Thứ tư 21/01/2026 14:15
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Sửa đổi cấu trúc của Luật Thương mại năm 2005 trong bối cảnh hiện nay

Luật Thương mại được ban hành năm 2005 đã khẳng định vai trò quan trọng về chính trị, kinh tế, xã hội, góp phần thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển nền kinh tế nói chung và xây dựng chính sách, pháp luật thương mại tạo điều kiện phát triển thị trường hàng hóa và dịch vụ nói riêng; tạo hành lang pháp lý cụ thể hóa quyền tự do kinh doanh, tự do hoạt động thương mại; tạo định chế chung cho thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ; bảo đảm tính minh bạch, nâng cao hiệu quả của quản lý nhà nước nhưng không gây cản trở cho hoạt động thương mại hợp pháp trên thị trường. Tuy nhiên, sau 16 năm thực hiện, Luật này đã và đang bộc lộ những bất cập, hạn chế. Trong bài viết này, tác giả đưa ra một số đánh giá về tính đồng bộ, phù hợp của Luật Thương mại năm 2005, đồng thời kiến nghị về cấu trúc của Luật Thương mại (sửa đổi) với mục tiêu hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật kinh tế, góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường ở Việt Nam.


1. Cấu trúc của Luật Thương mại năm 2005 và một số đánh giá về tính đồng bộ, phù hợp của Luật này sau 16 năm thực hiện

Luật Thương mại năm 2005 được ban hành trên cơ sở sửa đổi, bổ sung Luật Thương mại năm 1997, điều chỉnh các hoạt động thương mại của thương nhân. Với định hướng mở rộng phạm vi điều chỉnh, phù hợp với yêu cầu phát triển thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ, Luật Thương mại năm 2005 được ban hành với cấu trúc như sau:

Chương 1 - Quy định chung, gồm các nội dung cơ bản về: (i) Phạm vi điều chỉnh của Luật Thương mại năm 2005 là hoạt động thương mại (trên lãnh thổ Việt Nam và ngoài lãnh thổ Việt Nam trong trường hợp có thỏa thuận hoặc có quy định tại luật nước ngoài, điều ước quốc tế); (ii) Đối tượng áp dụng của Luật Thương mại năm 2005 gồm thương nhân và tổ chức, cá nhân khác hoạt động có liên quan đến thương mại; (iii) Nguyên tắc áp dụng pháp luật ưu tiên áp dụng luật chuyên ngành và áp dụng Bộ luật Dân sự khi luật chuyên ngành không có quy định (so với Bộ luật Dân sự thì Luật Thương mại được coi là luật chuyên ngành); (iv) Luật Thương mại năm 2005 quy định các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động thương mại và quy định vấn đề hiện diện của thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam (với hình thức Văn phòng đại diện, Chi nhánh, thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam).

Từ Chương 2 đến Chương 8, Luật Thương mại năm 2005 chủ yếu quy định về 14 hoạt động thương mại và các vấn đề có liên quan đến hoạt động thương mại, bao gồm cả một số nội dung liên quan đến vấn đề quản lý nhà nước đối với hoạt động thương mại. Các hoạt động thương mại được điều chỉnh bởi Luật Thương mại năm 2005 bao gồm: Mua bán hàng hóa, cung ứng dich vụ, khuyến mại, quảng cáo thương mại, trưng bày giới thiệu hàng hóa, hội chợ triển lãm (gọi chung là xúc tiến thương mại), đại diện thương mại, môi giới thương mại, đại lý, ủy thác (gọi chung là trung gian thương mại), gia công, đấu giá, đấu thầu, logistics, giám định hàng hóa, cho thuê, nhượng quyền thương mại. Ngoài ra, còn quy định về quá cảnh hàng hóa qua lãnh thổ Việt Nam, chế tài thương mại, giải quyết tranh chấp thương mại, xử lý vi phạm pháp luật về thương mại.

Với những nội dung điều chỉnh trên đây, Luật Thương mại được ban hành ở thời điểm năm 2005 đã khẳng định vai trò quan trọng về chính trị, kinh tế, xã hội, góp phần thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển nền kinh tế nói chung và xây dựng chính sách, pháp luật thương mại tạo điều kiện phát triển thị trường hàng hóa và dịch vụ nói riêng; tạo hành lang pháp lý cụ thể hóa quyền tự do kinh doanh, tự do hoạt động thương mại; tạo định chế chung cho thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ; bảo đảm tính minh bạch, nâng cao hiệu quả của quản lý nhà nước nhưng không gây cản trở cho hoạt động thương mại hợp pháp trên thị trường. Tuy nhiên, sau 16 năm thực hiện, quá trình phát triển kinh tế và pháp lý đã có những yếu tố tác động đến tính đồng bộ, phù hợp và khả thi của Luật Thương mại năm 2005, đó là[1]:

Thứ nhất, hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách chưa hoàn chỉnh và đồng bộ với yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, thực hiện ba đột phá chiến lược. Quyền tự do kinh doanh chưa được tôn trọng đầy đủ; môi trường kinh doanh chưa thực sự bảo đảm cạnh tranh công bằng, lành mạnh; việc gia nhập, hoạt động và rút khỏi thị trường còn nhiều rào cản. Thể chế về phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế thị trường hiện nay cũng còn nhiều tồn tại, bất cập, đặc biệt là vai trò và mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường chưa phù hợp, phân phối thu nhập chưa theo nguyên tắc thị trường, chưa bảo đảm mục tiêu hài hòa lợi ích của Nhà nước, người lao động, doanh nghiệp và cộng đồng xã hội, hệ thống thuế chưa ổn định, cơ cấu thu ngân sách vẫn lệ thuộc nhiều vào thu từ dầu thô và xuất nhập khẩu... Thể chế và chủ thể kinh tế còn bất cập... Thể chế về các loại thị trường, đặc biệt là quản lý giá, lao động, bất động sản, vốn, tài chính, bảo hiểm, khoa học công nghệ... chưa được hình thành đầy đủ để điều chỉnh các quan hệ, loại hình mới phát sinh. Hệ thống pháp luật thương mại hiện hành chưa ghi nhận kịp thời và đầy đủ theo sự phát triển mạnh mẽ của thực tiễn kinh doanh thương mại khi mà các hoạt động kinh doanh thương mại đã phát triển ngày càng đa dạng với nhiều hình thức mới mẻ so với các hình thức đã được quy định tại Luật Thương mại năm 2005. Các hoạt động này đòi hỏi phải bổ sung hành lang pháp lý điều chỉnh mới hoặc sửa đổi cách thức điều chỉnh tại Luật Thương mại năm 2005 để phù hợp với sự phát triển của các hoạt động này cũng như mục tiêu quản lý trong giai đoạn mới. Điều này vừa nhằm bảo đảm cơ sở pháp lý thực hiện các quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền tự do kinh doanh của công dân trong các ngành, nghề mà luật không cấm, vừa nhằm bảo đảm các hoạt động kinh doanh thương mại diễn ra lành mạnh, minh bạch, đảm bảo cạnh tranh bình đẳng và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Điển hình như hoạt động thương mại điện tử là các hoạt động chưa được cụ thể hóa tại Luật Thương mại năm 2005; một số hoạt động cần phải sửa đổi cho phù hợp với thực tiễn như dịch vụ logisitcs, nhượng quyền thương mại, Sở giao dịch hàng hóa[2]...

Thứ hai, hệ thống pháp luật không ngừng được hoàn thiện theo hướng sửa đổi hoặc ban hành mới, tất yếu dẫn đến những mâu thuẫn, chồng chéo với những văn bản đã ban hành trước đó nhưng chậm được sửa đổi, thay thế. Cụ thể là Luật Thương mại năm 2005 đã phát sinh những bất cập về tính đồng bộ, khả thi trong bối cảnh hiện nay là:

(i) Có những nội dung cần thiết phải sửa đổi, bổ sung theo yêu cầu thực tiễn nhưng chưa thực hiện, ví dụ như vấn đề điều chỉnh hoạt động thương mại điện tử, dịch vụ logistics, nhượng quyền thương mại, Sở giao dịch hàng hóa...

(ii) Có những nội dung đã được quy định trong những luật khác là: Luật Đấu thầu, Luật Đấu giá tài sản, Luật Quảng cáo… nhưng vẫn đang đồng thời hiện diện trong Luật Thương mại và các luật này vẫn đang có hiệu lực, tạo ra không ít sự chồng chéo, khác biệt hoặc mâu thuẫn trong các quy định hiện hành.

(iii) Rất nhiều luật về thể chế kinh tế thị trường có liên quan đến Luật Thương mại đã được sửa đổi, bổ sung, ban hành mới như Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Quảng cáo, Luật Trọng tài thương mại, Luật Phá sản, Bộ luật Dân sự, Luật Quản lý ngoại thương... dẫn tới yều cầu cần thiết phải sửa đổi Luật Thương mại năm 2005 để đảm bảo tính thống nhất của pháp luật, tránh sự chồng chéo, mâu thuẫn và đảm bảo tính khả thi của các văn bản pháp luật đã được ban hành và đang có hiệu lực. Theo nhiều chuyên gia nhận định, có rất nhiều quy định trong Luật Thương mại năm 2005 đã trở nên “lỗi thời” nhưng vẫn không bị bãi bỏ và đang có tình trạng cùng một vấn đề nhưng đang được quy định trong Luật Thương mại và một số luật khác[3]. Những bất cập này cho thấy việc sửa đổi, hoàn thiện Luật Thương mại trong thời gian tới là thực sự cần thiết.

Thứ ba, là tính phù hợp của Luật Thương mại năm 2005 với các cam kết quốc tế. Khi được ban hành, Luật Thương mại năm 2005 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho nhiều cam kết của Việt Nam tại các điều ước quốc tế. Tuy nhiên, việc ký kết, phê duyệt các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới hay ký kết, gia nhập Công ước Viên về mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) đã dẫn đến nhiều nhu cầu thay đổi về pháp luật nội địa, việc sửa đổi, bổ sung Luật Thương mại năm 2005 cũng là yêu cầu cấp bách nhằm thực hiện cam kết của Việt Nam về thương mại theo các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mà Việt Nam mới tham gia. Để thực hiện chính sách thương mại của Đảng và Nhà nước trong bối cảnh tự do hóa thương mại, hội nhập quốc tế và bối cảnh pháp lý hiện nay, việc sửa đổi, hoàn thiện Luật Thương mại năm 2005 là thực sự cần thiết.

2. Một số kiến nghị về cấu trúc của Luật Thương mại (sửa đổi)

Yêu cầu sửa đổi, hoàn thiện Luật Thương mại trong giai đoạn hiện nay là cần đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ, khả thi, đáp ứng yêu cầu hội nhập, tận dụng cam kết để phát huy hiệu quả chính sách hội nhập kinh tế quốc tế, kết hợp và phát huy tốt nguồn lực bên ngoài với nguồn lực trong nước để phát triển, đảm bảo tự do hóa thương mại, đầu tư, duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng, ngăn chặn gian lận thương mại. Xuất phát từ những nhận định đã đề cập về tính đồng bộ, phù hợp và khả thi của Luật Thương mại trong bối cảnh pháp lý hiện nay, tác giả đề xuất một số kiến nghị liên quan đến cấu trúc của Luật Thương mại (sửa đổi) như sau:

Một là, Luật Thương mại (sửa đổi) cần được xác định rõ là luật tư, điều chỉnh hoạt động thương mại của thương nhân, do vậy, không nên quy định các nội dung liên quan đến quản lý nhà nước, kể cả vấn đề xử lý vi phạm pháp luật thương mại (như luật hiện hành đang quy định). Lý do trách nhiệm của các bộ quản lý ngành kinh tế đã được quy định trong văn bản về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các bộ; vấn đề xử lý vi phạm chế độ quản lý nhà nước về thương mại đã được quy định trong pháp luật hành chính và pháp luật hình sự. Thực tiễn lập pháp đang theo xu hướng này, khi mà chùm quy định của Luật Thương mại năm 2005 về quản lý ngoại thương đã bị chấm dứt hiệu lực sau khi Luật Quản lý ngoại thương năm 2017 được ban hành. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018, bãi bỏ khoản 3 Ðiều 28, khoản 3 Ðiều 29, khoản 3 Ðiều 30, các Điều 31, 33, 242, 243, 244, 245, 246 và 247 của Luật Thương mại năm 2005[4].

Hai là, một số hoạt động thương mại cần đưa ra khỏi phạm vi điều chỉnh của Luật Thương mại (sửa đổi) do đã có luật chuyên ngành điều chỉnh, bao gồm hoạt động đấu thầu, đấu giá… Hiện tại, song hành tồn tại các quy định về đấu giá tài sản tại Luật Đấu giá tài sản với quy định về đấu giá hàng hóa tại Luật Thương mại; các quy định về đấu thầu hàng hóa, dịch vụ tại Luật Đấu thầu với quy định về đấu thầu hàng hóa, dịch vụ tại Luật Thương mại năm 2005; các quy định về quảng cáo thương mại trong Luật Thương mại năm 2005 và các quy định về quảng cáo có mục đích sinh lời trong Luật Quảng cáo năm 2012. Sự trùng lặp này là không cần thiết và ảnh hưởng đến tính khả thi của Luật Thương mại cũng như hiệu quả áp dụng quy định pháp luật. Để tháo gỡ bất cập này, tác giả đề xuất nên:

(i) Loại bỏ các quy định về đấu giá hàng hóa ra khỏi phạm vi điều chỉnh của Luật Thương mại, mọi thương nhân có thể áp dụng Luật Đấu giá năm 2016 khi có nhu cầu bán đấu giá hàng hóa, tài sản của mình;

(ii) Loại bỏ các quy định về đấu thầu hàng hóa, dịch vụ ra khỏi phạm vi điều chỉnh của Luật Thương mại, các tổ chức, cá nhân có lựa chọn áp dụng quy định của Luật Đấu thầu năm 2013 khi tổ chức đấu thầu để chọn đối tác, do vậy, thương nhân nói chung cũng thuộc đối tượng áp dụng của luật.

(iii) Về quảng cáo thương mại, tác giả đề xuất vẫn giữ trong Luật Thương mại (sửa đổi), vì đây là một trong bốn hoạt động xúc tiến thương mại, song chỉ nên quy định một số vấn đề có tính nguyên tắc và có quy định dẫn chiếu đến Luật Quảng cáo, bởi vì, Luật Quảng cáo đã quy định tất cả các hoạt động quảng cáo, bao gồm cả quảng cáo có mục đích sinh lời (quảng cáo thương mại) và quảng cáo không có mục đích sinh lời.

(iv) Về các biện pháp quản lý hoạt động xuất nhập khẩu tại Luật Quản lý ngoại thương trùng lặp với các quy định quản lý điều hành xuất khẩu tại Luật Thương mại năm 2005 đã được xử lý bằng cách: Luật Quản lý ngoại thương khi được thông qua đã hủy bỏ hiệu lực của các điều khoản về quản lý điều hành xuất khẩu tại Luật Thương mại để đảm bảo tính thống nhất của pháp luật và tính khả thi của chùm quy định này.

Ba là, một số quan hệ pháp luật có thể điều chỉnh bằng Bộ luật Dân sự và không cần thiết phải có quy định riêng tại Luật Thương mại, như các quy định về hợp đồng; về chế tài thương mại..., mà áp dụng luôn các quy định của Bộ luật Dân sự nhằm đảm bảo tính thống nhất của pháp luật về hợp đồng… Các quy định về cung ứng dịch vụ cũng chỉ là các quy định chung, nếu có các quy định riêng thì đã được quy định trong từng dịch vụ cụ thể, do vậy, có thể áp dụng các quy định chung về cung ứng dịch vụ trong Bộ luật Dân sự mà không cần quy định trong Luật Thương mại.

Bốn là, rà soát lại các quy định về ngành, nghề kinh doanh để tránh mâu thuẫn chồng chéo với các quy định của Luật Đầu tư về ngành nghề kinh doanh. Cần thiết hủy bỏ toàn bộ các danh mục được ban hành để hướng dẫn Luật Thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm đầu tư kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện, do hiện tại đang có sự không thống nhất giữa các quy định của Luật Đầu tư và Luật Thương mại về vấn đề này.

Năm là, đề xuất các nội dung cơ bản cần quy định trong Luật Thương mại (sửa đổi) như sau:

(i) Quy định về phạm vi, đối tượng điều chỉnh, nguyên tắc áp dụng pháp luật, quy định về thương nhân, bao gồm hình thức hiện diện của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam có thể cơ bản giữ như hiện tại.

(ii) Các hoạt động thương mại cần quy định trong Luật Thương mại (sửa đổi) bao gồm:

- Mua bán hàng hóa (bao gồm cả mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài và mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa);

- Xúc tiến thương mại (trong đó quảng cáo thương mại chỉ quy định các nội dung có tính nguyên tắc, và có quy định dẫn chiếu áp dụng Luật Quảng cáo);

- Trung gian thương mại (đại lý, ủy thác, môi giới, đại diện thương mại);

- Nhượng quyền thương mại;

- Logistics;

- Hoạt động thương mại điện tử.

Riêng đối với hoạt động thương mại điện tử, việc có đưa các quy định này vào Luật Thương mại (sửa đổi) hay không còn liên quan đến việc sửa đổi Luật Giao dịch điện tử (đang tiến hành). Dự Luật Giao dịch điện tử hiện đang điều chỉnh các giao dịch điện tử của các chủ thể là tổ chức, cá nhân, bao gồm cả cơ quan nhà nước và thương nhân. Kèm theo Luật Giao dịch điện tử năm 2005, hiện cũng đang có Nghị định quy định chi tiết về hoạt động thương mại điện tử[5]. Do vậy, liên quan đến vấn đề này, có thể xem xét 2 phương án hoàn thiện pháp luật liên quan đến hoạt động thương mại điện tử như sau:

Phương án thứ nhất: Hoạt động thương mại điện tử được điều chỉnh bởi Luật Giao dịch điện tử và Nghị định về hoạt động thương mại điện tử. Với phương án này, Nghị định về hoạt động thương mại điện tử cần bổ sung quy định chi tiết về nhiều hoạt động thương mại điện tử mới hình thành trong nền kinh tế, ví dụ hoạt động môi giới thương mại điện tử.

Phương án thứ hai: Hoạt động thương mại điện tử được điều chỉnh bởi Luật Giao dịch điện tử (vẫn giữ đối tượng và phạm vi điều chỉnh là các giao dịch điện tử của các tổ chức, cá nhân, bao gồm cả cơ quan nhà nước, thương nhân…). Dự thảo Luật Giao dịch điện tử (đang lấy ý kiến) không có quy định riêng về hoạt động thương mại điện tử. Luật Thương mại (sửa đổi) sẽ bổ sung các quy định về hoạt động thương mại điện tử, đảm bảo không trái các nguyên tắc giao dịch điện tử mà Luật Giao dịch điện tử đã quy định.

Tính phù hợp của phương án thứ hai là Bộ Thông tin và Truyền thông (đơn vị chủ trì soạn thảo Luật Giao dịch điện tử) sẽ chú trọng chuyên sâu các yếu tố về kỹ thuật, công nghệ, thông tin điện tử, nguyên tắc giao dịch điện đử đảm bảo an toàn nhiều mặt và đảm bảo quản lý nhà nước về giao dịch điện tử. Bộ Công thương (đơn vị chủ trì soạn thảo Luật Thương mại và là đơn vị quản lý hoạt động thương mại), xây dựng các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động thương mại điện tử bên cạnh các hoạt động thương mại khác.

Luật Thương mại năm 2005 được nghiên cứu sửa đổi trong bối cảnh nhiều văn bản pháp luật liên quan đã được ban hành mới hoặc đang sửa đổi. Để đảm bảo tính thống nhất và tính phù hợp trong bối cảnh pháp lý hiện tại, việc nghiên cứu về cấu trúc Luật Thương mại (sửa đổi) vẫn là câu chuyện đang tiếp tục và cần cập nhật thực tiễn cũng như diễn biến sửa đổi, bổ sung các Luật có liên quan, với mục tiêu hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật kinh tế, góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường ở Việt Nam.

TS. Nguyễn Thị Dung
Đại học Luật Hà Nội


[1]. Bộ Công thương, Báo cáo tổng hợp về khung chính sách thương mại của Việt Nam trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN giai đoạn từ năm 2016 trở đi

[2]. Bộ Công thương, Báo cáo tổng hợp về khung chính sách thương mại của Việt Nam trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN giai đoạn từ năm 2016 trở đi

[3]. Huyền Trang, “Đã đến lúc phải sửa Luật Thương mại”

[4]. Điều 112 Luật Quản lý ngoại thương năm 2017.

[5]. Nghị định số 52/2013/NĐ-CP ngày 16/05/2013 về thương mại điện tử (cũng đang trong quá trình sửa đổi).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: