ luật Dân sự có quy định về việc bảo vệ người thứ ba ngay tình. Vậy giả sử, gia đình đó có một khoản tiền lớn gửi trong ngân hàng, đứng tên một bên vợ hoặc chồng, lãi từ tiền gửi hiện đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình. Người đứng tên trên tài khoản tự mình xác lập giao dịch được coi là trường hợp giao dịch với người thứ ba ngay tình hay trường hợp phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng? Hay như trong trường hợp động sản có đăng ký quyền sở hữu khi định đoạt phải có sự đồng ý bằng văn bản của vợ, chồng. Nhưng ở trường hợp một gia đình có nhiều vàng, đá quý có giá trị lớn, phát sinh trong thời kỳ hôn nhân. Một bên đưa ra giao dịch với bên thứ ba, thì căn cứ theo quy định của Điều 32 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nêu trên, giao dịch đó có hiệu lực. Vậy vấn đề bảo đảm quyền và lợi ích của bên kia sẽ như thế nào?

3. Một số kiến nghị

Từ những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn ở trên, tác giả đề xuất một số kiến nghị sau đây:

(i) Tòa án nhân dân tối cao cần phải hướng dẫn rõ đối với việc giải quyết quyền về tài sản của vợ chồng trong trường hợp sống chung với gia đình.

(ii) Điều 36 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cần được sửa đổi, bổ sung và quy định rõ mục đích kinh doanh theo hướng trong trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về việc một bên đưa tài sản chung vào kinh doanh riêng, thì người này có quyền tự mình thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung đó. Thỏa thuận này phải lập thành văn bản.

(iii) Khoản 1 Điều 30 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cần bổ sung quy định về đại diện giữa vợ và chồng trong việc xác lập giao dịch dân sự vì nhu cầu thiết yếu của gia đình theo hướng vợ chồng không còn sống chung, nhưng một bên thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, thì bên còn lại vẫn phải có trách nhiệm liên đới.

(iv) Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cần quy định việc định đoạt tài sản chung của vợ chồng không cần phải có sự đồng ý của người thứ ba, nếu có tranh chấp về nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng, thì được giải quyết theo Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Ngoài ra, Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cần loại trừ trường hợp quy định tại Điều 32 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để có cách hiểu thống nhất.

Nguyễn Thị Thu Trang

ThS. Châu Thanh Quyền

Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang



[1]. Nguyễn Thị Lan (2012), “Một số vấn đề về hợp đồng mua bán tài sản thuộc quyền sở hữu của vợ chồng”, Luật học, (8), tr.8-16.

[2]. Khoản 1 Điều 61 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3]. Điều 59 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4]. Khoản 2 Điều 61 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[5]. Điều 64 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[6]. Khoản 20 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[7]. Điều 27; khoản 1 Điều 30; các khoản 1, 2 Điều 37; khoản 3 Điều 45 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[8]. Điều 35, khoản 3 Điều 45 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[9]. Khoản 2 Điều 26 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[10]. Ngô Thị Hường (2008), “Đăng ký quyền sở hữu tài sản và việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng”, Luật học, (10), tr.22-28.

[11]. Kết quả nghiên cứu cho thấy, phần lớn các gia đình người chồng vẫn là người có quyền quyết định đối với việc mua bán, chuyển nhượng nhà đất của gia đình (xem Lê Thị Hồng Hải, Phạm Thanh Vân (2012), “Quyền quyết định đối với nhà, đất ở của vợ và chồng trong gia đình hiện nay (qua cuộc khảo sát tại thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc)”, Nghiên cứu gia đình và giới, (5), tr.54-64).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.

Theo dõi chúng tôi trên: