Chủ nhật 16/08/2026 05:49
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Rủi ro pháp lý đối với góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ và giải pháp phòng ngừa

Tóm tắt: Quyền sở hữu trí tuệ không chỉ đơn thuần là các quyền dân sự, mà còn là một loại tài sản đặc biệt và có giá trị to lớn trong nền kinh tế tri thức hiện nay. Xuất phát từ các đặc trưng của loại tài sản này mà việc góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ

Rủi ro pháp lý đối với góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ và giải pháp phòng ngừa

Tóm tắt: Quyền sở hữu trí tuệ không chỉ đơn thuần là các quyền dân sự, mà còn là một loại tài sản đặc biệt và có giá trị to lớn trong nền kinh tế tri thức hiện nay. Xuất phát từ các đặc trưng của loại tài sản này mà việc góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ cũng có những điểm riêng biệt và gặp phải nhiều rủi ro pháp lý hơn so với góp vốn bằng các loại tài sản thông thường khác.

Abstract: Intellectual property right is not merely civil right, but also a special property and has great value in the current intellectual economy. From characteristics of this property kind, the company capital contribution by intellectual property also has special points and faces many legal risks more than the capital contribution by other ordinary properties.

1. Đặc trưng của góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ

Thứ nhất, đối tượng của góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) là một loại tài sản vô hình. Do đó, đối với quyền SHTT, không giống như các loại tài sản hữu hình sử dụng để góp vốn, quyền sở hữu loại tài sản này không mang tính tuyệt đối. Bên cạnh các chủ sở hữu quyền SHTT, các chủ thể được chủ sở hữu cho phép sử dụng quyền SHTT, thì các tổ chức, cá nhân khác trong một số trường hợp vẫn được phép sử dụng mà không cần có sự đồng ý của chủ sở hữu loại tài sản này. Vì vậy, đối với loại tài sản này, chủ sở hữu chỉ có quyền chiếm hữu về mặt pháp lý mà không thể chiếm hữu về mặt thực tế. Bên cạnh đó, nếu như sử dụng các loại tài sản khác để góp vốn thì giá trị tài sản sẽ thường bị giảm sút theo thời gian do sự hao mòn về đặc tính vật lý của đối tượng. Tuy nhiên, đối với quyền SHTT dùng để góp vốn, thì đây là loại tài sản không bị hao mòn theo thời gian sử dụng mà giá trị tăng hay giảm của loại tài sản này phụ thuộc vào hoạt động kinh doanh của công ty.

Thứ hai, chủ thể sử dụng quyền SHTT để góp vốn phải là chủ sở hữu quyền SHTT. Tuy nhiên, nếu như đối với các loại tài sản khác, thông thường chỉ có một chủ sở hữu, thì đối với cùng một đối tượng của quyền SHTT có thể có rất nhiều các chủ sở hữu. Người nắm giữ một trong số các quyền tài sản thì được xác định là chủ sở hữu quyền SHTT. Ví dụ, đối với cùng một tác phẩm nhưng sẽ có các chủ sở hữu các quyền tài sản như sao chép tác phẩm, quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng, quyền làm tác phẩm phái sinh, quyền truyền đạt tác phẩm đến công chúng. Chỉ cần sở hữu một trong các quyền này thì chủ thể đó được xác định là chủ sở hữu quyền SHTT. Bên cạnh đó, đối với cũng một quyền SHTT nhưng ở các phạm vi không gian khác nhau, thì có thể có nhiều chủ sở hữu khác nhau.

Thứ ba, góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT bị giới hạn phạm vi về thời gian, không gian góp vốn. Sở dĩ như vậy là vì quyền SHTT bị giới hạn về không gian và thời gian bảo hộ. Đối với hầu hết các tài sản hữu hình, pháp luật không quy định giới hạn về thời hạn sở hữu đối với tài sản đó, nhưng tài sản thuộc quyền SHTT thì pháp luật chỉ ghi nhận quyền sở hữu trong một thời hạn nhất định. Bên cạnh giới hạn về thời gian, góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT còn bị giới hạn bởi phạm vi không gian. Quyền SHTT chỉ được ghi nhận và bảo hộ trong phạm vi một quốc gia hoặc một số quốc gia.

Thứ tư, đối tượng của quyền SHTT sử dụng để góp vốn thành lập công ty bị giới hạn bởi hoạt động và lĩnh vực kinh doanh của công ty. Khi nhận góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT, các công ty thường hướng tới việc khai thác giá trị của quyền SHTT góp vốn. Mặc dù hầu hết các đối tượng góp vốn của quyền SHTT đều có thể khai thác thương mại, tuy nhiên, khi nhận góp vốn, các chủ thể thường chỉ lựa chọn chấp nhận những đối tượng SHTT phù hợp với hoạt động kinh doanh của công ty. Điều này sẽ giúp cho công ty nhận góp vốn giảm thiểu được những chi phí nhất định cho việc phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh cho công ty ở giai đoạn đầu tiên khi mới thành lập.

Thứ năm, góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT luôn bị hạn chế về tỷ lệ vốn SHTT trong tổng số vốn góp. Vốn SHTT là một phần quan trọng của vốn công ty, nhưng tài sản này chỉ có thể phát huy hiệu quả của nó nếu được phân bổ hợp lý với tài sản hữu hình. Mặc dù góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT là yêu cầu tất yếu trong sự phát triển của nền kinh tế tri thức, tuy nhiên, việc chấp nhận vốn góp bằng loại tài sản này lại tiềm ẩn rất nhiều rủi ro về mặt pháp lý. Do đó, để bảo toàn vốn cũng như bảo vệ lợi ích của các chủ nợ của công ty, một số quốc gia hiện nay có quy định về hạn chế tỷ lệ vốn góp bằng quyền SHTT trong tổng vốn góp. Trong trường hợp pháp luật quốc gia không có quy định về hạn chế số vốn góp bằng quyền SHTT, thì thực tế cho thấy rằng, không có một công ty nào chấp nhận 100% vốn góp là quyền SHTT.

Thứ sáu, góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT thường gặp nhiều rủi ro hơn góp vốn bằng các loại tài sản khác.

2. Rủi ro pháp lý đối với góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ và giải pháp phòng ngừa

Việc nhận góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT cần hết sức thận trọng, bởi lẽ, với những đặc trưng của loại tài sản này mà việc góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT sẽ phải đối diện với những rủi ro pháp lý.

Một là, rủi ro về tính hợp pháp của quyền sở hữu trí tuệ góp vốn

Về nguyên tắc, để sử dụng quyền SHTT góp vốn, chủ thể góp vốn phải là chủ sở hữu hợp pháp của quyền SHTT[1], nếu không, việc góp vốn sẽ không được pháp luật công nhận. Đối với các tài sản hữu hình, điều này gần như không thể xảy ra, nhưng đối với quyền SHTT, do tính chất vô hình của loại tài sản này mà việc một chủ thể không phải là chủ sở hữu hợp pháp quyền SHTT vẫn có thể sử dụng quyền này để góp vốn là điều rất có thể xảy ra trên thực tế. Trường hợp này thường xảy ra đối với các đối tượng mà quyền SHTT không phải xác lập quyền trên cơ sở thủ tục đăng ký bảo hộ tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tuy nhiên, ngay đối với các đối tượng phải đăng ký bảo hộ thì điều này vẫn hoàn toàn có thể xảy ra. Một số trường hợp sau việc góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ sẽ không hợp pháp: (i) Chủ thể sử dụng quyền SHTT góp vốn là chủ thể có được quyền SHTT một cách bất hơp pháp; (ii) Người sáng tạo đối tượng sở hữu trí tuệ trên cơ sở nhiệm vụ được giao hoặc hợp đồng tự ý sử dụng quyền sở hữu trí tuệ đối với đối tượng mình tạo ra để góp vốn; (iii) Một hoặc một số đồng chủ sở hữu sử dụng quyền sở hữu trí tuệ góp vốn để thành lập công ty mà không được sự đồng ý của tất cả các đồng chủ sở hữu; (iv) Chủ thể sử dụng quyền SHTT góp vốn chỉ có quyền sử dụng quyền SHTT mà không có quyền sở hữu.

Ngoài các trường hợp nói trên, cá biệt hơn có thể xảy ra trường hợp, đó là tại thời điểm góp vốn, chủ thể góp vốn vẫn là chủ sở hữu hợp pháp của quyền SHTT nhưng sau đó, văn bằng bảo hộ bị hủy bỏ hiệu lực. Đối với quyền SHTT, văn bằng bảo hộ được xem là sự chứng nhận tư cách hợp pháp của chủ thể quyền SHTT. Tuy nhiên, ngay cả khi một chủ thể đã được cấp văn bằng bảo hộ để chứng nhận quyền sở hữu hợp pháp đối với đối tượng SHTT thì văn bằng bảo hộ vẫn có thể bị hủy bỏ hiệu lực[2]. Điều này đồng nghĩa với việc độc quyền SHTT cũng sẽ bị mất đi. Khi đó, hoặc là đối tượng đó không còn tiếp tục được bảo hộ và bất kỳ một chủ thể nào đều có quyền sử dụng; hoặc là đối tượng đó vẫn tiếp tục được bảo hộ nhưng quyền sở hữu không thuộc về chủ sở hữu trước đó. Cả hai trường hợp này bên nhận góp vốn đều bị ảnh hưởng.

Hai là, rủi ro về giới hạn quyền sở hữu trí tuệ

Ngay cả khi không có tranh chấp về quyền SHTT xảy ra thì góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT vẫn có thể có các rủi ro pháp lý khác. Các quyền SHTT luôn luôn bị giới hạn bởi phạm vi không gian và thời gian[3]. Các quyền này hầu như không được bảo hộ vô thời hạn, cũng như không phải trong tất cả các phạm vi lãnh thổ. Vì vậy, rủi ro sẽ xảy ra nếu quyền SHTT góp vốn đã hết hoặc sắp hết thời hạn bảo hộ hoặc không nằm trong phạm vi lãnh thổ được bảo hộ. Quyền SHTT chỉ bảo hộ độc quyền cho các chủ thể trong một khoảng thời gian nhất định. Hết thời hạn bảo hộ, độc quyền SHTT sẽ không còn và bất kỳ chủ thể nào đều có thể sử dụng quyền SHTT. Bên cạnh đó, quyền SHTT cũng chỉ được bảo hộ trong phạm vi không gian nhất định. Ngoài phạm vi đó, các chủ thể không thể đòi hỏi bất cứ sự bảo vệ nào đối với quyền SHTT.

Ba là, rủi ro về chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ góp vốn

Chuyển nhượng quyền SHTT cho bên nhận góp vốn là nghĩa vụ của chủ thể góp vốn. Tuy nhiên, việc chuyển nhượng quyền SHTT góp vốn phải đảm bảo về mặt hình thức đối với chuyển nhượng quyền SHTT nói chung. Việc chuyển nhượng luôn phải bằng văn bản và một số trường hợp, hợp đồng phải thực hiện đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nếu không tuân theo quy định về hình thức của chuyển nhượng quyền SHTT, việc chuyển nhượng sẽ không có giá trị pháp lý. Điều này đồng nghĩa với việc nghĩa vụ thanh toán của chủ thể góp vốn đã không được thực hiện và bên nhận góp vốn sẽ không xác lập tư cách chủ sở hữu hợp pháp đối với quyền SHTT góp vốn.

Bốn là, rủi ro về định giá quyền sở hữu trí tuệ

Xuất phát từ tính chất độc quyền của quyền SHTT và không có giá trị thống nhất nên giá trị của quyền SHTT cần được đánh giá trong quá trình góp vốn. Tuy nhiên, để tính toán được giá trị quyền SHTT một cách chính xác là điều không hề dễ dàng. Trong quá trình định giá quyền SHTT, giá trị thường bị đánh giá quá cao. Điều này sẽ khiến cho các thành viên, cổ đông sáng lập đối diện với các trách nhiệm pháp lý liên quan đến định giá sai tài sản góp vốn.

Như vậy, việc góp vốn và nhận góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT có thể gặp những rủi ro nhất định. Trên thực tế, ngày càng có nhiều tranh chấp về quyền SHTT, nếu điều này xảy ra, hoạt động của bên nhận góp vốn bằng quyền SHTT sẽ bị ảnh hưởng. Vì vậy, để ngăn chặn các rủi ro có thể xảy ra khi góp vốn và nhận góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT, các bên cần phải lưu ý các vấn đề sau:

Thứ nhất, cần xem xét kỹ về tư cách chủ thể góp vốn đối với quyền sở hữu trí tuệ góp vốn. Điều này có thể thực hiện bằng cách xem lại văn bằng bảo hộ đã được cấp cho các chủ thể đó. Một số trường hợp, có thể phải xem xét lại hợp đồng gốc để xác định đúng tư cách của các chủ thể đối với quyền sở hữu trí tuệ. Đối với các đối tượng không bắt buộc phải đăng ký bảo hộ quyền SHTT tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền như phần mềm máy tính, bản quyền khác thì có thể không có các giấy chứng nhận quyền do cơ quan có thẩm quyền cấp. Điều này sẽ gây trở ngại trong việc xác định về tính hợp pháp của quyền. Vì vậy, đối với trường hợp này, bên nhận góp vốn nên yêu cầu các chủ thể góp vốn phải thực hiện thủ tục đăng ký và cung cấp cho bên nhận góp vốn giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả.

Thứ hai, để tránh các trường hợp quyền SHTT góp vốn bị hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ, bên nhận góp vốn cần xem xét cụ thể các tài liệu, giấy tờ liên quan đến đối tượng của quyền SHTT góp vốn cũng như nắm bắt thêm các thông tin về các đối tượng tương tự, có liên quan với đối tượng của quyền SHTT góp vốn để kiểm tra về tính hợp lệ của văn bằng bảo hộ đã cấp cho đối tượng SHTT.

Thứ ba, xác định đúng thời điểm bắt đầu và kết thúc của thời hạn bảo hộ cũng như phạm vi không gian mà quyền SHTT được bảo hộ. Từ đó, xác định cụ thể phạm vi thời gian và không gian góp vốn bằng quyền SHTT. Việc xác định thời hạn bảo hộ không gặp nhiều khó khăn bởi lẽ thông thường, đối với các đối tượng đã được cấp văn bằng bảo hộ thì thời hạn bảo hộ đã được ghi rõ trong văn bằng bảo hộ.

Thứ tư, nắm rõ các quy định của pháp luật về hình thức chuyển nhượng đối với quyền SHTT cho từng đối tượng SHTT để đảm bảo việc chuyển nhượng tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Đối với chuyển nhượng quyền SHTT góp vốn, ngoài việc tuân thủ các quy định pháp luật doanh nghiệp nói chung về chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn nói chung còn phải tuân theo các quy định của Luật Sở hữu trí tuệ về chuyển nhượng quyền SHTT.

Thứ năm, đối với hoạt động định giá quyền SHTT góp vốn, nên có sự tham gia của tổ chức thẩm định giá và lấy mức giá mà tổ chức thẩm định giá đưa ra để làm căn cứ cho mức thỏa thuận của các chủ thể góp vốn thành lập công ty. Các chủ thể góp vốn thành lập công ty có thể thỏa thuận về mức giá nhưng không nên cao hơn mức giá mà tổ chức thẩm định giá đã đưa ra.

ThS. Nguyễn Thị Phương Thảo

Khoa Luật, Đại học Vinh







[1]. Khoản 2 Điều 35 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

[2]. Điều 96 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009.

[3]. Phạm Văn Tuyết và Lê Kim Giang (2008), “Sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ”, Nxb. Tư pháp, tr. 23 - 30.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Tóm tắt: Chuyển đổi số đặt ra yêu cầu cấp thiết cần đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là đối với các nhóm đối tượng đặc thù có năng lực số hạn chế. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số trên cơ sở chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và yêu cầu của chuyển đổi số; đánh giá thực trạng quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Thông qua trường hợp cảnh báo về “hợp đồng kỳ nghỉ”, nghiên cứu làm rõ những hạn chế trong việc tiếp cận thông tin pháp luật của người cao tuổi trên môi trường số, từ đó, chỉ ra những bất cập của pháp luật hiện hành. Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số.
Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Trong đợt tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật năm 2026 - một nhiệm vụ trọng yếu được triển khai theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới - nguyên tắc “6 rõ” đã được xác lập như một chuẩn mực kỹ thuật và quản trị cốt lõi. Nội dung của nguyên tắc này bao gồm: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền và rõ kết quả.
Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Ngày 30/7 hằng năm được Đại hội đồng Liên hợp quốc chọn là Ngày Thế giới phòng, chống mua bán người (World Day Against Trafficking in Persons) nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về những hậu quả nghiêm trọng của tội phạm mua bán người, đồng thời kêu gọi các quốc gia tăng cường hợp tác, triển khai các giải pháp phòng ngừa, đấu tranh và bảo vệ nạn nhân.

Theo dõi chúng tôi trên: