Thứ ba 25/08/2026 02:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quyền về lối đi qua bất động sản liền kề - Thực trạng và kiến nghị

Luật cũng có quy định về việc mở lối đi phải thuận tiện và hợp lý nhất nhưng trong Bộ luật Dân sự năm 2015 lại không quy định diện tích cụ thể hay giới hạn mức tối thiểu, tối đa, lối đi được mở phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt đời sống hàng ngày hay trong sản xuất, kinh doanh. Vì vậy, khi tính toán đến việc mở lối đi qua thì cần dựa trên nguyên tắc sự thỏa thuận giữa các bên sao cho hài hòa và cân bằng được lợi ích, tránh xung đột.

1. Những vấn đề chung về quyền về lối đi qua bất động sản liền kề
1.1. Điều kiện áp dụng
Thứ nhất, theo quy định tại Điều 254 Bộ luật Dân sự năm 2015 về quyền về lối đi qua thì không giải thích như thế nào được hiểu là vây bọc. Tuy nhiên, hiểu theo nghĩa thông thường, bất động sản bị vây bọc tức là có một hay nhiều bất động sản bao quanh liền kề mà không thể thông thương ra đường công cộng, gây bất lợi cho việc khai thác và sử dụng bất động sản bị vây bọc.
Thứ hai, bất động sản bị vây bọc không có lối đi hoặc lối đi không đủ cho việc thông thương ra đường công cộng khi xung quanh không có bất kỳ lối đi nào hoặc lối đi không đủ tức là có lối đi nhưng không đủ diện tích để lưu thông ra đường công cộng, dẫn đến ảnh hưởng bất lợi trong việc khai thác và sử dụng bất động sản bị vây bọc thì có quyền yêu cầu chủ sở hữu của các bất động sản vây bọc mở lối đi qua.
Luật cũng có quy định về việc mở lối đi phải thuận tiện và hợp lý nhất nhưng trong Bộ luật Dân sự năm 2015 lại không quy định diện tích cụ thể hay giới hạn mức tối thiểu, tối đa, lối đi được mở phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt đời sống hàng ngày hay trong sản xuất, kinh doanh. Vì vậy, khi tính toán đến việc mở lối đi qua thì cần dựa trên nguyên tắc sự thỏa thuận giữa các bên sao cho hài hòa và cân bằng được lợi ích, tránh xung đột.
Về vấn đề đền bù cho chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định, người có bất động sản hưởng quyền phải trả cho người có bất động sản chịu hưởng quyền trong trường hợp được mở lối đi qua, tuy nhiên, Bộ luật lại không quy định về thời gian cũng như phương thức đền bù là bằng tiền hay bằng hiện vật.
1.2. Căn cứ xác lập
Căn cứ xác lập quyền đối với bất động sản liền kề được quy định cụ thể tại Điều 246 Bộ luật Dân sự năm 2015 là “do địa thế tự nhiên, theo quy định của luật, theo thỏa thuận hoặc theo di chúc”.
Trong trường hợp địa thế tự nhiên phân tầng gây đứt gãy, chia cắt được cấu trúc bởi địa hình thì bất động sản bị vây bọc được quyền mở lối đi qua thông thương ra đường công cộng.
Theo quy định tại Điều 254 Bộ luật Dân sự năm 2015, nếu chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền bị vây bọc không có lối đi thông thương ra đường công cộng hoặc lối đi không đủ thì có quyền yêu cầu người sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền mở một lối đi thông ra đường công cộng trên cơ sở thỏa thuận giữa hai bên.
Xác lập theo thỏa thuận là do trong trường hợp này giữa hai bên (bên hưởng quyền và bên chịu hưởng quyền), không có ai phải bắt buộc hay gượng ép người kia mà phải trên cơ sở đồng thuận và cân bằng lợi ích của nhau. Nếu trong trường hợp hai bên không thể thỏa thuận thì có thể yêu cầu Tòa án, cơ quan có thẩm quyền xem xét giải quyết.
Về xác lập theo di chúc, nếu chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền có để lại di chúc cho người hưởng tài sản quyền về lối đi qua thì chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền phải tôn trọng quyền này đối với người được nhận thừa kế.
1.3. Căn cứ chấm dứt
Căn cứ chấm dứt quyền về lối đi qua được quy định cụ thể tại Điều 256 Bộ luật Dân sự năm 2015, theo đó:
- Bất động sản hưởng quyền và bất động sản chịu hưởng quyền đều cùng một chủ sở hữu thì việc yêu cầu mở lối đi qua không còn ý nghĩa;
- Việc sử dụng, khai thác bất động sản bị vây bọc không còn làm phát sinh nhu cầu hưởng quyền thì quyền về lối đi qua cũng chấm dứt;
- Theo thỏa thuận phát sinh khác của các bên;
- Trường hợp khác theo quy định của luật.
1.4. Chuyển quyền về lối đi qua
Theo quy định tại Điều 245 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì quyền đối với bất động sản liền kề là quyền được thực hiện trên một bất động sản nhằm phục vụ cho việc khai thác một bất động sản khác thuộc quyền sở hữu của người khác. Quyền này gắn với hai bất động sản là bất động sản bị vây bọc và bất động sản vây bọc hay còn gọi là bất động sản liền kề và sẽ không mất đi mà chuyển từ chủ sở hữu cũ sang chủ sở hữu mới khi chủ sở hữu thực hiện quyền định đoạt hoặc phát sinh giao dịch dân sự.
2. Thực trạng áp dụng quy định pháp luật về quyền về lối đi qua bất động sản liền kề
2.1. Quyền mở lối đi thuận tiện, hợp lý
Theo khoản 1 điều 254 Bộ luật Dân sự năm 2015, chủ sở hữu có bất động sản bị vây bọc nếu không có hoặc không đủ lối đi ra đường công cộng thì có quyền yêu cầu các chủ sở hữu bất động sản vây bọc mở cho mình một lối đi phù hợp ra đường công cộng. Đồng thời, việc mở lối đi trên bất động sản liền kề nào mà được coi là “thuận tiện và hợp lý nhất”, nhưng hiện tại, chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể thế nào là “thuận tiện và hợp lý nhất” nên khi theo ý chí của các chủ sở hữu thì khó tránh khỏi việc phát sinh các tranh chấp từ việc xác định này.
Việc xác định vị trí, chiều dài, chiều rộng, chiều cao của lối đi do các bên tự thỏa thuận, bảo đảm thuận tiện cho việc đi lại và ít gây phiền hà cho các bên. Chủ sở hữu bất động sản vây bọc hay bất động sản liền kề đều có sự tự bảo vệ quyền của mình trên tài sản sở hữu mà từ đó tư duy và nhận thức khó hòa hợp trên tinh thần “tình làng nghĩa xóm” mà thực tế ai cũng cho rằng theo mình là hợp lý, dẫn đến tình trạng tranh chấp phát sinh. Hiện tại chưa có văn bản quy định về diện tích tối thiểu và tối đa cho lối đi, vì vậy, theo quy định tại khoản 2 Điều 254 Bộ luật Dân sự năm 2015, “nếu có tranh chấp về lối đi thì có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định”. Tuy nhiên, do chưa có văn bản quy định cụ thể về diện tích lối đi nên chưa có sự thống nhất trong giải quyết tranh chấp của Tòa án, cơ quan có thẩm quyền.
Về trường hợp “không đủ lối đi” cũng gặp không ít khó khăn trong công tác triển khai và áp dụng trong thực tế bởi như thế nào là đủ và như thế nào là không đủ? Căn cứ xác định trong trường hợp này từ đâu? Trong điều kiện địa hình và đặc điểm địa lý khác nhau thì có lối đi sao cho phù hợp cũng là vấn đề cần được quan tâm.
Theo quy định thì “lối đi” theo Điều 254 Bộ luật Dân sự năm 2015 được hiểu là lối đi dành cho người, phương tiện giao thông, gia súc và vật nuôi... đáp ứng nhu cầu sinh hoạt trong cuộc sống hàng ngày. Vậy, trường hợp đất hoang hóa, đồi núi, mới khai hoang hoặc trong khai thác kinh doanh của các cơ sở kinh doanh, sản xuất thì lối đi chưa có quy định cụ thể.
Trong thực tiễn phát sinh trường hợp: Bất động sản bị vây bọc bởi nhiều bất động sản liền kề với nhiều chủ sở hữu khác nhau và phía trước, phía sau đều có thể mở lối đi ra đường công cộng, nhưng mở phía sau thì phải đi qua hai bất động sản liền kề và chỉ ra đường nhỏ, tiện ích kém, còn mở phía trước thì chỉ qua một bất động sản liền kề và sẽ thông thương ra quốc lộ, tiện ích cao hơn. Tuy nhiên, hiện tại, Điều 254 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định mở sao cho thuận tiện và hợp lý nhất nhưng lại chưa có quy định là ưu tiên sự thuận tiện về lợi ích khai thác bất động sản vây bọc hay ưu tiên chi phí vì khi qua hai bất động sản thường sẽ mất nhiều chi phí đền bù hơn khi qua một bất động sản, do đó, dễ phát sinh tranh chấp trong trường hợp này.
2.2. Quy định về đền bù
Chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền hay bất động sản bị vây bọc khi được mở lối đi qua phải đền bù cho chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền hay bất động sản liền kề trong trường hợp mở lối đi qua. Tuy nhiên, hiện nay, chưa có quy định về giá đất cụ thể là theo giá đất của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hay theo giá thị trường bất động sản, trong khi đó, chủ sở hữu hưởng quyền thì muốn theo giá của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh còn bên chịu hưởng quyền lại muốn theo giá thị trường vì giá thị trường luôn cao hơn nên khó tránh khỏi việc xung đột lợi ích.
Việc mức đền bù cũng chưa được quan tâm trong trường hợp này, mức đền bù như thế nào là hợp lý, nếu không đền bù thì có được không, thời gian đền bù là bao lâu và chế tài như thế nào? Đây là bất cập trong thực tiễn cần được xem xét sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.
2.3. Quy định về thay đổi việc thực hiện quyền
Điều 249 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định như sau: “Trường hợp có sự thay đổi về sử dụng, khai thác bất động sản chịu hưởng quyền dẫn đến thay đổi việc thực hiện quyền đối với bất động sản hưởng quyền thì chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền phải thông báo trước cho chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền trong một thời hạn hợp lý. Chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền phải tạo điều kiện thuận lợi cho chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền phù hợp với thay đổi này”. Trong thực tiễn, khi chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền thay đổi về kết cấu, hình thái, cơ sở hạ tầng trên bất động sản chịu hưởng quyền với mục đích cá nhân về kinh doanh, mua bán, tặng cho, thừa kế… trong đó có gắn với phần bất động sản chịu hưởng quyền thì đối với các thay đổi không cần thiết và ảnh hưởng tiêu cực đến bất động sản hưởng quyền, bên bất động sản hưởng quyền có được quyền yêu cầu bên kia thay đổi sao cho phù hợp và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực này hay không? Thời hạn hợp lý để bên bất động sản chịu hưởng quyền thông báo đến chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền cụ thể là bao lâu? Nếu chủ sở hữu chịu hưởng quyền không thông báo mà thay đổi gây ảnh hưởng tiêu cực và có thiệt hại cho bên hưởng quyền thì có bị chế tài hay không, hình thức chế tài như thế nào và trong trường hợp không có thông báo và cũng không có ảnh hưởng gì đến bên hưởng quyền thì có phải chịu trách nhiệm gì không?
3. Một số kiến nghị
Thứ nhất, cần ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết quy định về lối đi thuận tiện và hợp lý nhất, không đủ lối đi, diện tích tối đa và tối thiểu cho lối đi trong sinh hoạt và sản xuất, kinh doanh phù hợp với địa hình, vùng miền cụ thể để có căn cứ xác định trong xử lý vi phạm và tranh chấp phát sinh, đồng thời, giúp Tòa án và các cơ quan có thẩm quyền ra quyết định thống nhất.
Thứ hai, về việc thực hiện đền bù cho bên chịu hưởng quyền, cần quy định rõ về thời gian thực hiện đền bù, cụ thể, bên hưởng quyền chỉ thực hiện đền bù cho bên chịu hưởng quyền trong trường hợp lối đi qua đã được mở để tránh tình trạng sau khi đã đền bù nhưng lối đi qua vẫn chưa được mở. Về xác định giá đền bù trong trường hợp này nên dựa vào giá của thị trường tại thời điểm thỏa thuận, bởi lẽ, bên hưởng quyền khi được mở lối đi qua trên bất động sản liền kề sẽ khai thác được công năng sử dụng và sinh lợi từ bất động sản bị vây bọc trước đó, trong khi bên chịu hưởng quyền có thể bị ảnh hưởng tiêu cực hoặc hạn chế đến hoạt động khai thác bất động sản còn lại nên nhìn chung họ vẫn là bên yếu thế, cần được ưu tiên. Bên cạnh đó, nên ban hành quy định chế tài về việc bên hưởng quyền không thực hiện đền bù và quy định thời hạn cụ thể từ thời điểm hai bên thỏa thuận thống nhất nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở bất động sản chịu hưởng quyền.
Thứ ba, quy định cụ thể về thời gian thông báo cho bên kia và chế tài khi người có bất động sản chịu hưởng quyền thay đổi về việc thực hiện quyền, thay đổi kết cấu, hình thái… bất động sản để phục vụ đời sống nhằm nâng cao trách nhiệm của bên có bất động sản chịu hưởng quyền mà từ đó có phương án thay thế hoặc thỏa thuận kịp thời.
Thứ tư, cần nâng cao kỹ năng xác định và đánh giá đúng về bản chất sự việc của Tòa án và cơ quan có thẩm quyền theo quy định khi chưa có văn bản hướng dẫn. Việc xem xét và ra quyết định thống nhất cần công tâm để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.

Lữ Văn Mới
Công ty Tài chính cổ phần Tín Việt

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: