Thứ bảy 14/03/2026 13:52
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Rủi ro pháp lý đối với góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ và giải pháp phòng ngừa

Tóm tắt: Quyền sở hữu trí tuệ không chỉ đơn thuần là các quyền dân sự, mà còn là một loại tài sản đặc biệt và có giá trị to lớn trong nền kinh tế tri thức hiện nay. Xuất phát từ các đặc trưng của loại tài sản này mà việc góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ

Rủi ro pháp lý đối với góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ và giải pháp phòng ngừa

Tóm tắt: Quyền sở hữu trí tuệ không chỉ đơn thuần là các quyền dân sự, mà còn là một loại tài sản đặc biệt và có giá trị to lớn trong nền kinh tế tri thức hiện nay. Xuất phát từ các đặc trưng của loại tài sản này mà việc góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ cũng có những điểm riêng biệt và gặp phải nhiều rủi ro pháp lý hơn so với góp vốn bằng các loại tài sản thông thường khác.

Abstract: Intellectual property right is not merely civil right, but also a special property and has great value in the current intellectual economy. From characteristics of this property kind, the company capital contribution by intellectual property also has special points and faces many legal risks more than the capital contribution by other ordinary properties.

1. Đặc trưng của góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ

Thứ nhất, đối tượng của góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) là một loại tài sản vô hình. Do đó, đối với quyền SHTT, không giống như các loại tài sản hữu hình sử dụng để góp vốn, quyền sở hữu loại tài sản này không mang tính tuyệt đối. Bên cạnh các chủ sở hữu quyền SHTT, các chủ thể được chủ sở hữu cho phép sử dụng quyền SHTT, thì các tổ chức, cá nhân khác trong một số trường hợp vẫn được phép sử dụng mà không cần có sự đồng ý của chủ sở hữu loại tài sản này. Vì vậy, đối với loại tài sản này, chủ sở hữu chỉ có quyền chiếm hữu về mặt pháp lý mà không thể chiếm hữu về mặt thực tế. Bên cạnh đó, nếu như sử dụng các loại tài sản khác để góp vốn thì giá trị tài sản sẽ thường bị giảm sút theo thời gian do sự hao mòn về đặc tính vật lý của đối tượng. Tuy nhiên, đối với quyền SHTT dùng để góp vốn, thì đây là loại tài sản không bị hao mòn theo thời gian sử dụng mà giá trị tăng hay giảm của loại tài sản này phụ thuộc vào hoạt động kinh doanh của công ty.

Thứ hai, chủ thể sử dụng quyền SHTT để góp vốn phải là chủ sở hữu quyền SHTT. Tuy nhiên, nếu như đối với các loại tài sản khác, thông thường chỉ có một chủ sở hữu, thì đối với cùng một đối tượng của quyền SHTT có thể có rất nhiều các chủ sở hữu. Người nắm giữ một trong số các quyền tài sản thì được xác định là chủ sở hữu quyền SHTT. Ví dụ, đối với cùng một tác phẩm nhưng sẽ có các chủ sở hữu các quyền tài sản như sao chép tác phẩm, quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng, quyền làm tác phẩm phái sinh, quyền truyền đạt tác phẩm đến công chúng. Chỉ cần sở hữu một trong các quyền này thì chủ thể đó được xác định là chủ sở hữu quyền SHTT. Bên cạnh đó, đối với cũng một quyền SHTT nhưng ở các phạm vi không gian khác nhau, thì có thể có nhiều chủ sở hữu khác nhau.

Thứ ba, góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT bị giới hạn phạm vi về thời gian, không gian góp vốn. Sở dĩ như vậy là vì quyền SHTT bị giới hạn về không gian và thời gian bảo hộ. Đối với hầu hết các tài sản hữu hình, pháp luật không quy định giới hạn về thời hạn sở hữu đối với tài sản đó, nhưng tài sản thuộc quyền SHTT thì pháp luật chỉ ghi nhận quyền sở hữu trong một thời hạn nhất định. Bên cạnh giới hạn về thời gian, góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT còn bị giới hạn bởi phạm vi không gian. Quyền SHTT chỉ được ghi nhận và bảo hộ trong phạm vi một quốc gia hoặc một số quốc gia.

Thứ tư, đối tượng của quyền SHTT sử dụng để góp vốn thành lập công ty bị giới hạn bởi hoạt động và lĩnh vực kinh doanh của công ty. Khi nhận góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT, các công ty thường hướng tới việc khai thác giá trị của quyền SHTT góp vốn. Mặc dù hầu hết các đối tượng góp vốn của quyền SHTT đều có thể khai thác thương mại, tuy nhiên, khi nhận góp vốn, các chủ thể thường chỉ lựa chọn chấp nhận những đối tượng SHTT phù hợp với hoạt động kinh doanh của công ty. Điều này sẽ giúp cho công ty nhận góp vốn giảm thiểu được những chi phí nhất định cho việc phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh cho công ty ở giai đoạn đầu tiên khi mới thành lập.

Thứ năm, góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT luôn bị hạn chế về tỷ lệ vốn SHTT trong tổng số vốn góp. Vốn SHTT là một phần quan trọng của vốn công ty, nhưng tài sản này chỉ có thể phát huy hiệu quả của nó nếu được phân bổ hợp lý với tài sản hữu hình. Mặc dù góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT là yêu cầu tất yếu trong sự phát triển của nền kinh tế tri thức, tuy nhiên, việc chấp nhận vốn góp bằng loại tài sản này lại tiềm ẩn rất nhiều rủi ro về mặt pháp lý. Do đó, để bảo toàn vốn cũng như bảo vệ lợi ích của các chủ nợ của công ty, một số quốc gia hiện nay có quy định về hạn chế tỷ lệ vốn góp bằng quyền SHTT trong tổng vốn góp. Trong trường hợp pháp luật quốc gia không có quy định về hạn chế số vốn góp bằng quyền SHTT, thì thực tế cho thấy rằng, không có một công ty nào chấp nhận 100% vốn góp là quyền SHTT.

Thứ sáu, góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT thường gặp nhiều rủi ro hơn góp vốn bằng các loại tài sản khác.

2. Rủi ro pháp lý đối với góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ và giải pháp phòng ngừa

Việc nhận góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT cần hết sức thận trọng, bởi lẽ, với những đặc trưng của loại tài sản này mà việc góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT sẽ phải đối diện với những rủi ro pháp lý.

Một là, rủi ro về tính hợp pháp của quyền sở hữu trí tuệ góp vốn

Về nguyên tắc, để sử dụng quyền SHTT góp vốn, chủ thể góp vốn phải là chủ sở hữu hợp pháp của quyền SHTT[1], nếu không, việc góp vốn sẽ không được pháp luật công nhận. Đối với các tài sản hữu hình, điều này gần như không thể xảy ra, nhưng đối với quyền SHTT, do tính chất vô hình của loại tài sản này mà việc một chủ thể không phải là chủ sở hữu hợp pháp quyền SHTT vẫn có thể sử dụng quyền này để góp vốn là điều rất có thể xảy ra trên thực tế. Trường hợp này thường xảy ra đối với các đối tượng mà quyền SHTT không phải xác lập quyền trên cơ sở thủ tục đăng ký bảo hộ tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tuy nhiên, ngay đối với các đối tượng phải đăng ký bảo hộ thì điều này vẫn hoàn toàn có thể xảy ra. Một số trường hợp sau việc góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ sẽ không hợp pháp: (i) Chủ thể sử dụng quyền SHTT góp vốn là chủ thể có được quyền SHTT một cách bất hơp pháp; (ii) Người sáng tạo đối tượng sở hữu trí tuệ trên cơ sở nhiệm vụ được giao hoặc hợp đồng tự ý sử dụng quyền sở hữu trí tuệ đối với đối tượng mình tạo ra để góp vốn; (iii) Một hoặc một số đồng chủ sở hữu sử dụng quyền sở hữu trí tuệ góp vốn để thành lập công ty mà không được sự đồng ý của tất cả các đồng chủ sở hữu; (iv) Chủ thể sử dụng quyền SHTT góp vốn chỉ có quyền sử dụng quyền SHTT mà không có quyền sở hữu.

Ngoài các trường hợp nói trên, cá biệt hơn có thể xảy ra trường hợp, đó là tại thời điểm góp vốn, chủ thể góp vốn vẫn là chủ sở hữu hợp pháp của quyền SHTT nhưng sau đó, văn bằng bảo hộ bị hủy bỏ hiệu lực. Đối với quyền SHTT, văn bằng bảo hộ được xem là sự chứng nhận tư cách hợp pháp của chủ thể quyền SHTT. Tuy nhiên, ngay cả khi một chủ thể đã được cấp văn bằng bảo hộ để chứng nhận quyền sở hữu hợp pháp đối với đối tượng SHTT thì văn bằng bảo hộ vẫn có thể bị hủy bỏ hiệu lực[2]. Điều này đồng nghĩa với việc độc quyền SHTT cũng sẽ bị mất đi. Khi đó, hoặc là đối tượng đó không còn tiếp tục được bảo hộ và bất kỳ một chủ thể nào đều có quyền sử dụng; hoặc là đối tượng đó vẫn tiếp tục được bảo hộ nhưng quyền sở hữu không thuộc về chủ sở hữu trước đó. Cả hai trường hợp này bên nhận góp vốn đều bị ảnh hưởng.

Hai là, rủi ro về giới hạn quyền sở hữu trí tuệ

Ngay cả khi không có tranh chấp về quyền SHTT xảy ra thì góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT vẫn có thể có các rủi ro pháp lý khác. Các quyền SHTT luôn luôn bị giới hạn bởi phạm vi không gian và thời gian[3]. Các quyền này hầu như không được bảo hộ vô thời hạn, cũng như không phải trong tất cả các phạm vi lãnh thổ. Vì vậy, rủi ro sẽ xảy ra nếu quyền SHTT góp vốn đã hết hoặc sắp hết thời hạn bảo hộ hoặc không nằm trong phạm vi lãnh thổ được bảo hộ. Quyền SHTT chỉ bảo hộ độc quyền cho các chủ thể trong một khoảng thời gian nhất định. Hết thời hạn bảo hộ, độc quyền SHTT sẽ không còn và bất kỳ chủ thể nào đều có thể sử dụng quyền SHTT. Bên cạnh đó, quyền SHTT cũng chỉ được bảo hộ trong phạm vi không gian nhất định. Ngoài phạm vi đó, các chủ thể không thể đòi hỏi bất cứ sự bảo vệ nào đối với quyền SHTT.

Ba là, rủi ro về chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ góp vốn

Chuyển nhượng quyền SHTT cho bên nhận góp vốn là nghĩa vụ của chủ thể góp vốn. Tuy nhiên, việc chuyển nhượng quyền SHTT góp vốn phải đảm bảo về mặt hình thức đối với chuyển nhượng quyền SHTT nói chung. Việc chuyển nhượng luôn phải bằng văn bản và một số trường hợp, hợp đồng phải thực hiện đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nếu không tuân theo quy định về hình thức của chuyển nhượng quyền SHTT, việc chuyển nhượng sẽ không có giá trị pháp lý. Điều này đồng nghĩa với việc nghĩa vụ thanh toán của chủ thể góp vốn đã không được thực hiện và bên nhận góp vốn sẽ không xác lập tư cách chủ sở hữu hợp pháp đối với quyền SHTT góp vốn.

Bốn là, rủi ro về định giá quyền sở hữu trí tuệ

Xuất phát từ tính chất độc quyền của quyền SHTT và không có giá trị thống nhất nên giá trị của quyền SHTT cần được đánh giá trong quá trình góp vốn. Tuy nhiên, để tính toán được giá trị quyền SHTT một cách chính xác là điều không hề dễ dàng. Trong quá trình định giá quyền SHTT, giá trị thường bị đánh giá quá cao. Điều này sẽ khiến cho các thành viên, cổ đông sáng lập đối diện với các trách nhiệm pháp lý liên quan đến định giá sai tài sản góp vốn.

Như vậy, việc góp vốn và nhận góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT có thể gặp những rủi ro nhất định. Trên thực tế, ngày càng có nhiều tranh chấp về quyền SHTT, nếu điều này xảy ra, hoạt động của bên nhận góp vốn bằng quyền SHTT sẽ bị ảnh hưởng. Vì vậy, để ngăn chặn các rủi ro có thể xảy ra khi góp vốn và nhận góp vốn thành lập công ty bằng quyền SHTT, các bên cần phải lưu ý các vấn đề sau:

Thứ nhất, cần xem xét kỹ về tư cách chủ thể góp vốn đối với quyền sở hữu trí tuệ góp vốn. Điều này có thể thực hiện bằng cách xem lại văn bằng bảo hộ đã được cấp cho các chủ thể đó. Một số trường hợp, có thể phải xem xét lại hợp đồng gốc để xác định đúng tư cách của các chủ thể đối với quyền sở hữu trí tuệ. Đối với các đối tượng không bắt buộc phải đăng ký bảo hộ quyền SHTT tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền như phần mềm máy tính, bản quyền khác thì có thể không có các giấy chứng nhận quyền do cơ quan có thẩm quyền cấp. Điều này sẽ gây trở ngại trong việc xác định về tính hợp pháp của quyền. Vì vậy, đối với trường hợp này, bên nhận góp vốn nên yêu cầu các chủ thể góp vốn phải thực hiện thủ tục đăng ký và cung cấp cho bên nhận góp vốn giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả.

Thứ hai, để tránh các trường hợp quyền SHTT góp vốn bị hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ, bên nhận góp vốn cần xem xét cụ thể các tài liệu, giấy tờ liên quan đến đối tượng của quyền SHTT góp vốn cũng như nắm bắt thêm các thông tin về các đối tượng tương tự, có liên quan với đối tượng của quyền SHTT góp vốn để kiểm tra về tính hợp lệ của văn bằng bảo hộ đã cấp cho đối tượng SHTT.

Thứ ba, xác định đúng thời điểm bắt đầu và kết thúc của thời hạn bảo hộ cũng như phạm vi không gian mà quyền SHTT được bảo hộ. Từ đó, xác định cụ thể phạm vi thời gian và không gian góp vốn bằng quyền SHTT. Việc xác định thời hạn bảo hộ không gặp nhiều khó khăn bởi lẽ thông thường, đối với các đối tượng đã được cấp văn bằng bảo hộ thì thời hạn bảo hộ đã được ghi rõ trong văn bằng bảo hộ.

Thứ tư, nắm rõ các quy định của pháp luật về hình thức chuyển nhượng đối với quyền SHTT cho từng đối tượng SHTT để đảm bảo việc chuyển nhượng tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Đối với chuyển nhượng quyền SHTT góp vốn, ngoài việc tuân thủ các quy định pháp luật doanh nghiệp nói chung về chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn nói chung còn phải tuân theo các quy định của Luật Sở hữu trí tuệ về chuyển nhượng quyền SHTT.

Thứ năm, đối với hoạt động định giá quyền SHTT góp vốn, nên có sự tham gia của tổ chức thẩm định giá và lấy mức giá mà tổ chức thẩm định giá đưa ra để làm căn cứ cho mức thỏa thuận của các chủ thể góp vốn thành lập công ty. Các chủ thể góp vốn thành lập công ty có thể thỏa thuận về mức giá nhưng không nên cao hơn mức giá mà tổ chức thẩm định giá đã đưa ra.

ThS. Nguyễn Thị Phương Thảo

Khoa Luật, Đại học Vinh







[1]. Khoản 2 Điều 35 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

[2]. Điều 96 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009.

[3]. Phạm Văn Tuyết và Lê Kim Giang (2008), “Sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ”, Nxb. Tư pháp, tr. 23 - 30.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: