Thứ sáu 05/12/2025 09:09
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Sửa đổi quy định về thuế sử dụng đất trong bối cảnh thực hiện cải cách tài chính về đất đai

Tóm tắt: Pháp luật thuế sử dụng đất có vai trò quan trọng trong chính sách tài chính về đất đai và phát triển thị trường quyền sử dụng đất thứ cấp ở Việt Nam. Bài viết này trình bày nhận thức chung về thuế sử dụng đất, thực trạng pháp luật thu thuế sử dụng đất nông nghiệp và phi nông nghiệp. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất hoàn thiện pháp luật về thu thuế sử dụng đất phù hợp với định hướng cải cách tài chính về đất và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.


Abstract: Law on land use tax has an important role in the financial policy on land and development of secondary land use right market in Vietnam. This paper presents common awareness on land use tax, the real situation of law on collection of agricultural and non- agricultural land use tax. Based on this study, the author puts forward recommendations for completion of law on collection of land use tax corresponding to the current orientation of financial reform on land and completion of market economy in our country.

1. Bản chất kinh tế của thuế sử dụng đất

Với đối tượng chịu thuế là giá trị quyền sử dụng đất nông nghiệp và phi nông nghiệp, thuế sử dụng đất ở Việt Nam mang bản chất của loại thuế tài sản. Về mặt lý thuyết kinh tế, thuế tài sản là tổ hợp của hai loại thuế, một là thuế tính trên giá trị đất và hai là thuế tính trên giá trị gia tăng. Việc đánh thuế được thực hiện khác nhau tùy quan điểm lập pháp của mỗi quốc gia. Cũng có quốc gia áp dụng một mức thuế suất chung cho cả hai phần cơ sở thuế. Có quốc gia áp dụng thuế suất khác nhau trên phần giá trị quyền sử dụng đất và giá trị gia tăng. Theo Ngân hàng Thế giới (WB), việc đánh thuế trên phần giá trị đất đai và trên phần giá trị gia tăng sẽ có những tác động khác nhau, xét cả về mặt hiệu quả lẫn tính công bằng[1]. Giá trị đất được xác định dựa trên chất đất, cơ sở hạ tầng công cộng và hoàn toàn độc lập với giá trị gia tăng của đất đai. Về mặt kinh tế, độ co giãn về cung của đất bằng 0 còn độ co giãn về cung của phần giá trị gia tăng thường cao hơn và trên mức 0. Về mặt điều chỉnh pháp luật, đánh thuế trên phần giá trị đất sẽ dễ dàng hơn vì giá trị đất thường phụ thuộc vào vị trí thửa đất nên mang tính khách quan, minh bạch và có thể định lượng. Trong khi đó, để đánh thuế trên phần giá trị gia tăng, đòi hỏi cơ quan có thẩm quyền phải đánh giá thường xuyên, xác định được giá trị gia tăng do các nguyên nhân chủ quan và các giá trị tăng do nguyên nhân khách quan. Thuế sử dụng đất ở Việt Nam là thuế đánh trên giá trị đất mà không đánh trên phần giá trị gia tăng. Theo một nghiên cứu của WB, đánh thuế dựa trên giá trị đất là một trong những cách hiệu quả nhất để tăng thu ngân sách.

Trong các nguồn thu ngân sách từ đất, nguồn thu từ thuế mang tính ổn định cao hơn cả, cho dù ở những thời điểm nhất định, tỉ trọng thuế thu liên quan đến đất đai trên tổng thu ngân sách không cao. Cụ thể, thuế sử dụng đất giúp Nhà nước quản lý việc sử dụng đất một cách hiệu quả, tiết kiệm và là một trong các nguồn thu bảo đảm động viên ngân sách một cách ổn định, thường xuyên từ đất. Mức thu thuế sử dụng đất ở Việt Nam trong nhiều năm qua hoàn toàn không tạo ra gánh nặng cho người sử dụng, nếu không muốn nói là thấp như đánh giá của WB[2]. Lý do là bởi thuế này đánh trên giá trị đất nhưng chúng ta chưa bao giờ thu thuế cao hơn giá trị sử dụng đất. Thêm vào đó, thuế sử dụng đất luôn bảo đảm là nguồn thu ổn định, thường xuyên bởi thuế này độc lập, không phụ thuộc vào sản lượng do đất đem lại.

2. Thực trạng pháp luật về thuế sử dụng đất

2.1. Đối với đất nông nghiệp

Thuế sử dụng đất nông nghiệp là loại thuế trực thu đánh trên diện tích đất nông nghiệp. Tổ chức, cá nhân sử dụng đất vào sản xuất nông nghiệp đều phải nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp. Người được giao quyền sử dụng đất thuộc đối tượng chịu thuế mà không sử dụng vẫn phải nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp.

- Đối tượng chịu thuế

Đối tượng chịu thuế sử dụng đất nông nghiệp là toàn bộ diện tích đất sử dụng vào sản xuất nông nghiệp, bao gồm đất trồng trọt, đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản và đất trồng rừng. Loại đất này phải được sử dụng không phải ở hình thức thuê.

- Căn cứ tính thuế sử dụng đất nông nghiệp

Căn cứ tính thuế là diện tích, hạng đất và định suất thuế tính bằng kilogram thóc trên một đơn vị diện tích của từng hạng đất. Diện tích tính thuế là diện tích đất giao cho tổ chức, cá nhân sử dụng phù hợp với sổ địa chính. Trường hợp chưa lập sổ địa chính thì diện tích tính thuế là diện tích ghi trên tờ khai của người sử dụng. Hạng đất tính thuế được xác định dựa vào 05 yếu tố: Chất đất, vị trí, địa hình, điều kiện khí hậu thời tiết, điều kiện tưới tiêu. Định suất thuế một năm tính bằng số kilogram thóc/hec-ta của từng hạng đất. Thuế sử dụng đất nông nghiệp tính bằng thóc, thu bằng tiền. Giá thóc thu thuế do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định không được thấp hơn 10% so với giá thóc ở thị trường địa phương trong vụ thu thuế.

- Miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp

Theo quy định hiện hành, Nhà nước miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp đối với: (i) Toàn bộ diện tích đất nông nghiệp phục vụ nghiên cứu, sản xuất thử nghiệm; diện tích đất trồng cây hàng năm có ít nhất một vụ lúa trong năm; diện tích đất làm muối; (ii) Diện tích đất trồng cây hàng năm có ít nhất một vụ lúa trong năm; (iii) Toàn bộ diện tích đất nông nghiệp giao hoặc công nhận cho hộ nghèo; (iv) Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao, công nhận đất để sản xuất nông nghiệp, nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp; (v) Thành viên hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, hộ gia đình, cá nhân, nông lâm trường viên đã nhận đất giao khoán ổn định; (vi) Hộ gia đình, cá nhân sản xuất nông nghiệp góp quyền sử dụng đất nông nghiệp của mình để thành lập hợp tác xã sản xuất nông nghiệp; (vii) Người sử dụng đất bị thiệt hại mùa màng từ 40% trở lên do thiên tai, địch họa; (viii) Hộ nộp thuế có thương binh 1/4 , thương binh 2/4, bệnh binh hạng 1/3 và 2/3.

2.2. Đối với đất phi nông nghiệp

- Đối tượng chịu thuế

Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp là thuế đánh trên đất ở và đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp. Đất phi nông nghiệp không sử dụng vào mục đích kinh doanh thì không phải là đối tượng chịu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp. Tuy nhiên, nhóm đất phi nông nghiệp vốn không thuộc đối tượng chịu thuế nhưng nay sử dụng vào mục đích kinh doanh thì sẽ phải chịu thuế này; gồm có: (i) Sử dụng vào mục đích công; (ii) Đất do cơ sở tôn giáo sử dụng; đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường; (iii) Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa; (iv) Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng; (v) Đất xây dựng trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp; (vi) Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh.

- Căn cứ tính thuế sử dụng đất phi nông nghiệp là diện tích đất tính thuế, giá 1m² đất tính thuế và thuế suất. Diện tích đất tính thuế là diện tích đất phi nông nghiệp thực tế sử dụng. Căn cứ xác định diện tích đối với trường hợp đất ở đã được cấp giấy chứng nhận là diện tích ghi trên giấy. Nếu diện tích đất ở ghi trên giấy chứng nhận nhỏ hơn diện tích đất thực tế sử dụng thì diện tích đất tính thuế là diện tích thực tế sử dụng.

Đối với quyền sử dụng đất chung của nhà nhiều tầng, nhiều hộ ở, nhà chung cư gồm cả chung cư hỗn hợp thì diện tích đất tính thuế của từng người nộp thuế được xác định bằng hệ số phân bổ nhân với diện tích nhà mà người nộp thuế đó sử dụng. Đối với đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp thì diện tích đất tính thuế là tổng diện tích đất được Nhà nước giao, cho thuê sử dụng vào mục đích kinh doanh. Trường hợp diện tích đất ghi trên giấy tờ thấp hơn diện tích đất thực tế sử dụng vào mục đích kinh doanh thì diện tích đất tính thuế là diện tích đất thực tế sử dụng.

- Giá đất tính thuế

Giá của 1m² đất tính thuế là giá đất theo mục đích sử dụng của thửa đất tính thuế do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định và được ổn định theo chu kỳ 5 năm. Nếu trong chu kỳ có sự thay đổi về người nộp thuế hoặc phát sinh các yếu tố làm thay đổi giá của 1m² đất tính thuế thì không phải xác định lại giá của 1m² đất cho thời gian còn lại của chu kỳ.

- Thuế suất thuế sử dụng đất phi nông nghiệp

Đất ở bao gồm cả trường hợp sử dụng để kinh doanh áp dụng theo biểu thuế lũy tiến từng phần như sau: (i) Diện tích trong hạn mức có thuế suất 0,03%; (ii) Phần diện tích vượt không quá 3 lần hạn mức có thuế suất 0,07%; (iii) Phần diện tích vượt trên 3 lần hạn mức có thuế suất 0,15%. Đối với quyền sử dụng đất ở của nhà nhiều tầng, nhiều hộ ở, nhà chung cư, công trình xây dựng dưới mặt đất và đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp áp dụng mức thuế suất 0,03%.

- Cách xác định số thuế phải nộp

Số thuế sử dụng đất phi nông nghiệp phải nộp đối với diện tích đất ở, đất sản xuất kinh doanh, đất phi nông nghiệp được xác định bằng (=) số thuế phát sinh trừ (-) số thuế được miễn giảm. Số thuế phát sinh bằng (=) diện tích đất tính thuế nhân (x) giá 1m2 đất nhân (x) thuế suất.

3. Một số bất cập và giải pháp hoàn thiện pháp luật về thuế sử dụng đất

Thuế sử dụng đất bao gồm thuế sử dụng đất nông nghiệp và thuế sử dụng đất phi nông nghiệp là loại thuế đánh trên giá trị đất. Ưu điểm của thuế này là không tạo ra “gánh nặng quá tải” cho nền kinh tế như các chuyên gia thuế nhận định. Thuế đất đai không chỉ mang lại nguồn thu ngân sách mà còn thực sự bù đắp những trường hợp không có hiệu quả về kinh tế[3]. Cơ sở thuế của thuế sử dụng đất có tính ổn định cao nhất, bảo đảm tốt nhất nguồn thu ngân sách từ đất được ổn định, thường xuyên. Tuy nhiên, tổng thu và tỉ trọng thu thuế này ở nước ta rất thấp. Về lâu dài, khi đất giao có thu tiền không còn, nguồn thu tiền sử dụng đất ở Việt Nam hết thì tổng thu từ đất sẽ giảm mạnh và còn rất thấp. Điều đó đặt ra vấn đề liệu việc khai thác tài chính từ đất đai thông qua các khoản thu ngân sách từ đất đã hợp lý và đúng với giá trị loại tài nguyên này hay chưa. Theo nghiên cứu của WB, mức thuế suất thuế đất càng cao, thì việc đầu cơ đất càng ít đem lại lợi nhuận. Nếu thuế đất đai gần bằng 100% tiền thuê đất thì việc đầu cơ đất có lợi nhuận là điều không thể. Theo đó, thuế đất có xu hướng tác động làm dịch chuyển đất từ tay những người đầu cơ, những người nắm giữ đất dưới dạng tích lũy tài sản sang cho những người có nhu cầu sử dụng đất thực sự. Khi thị trường loại bỏ được yếu tố đầu cơ thì giá bán đất sẽ giảm hoặc ổn định. Khi đó, đa số người dân sẽ có cơ hội dễ dàng tiếp cận đất đai để phục vụ nhu cầu ở, sản xuất, kinh doanh hơn. Trên thực tế, việc đầu cơ đất đai hấp dẫn nhà đầu cơ vì họ tin tưởng rằng giá đất sẽ tăng nhanh nên chờ đợi. Cũng vì thế, họ không đầu tư, cải tạo, nâng cấp đất ở thời điểm hiện tại vì hai lý do: Nếu bán nhanh thì chi phí liên quan cao sẽ giảm lợi nhuận ròng, còn nếu bán chậm thì sau này khó có thể nâng cấp nhiều hơn nữa. Ở góc độ quản lý, hoạt động đầu cơ đất đai diễn ra đồng nghĩa với xu hướng chống lại việc đầu tư cải tạo đất. Vì vậy, đánh thuế đất đai cao lên sẽ hạn chế việc găm giữ đầu cơ đất, hướng tới việc khai thác sử dụng đất hiệu quả và phát triển bền vững.

Để bảo đảm quyền thu lợi của Nhà nước đối với tài sản công[4] là đất đai một cách hiệu quả, cần điều chỉnh thuế suất thuế sử dụng đất phi nông nghiệp theo hướng tăng. Thực tiễn kết quả thu thuế này ở Việt Nam rất thấp trong khi vai trò của nó rất lớn cả về mặt động viên ngân sách lẫn quản lý đất đai. Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có thuế suất trên 1% giá trị đất, trong khi Việt Nam thuế suất áp dụng với đất trong hạn mức là 0,03%. Thuế suất quá thấp, giá đất tính thuế lại là giá trong Bảng giá do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định, ổn định 5 năm. Giá đất do Ủy ban quy định trên thực tế cũng thấp hơn giá giao dịch phổ biến trên thị trường. Tất cả các yếu tố đó đã khiến thu thuế từ đất ở Việt Nam không tương xứng với loại thuế đánh trên giá trị đất đai, không bảo đảm quyền thu lợi từ tài sản công của Nhà nước.

ThS. Nguyễn Thị Thanh Xuân

Khoa Luật, Đại học Cần Thơ

Tài liệu tham khảo:

[1]. “Cải cách thuế ở Việt Nam: hướng tới một hệ thống hiệu quả và công bằng hơn”; đồng chủ biên: Ganadha Prasad Shukla, Phạm Minh Đức, Michael Engelschalk, Lê Minh Tuấn; Ban quản lý Kinh tế và Xóa đói giảm nghèo khu vực Châu Á Thái Bình Dương - Ngân hàng Thế giới, năm 2011, trang 257.

[2]. “Nhà ở giá hợp lý ở Việt Nam”, Ngân hàng Thế giới, 2015.

[3]. “Cải cách thuế ở Việt Nam: hướng tới một hệ thống hiệu quả và công bằng hơn”; đồng chủ biên: Ganadha Prasad Shukla, Phạm Minh Đức, Michael Engelschalk, Lê Minh Tuấn; Ban quản lý Kinh tế và Xóa đói giảm nghèo khu vực Châu Á Thái Bình Dương - Ngân hàng Thế giới, năm 2011, trang 258.

[4]. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Đảng cộng sản Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội – 2016, trang 105.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Trường Cao đẳng Luật miền Bắc được nâng cấp từ Trường Trung cấp Luật Thái Nguyên theo Quyết định số 869/QĐ-LĐTBXH ngày 10/7/2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ), đã kế thừa hơn một thập kỷ kinh nghiệm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ pháp lý cấp cơ sở, đặc biệt, tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc.
Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Bộ Tư pháp đã trang bị, bổ sung, ứng dụng các công nghệ mới như máy chủ ảo hóa, lưu trữ SAN; máy chủ ứng dụng, máy chủ cơ sở dữ liệu cho Trung tâm dữ liệu điện tử để đáp ứng yêu cầu quản lý, vận hành và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp.
Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Bài viết về những thành tựu nổi bật và định hướng phát triển công tác hành chính tư pháp trong thời gian tới.
Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, có chức năng thông tin về khoa học pháp lý, thông tin lý luận, nghiệp vụ và thực tiễn trong xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp của Bộ, ngành Tư pháp; tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước theo quy định pháp luật; đồng thời, là diễn đàn trao đổi học thuật, thực tiễn và chính sách trong lĩnh vực pháp luật[1].
Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, thực hiện chức năng thông tin về các hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp và các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội trong nước và quốc tế; truyền thông, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hoạt động xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp phục vụ yêu cầu quản lý của Bộ Tư pháp, đáp ứng nhu cầu của xã hội về thông tin, nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tham gia định hướng tư tưởng, phản biện xã hội, khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và tự lực, tự cường của Nhân dân, đồng hành với an sinh xã hội.
Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2026-2031 được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật và thống nhất trên phạm vi cả nước, Hội đồng bầu cử quốc gia (HĐBCQG) được thành lập, giữ vai trò tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH); chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND). Việc tìm hiểu cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của HĐBCQG có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và cử tri thực hiện quyền làm chủ của mình, đồng thời giúp cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan thực hiện tốt nhiệm vụ trong công tác bầu cử.
Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Bài viết phân tích một số thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới của Cục Kiểm tra văn bản và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp.
Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Trong những năm qua, hoạt động nghiên cứu khoa học của Bộ Tư pháp đã khẳng định được vai trò cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn, giúp Lãnh đạo Bộ tham mưu với các cấp có thẩm quyền xây dựng các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác pháp luật, tư pháp, về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Trợ giúp pháp lý - Điểm tựa pháp lý cho tuổi vị thành niên lầm lỡ

Trợ giúp pháp lý - Điểm tựa pháp lý cho tuổi vị thành niên lầm lỡ

Lứa tuổi vị thành niên là giai đoạn các em đang hình thành nhân cách, dễ bồng bột, thiếu kỹ năng kiểm soát cảm xúc và nhận thức pháp luật còn hạn chế. Nếu không được định hướng, các em rất dễ sa vào những hành vi vi phạm pháp luật đáng tiếc. Chỉ một phút nóng giận, một quyết định bồng bột… cũng đủ khiến tuổi trẻ phải trả giá bằng cả những tháng ngày sau song sắt. Thế nhưng, trong câu chuyện buồn ấy, vẫn có một điểm sáng nhân văn - đó là bàn tay nâng đỡ của trợ giúp pháp lý miễn phí, để một thiếu niên lầm lỡ có cơ hội sửa sai và làm lại từ đầu.

Theo dõi chúng tôi trên: