Thứ tư 04/03/2026 06:46
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Sửa đổi quy định về thuế sử dụng đất trong bối cảnh thực hiện cải cách tài chính về đất đai

Tóm tắt: Pháp luật thuế sử dụng đất có vai trò quan trọng trong chính sách tài chính về đất đai và phát triển thị trường quyền sử dụng đất thứ cấp ở Việt Nam. Bài viết này trình bày nhận thức chung về thuế sử dụng đất, thực trạng pháp luật thu thuế sử dụng đất nông nghiệp và phi nông nghiệp. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất hoàn thiện pháp luật về thu thuế sử dụng đất phù hợp với định hướng cải cách tài chính về đất và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.


Abstract: Law on land use tax has an important role in the financial policy on land and development of secondary land use right market in Vietnam. This paper presents common awareness on land use tax, the real situation of law on collection of agricultural and non- agricultural land use tax. Based on this study, the author puts forward recommendations for completion of law on collection of land use tax corresponding to the current orientation of financial reform on land and completion of market economy in our country.

1. Bản chất kinh tế của thuế sử dụng đất

Với đối tượng chịu thuế là giá trị quyền sử dụng đất nông nghiệp và phi nông nghiệp, thuế sử dụng đất ở Việt Nam mang bản chất của loại thuế tài sản. Về mặt lý thuyết kinh tế, thuế tài sản là tổ hợp của hai loại thuế, một là thuế tính trên giá trị đất và hai là thuế tính trên giá trị gia tăng. Việc đánh thuế được thực hiện khác nhau tùy quan điểm lập pháp của mỗi quốc gia. Cũng có quốc gia áp dụng một mức thuế suất chung cho cả hai phần cơ sở thuế. Có quốc gia áp dụng thuế suất khác nhau trên phần giá trị quyền sử dụng đất và giá trị gia tăng. Theo Ngân hàng Thế giới (WB), việc đánh thuế trên phần giá trị đất đai và trên phần giá trị gia tăng sẽ có những tác động khác nhau, xét cả về mặt hiệu quả lẫn tính công bằng[1]. Giá trị đất được xác định dựa trên chất đất, cơ sở hạ tầng công cộng và hoàn toàn độc lập với giá trị gia tăng của đất đai. Về mặt kinh tế, độ co giãn về cung của đất bằng 0 còn độ co giãn về cung của phần giá trị gia tăng thường cao hơn và trên mức 0. Về mặt điều chỉnh pháp luật, đánh thuế trên phần giá trị đất sẽ dễ dàng hơn vì giá trị đất thường phụ thuộc vào vị trí thửa đất nên mang tính khách quan, minh bạch và có thể định lượng. Trong khi đó, để đánh thuế trên phần giá trị gia tăng, đòi hỏi cơ quan có thẩm quyền phải đánh giá thường xuyên, xác định được giá trị gia tăng do các nguyên nhân chủ quan và các giá trị tăng do nguyên nhân khách quan. Thuế sử dụng đất ở Việt Nam là thuế đánh trên giá trị đất mà không đánh trên phần giá trị gia tăng. Theo một nghiên cứu của WB, đánh thuế dựa trên giá trị đất là một trong những cách hiệu quả nhất để tăng thu ngân sách.

Trong các nguồn thu ngân sách từ đất, nguồn thu từ thuế mang tính ổn định cao hơn cả, cho dù ở những thời điểm nhất định, tỉ trọng thuế thu liên quan đến đất đai trên tổng thu ngân sách không cao. Cụ thể, thuế sử dụng đất giúp Nhà nước quản lý việc sử dụng đất một cách hiệu quả, tiết kiệm và là một trong các nguồn thu bảo đảm động viên ngân sách một cách ổn định, thường xuyên từ đất. Mức thu thuế sử dụng đất ở Việt Nam trong nhiều năm qua hoàn toàn không tạo ra gánh nặng cho người sử dụng, nếu không muốn nói là thấp như đánh giá của WB[2]. Lý do là bởi thuế này đánh trên giá trị đất nhưng chúng ta chưa bao giờ thu thuế cao hơn giá trị sử dụng đất. Thêm vào đó, thuế sử dụng đất luôn bảo đảm là nguồn thu ổn định, thường xuyên bởi thuế này độc lập, không phụ thuộc vào sản lượng do đất đem lại.

2. Thực trạng pháp luật về thuế sử dụng đất

2.1. Đối với đất nông nghiệp

Thuế sử dụng đất nông nghiệp là loại thuế trực thu đánh trên diện tích đất nông nghiệp. Tổ chức, cá nhân sử dụng đất vào sản xuất nông nghiệp đều phải nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp. Người được giao quyền sử dụng đất thuộc đối tượng chịu thuế mà không sử dụng vẫn phải nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp.

- Đối tượng chịu thuế

Đối tượng chịu thuế sử dụng đất nông nghiệp là toàn bộ diện tích đất sử dụng vào sản xuất nông nghiệp, bao gồm đất trồng trọt, đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản và đất trồng rừng. Loại đất này phải được sử dụng không phải ở hình thức thuê.

- Căn cứ tính thuế sử dụng đất nông nghiệp

Căn cứ tính thuế là diện tích, hạng đất và định suất thuế tính bằng kilogram thóc trên một đơn vị diện tích của từng hạng đất. Diện tích tính thuế là diện tích đất giao cho tổ chức, cá nhân sử dụng phù hợp với sổ địa chính. Trường hợp chưa lập sổ địa chính thì diện tích tính thuế là diện tích ghi trên tờ khai của người sử dụng. Hạng đất tính thuế được xác định dựa vào 05 yếu tố: Chất đất, vị trí, địa hình, điều kiện khí hậu thời tiết, điều kiện tưới tiêu. Định suất thuế một năm tính bằng số kilogram thóc/hec-ta của từng hạng đất. Thuế sử dụng đất nông nghiệp tính bằng thóc, thu bằng tiền. Giá thóc thu thuế do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định không được thấp hơn 10% so với giá thóc ở thị trường địa phương trong vụ thu thuế.

- Miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp

Theo quy định hiện hành, Nhà nước miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp đối với: (i) Toàn bộ diện tích đất nông nghiệp phục vụ nghiên cứu, sản xuất thử nghiệm; diện tích đất trồng cây hàng năm có ít nhất một vụ lúa trong năm; diện tích đất làm muối; (ii) Diện tích đất trồng cây hàng năm có ít nhất một vụ lúa trong năm; (iii) Toàn bộ diện tích đất nông nghiệp giao hoặc công nhận cho hộ nghèo; (iv) Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao, công nhận đất để sản xuất nông nghiệp, nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp; (v) Thành viên hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, hộ gia đình, cá nhân, nông lâm trường viên đã nhận đất giao khoán ổn định; (vi) Hộ gia đình, cá nhân sản xuất nông nghiệp góp quyền sử dụng đất nông nghiệp của mình để thành lập hợp tác xã sản xuất nông nghiệp; (vii) Người sử dụng đất bị thiệt hại mùa màng từ 40% trở lên do thiên tai, địch họa; (viii) Hộ nộp thuế có thương binh 1/4 , thương binh 2/4, bệnh binh hạng 1/3 và 2/3.

2.2. Đối với đất phi nông nghiệp

- Đối tượng chịu thuế

Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp là thuế đánh trên đất ở và đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp. Đất phi nông nghiệp không sử dụng vào mục đích kinh doanh thì không phải là đối tượng chịu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp. Tuy nhiên, nhóm đất phi nông nghiệp vốn không thuộc đối tượng chịu thuế nhưng nay sử dụng vào mục đích kinh doanh thì sẽ phải chịu thuế này; gồm có: (i) Sử dụng vào mục đích công; (ii) Đất do cơ sở tôn giáo sử dụng; đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường; (iii) Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa; (iv) Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng; (v) Đất xây dựng trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp; (vi) Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh.

- Căn cứ tính thuế sử dụng đất phi nông nghiệp là diện tích đất tính thuế, giá 1m² đất tính thuế và thuế suất. Diện tích đất tính thuế là diện tích đất phi nông nghiệp thực tế sử dụng. Căn cứ xác định diện tích đối với trường hợp đất ở đã được cấp giấy chứng nhận là diện tích ghi trên giấy. Nếu diện tích đất ở ghi trên giấy chứng nhận nhỏ hơn diện tích đất thực tế sử dụng thì diện tích đất tính thuế là diện tích thực tế sử dụng.

Đối với quyền sử dụng đất chung của nhà nhiều tầng, nhiều hộ ở, nhà chung cư gồm cả chung cư hỗn hợp thì diện tích đất tính thuế của từng người nộp thuế được xác định bằng hệ số phân bổ nhân với diện tích nhà mà người nộp thuế đó sử dụng. Đối với đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp thì diện tích đất tính thuế là tổng diện tích đất được Nhà nước giao, cho thuê sử dụng vào mục đích kinh doanh. Trường hợp diện tích đất ghi trên giấy tờ thấp hơn diện tích đất thực tế sử dụng vào mục đích kinh doanh thì diện tích đất tính thuế là diện tích đất thực tế sử dụng.

- Giá đất tính thuế

Giá của 1m² đất tính thuế là giá đất theo mục đích sử dụng của thửa đất tính thuế do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định và được ổn định theo chu kỳ 5 năm. Nếu trong chu kỳ có sự thay đổi về người nộp thuế hoặc phát sinh các yếu tố làm thay đổi giá của 1m² đất tính thuế thì không phải xác định lại giá của 1m² đất cho thời gian còn lại của chu kỳ.

- Thuế suất thuế sử dụng đất phi nông nghiệp

Đất ở bao gồm cả trường hợp sử dụng để kinh doanh áp dụng theo biểu thuế lũy tiến từng phần như sau: (i) Diện tích trong hạn mức có thuế suất 0,03%; (ii) Phần diện tích vượt không quá 3 lần hạn mức có thuế suất 0,07%; (iii) Phần diện tích vượt trên 3 lần hạn mức có thuế suất 0,15%. Đối với quyền sử dụng đất ở của nhà nhiều tầng, nhiều hộ ở, nhà chung cư, công trình xây dựng dưới mặt đất và đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp áp dụng mức thuế suất 0,03%.

- Cách xác định số thuế phải nộp

Số thuế sử dụng đất phi nông nghiệp phải nộp đối với diện tích đất ở, đất sản xuất kinh doanh, đất phi nông nghiệp được xác định bằng (=) số thuế phát sinh trừ (-) số thuế được miễn giảm. Số thuế phát sinh bằng (=) diện tích đất tính thuế nhân (x) giá 1m2 đất nhân (x) thuế suất.

3. Một số bất cập và giải pháp hoàn thiện pháp luật về thuế sử dụng đất

Thuế sử dụng đất bao gồm thuế sử dụng đất nông nghiệp và thuế sử dụng đất phi nông nghiệp là loại thuế đánh trên giá trị đất. Ưu điểm của thuế này là không tạo ra “gánh nặng quá tải” cho nền kinh tế như các chuyên gia thuế nhận định. Thuế đất đai không chỉ mang lại nguồn thu ngân sách mà còn thực sự bù đắp những trường hợp không có hiệu quả về kinh tế[3]. Cơ sở thuế của thuế sử dụng đất có tính ổn định cao nhất, bảo đảm tốt nhất nguồn thu ngân sách từ đất được ổn định, thường xuyên. Tuy nhiên, tổng thu và tỉ trọng thu thuế này ở nước ta rất thấp. Về lâu dài, khi đất giao có thu tiền không còn, nguồn thu tiền sử dụng đất ở Việt Nam hết thì tổng thu từ đất sẽ giảm mạnh và còn rất thấp. Điều đó đặt ra vấn đề liệu việc khai thác tài chính từ đất đai thông qua các khoản thu ngân sách từ đất đã hợp lý và đúng với giá trị loại tài nguyên này hay chưa. Theo nghiên cứu của WB, mức thuế suất thuế đất càng cao, thì việc đầu cơ đất càng ít đem lại lợi nhuận. Nếu thuế đất đai gần bằng 100% tiền thuê đất thì việc đầu cơ đất có lợi nhuận là điều không thể. Theo đó, thuế đất có xu hướng tác động làm dịch chuyển đất từ tay những người đầu cơ, những người nắm giữ đất dưới dạng tích lũy tài sản sang cho những người có nhu cầu sử dụng đất thực sự. Khi thị trường loại bỏ được yếu tố đầu cơ thì giá bán đất sẽ giảm hoặc ổn định. Khi đó, đa số người dân sẽ có cơ hội dễ dàng tiếp cận đất đai để phục vụ nhu cầu ở, sản xuất, kinh doanh hơn. Trên thực tế, việc đầu cơ đất đai hấp dẫn nhà đầu cơ vì họ tin tưởng rằng giá đất sẽ tăng nhanh nên chờ đợi. Cũng vì thế, họ không đầu tư, cải tạo, nâng cấp đất ở thời điểm hiện tại vì hai lý do: Nếu bán nhanh thì chi phí liên quan cao sẽ giảm lợi nhuận ròng, còn nếu bán chậm thì sau này khó có thể nâng cấp nhiều hơn nữa. Ở góc độ quản lý, hoạt động đầu cơ đất đai diễn ra đồng nghĩa với xu hướng chống lại việc đầu tư cải tạo đất. Vì vậy, đánh thuế đất đai cao lên sẽ hạn chế việc găm giữ đầu cơ đất, hướng tới việc khai thác sử dụng đất hiệu quả và phát triển bền vững.

Để bảo đảm quyền thu lợi của Nhà nước đối với tài sản công[4] là đất đai một cách hiệu quả, cần điều chỉnh thuế suất thuế sử dụng đất phi nông nghiệp theo hướng tăng. Thực tiễn kết quả thu thuế này ở Việt Nam rất thấp trong khi vai trò của nó rất lớn cả về mặt động viên ngân sách lẫn quản lý đất đai. Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có thuế suất trên 1% giá trị đất, trong khi Việt Nam thuế suất áp dụng với đất trong hạn mức là 0,03%. Thuế suất quá thấp, giá đất tính thuế lại là giá trong Bảng giá do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định, ổn định 5 năm. Giá đất do Ủy ban quy định trên thực tế cũng thấp hơn giá giao dịch phổ biến trên thị trường. Tất cả các yếu tố đó đã khiến thu thuế từ đất ở Việt Nam không tương xứng với loại thuế đánh trên giá trị đất đai, không bảo đảm quyền thu lợi từ tài sản công của Nhà nước.

ThS. Nguyễn Thị Thanh Xuân

Khoa Luật, Đại học Cần Thơ

Tài liệu tham khảo:

[1]. “Cải cách thuế ở Việt Nam: hướng tới một hệ thống hiệu quả và công bằng hơn”; đồng chủ biên: Ganadha Prasad Shukla, Phạm Minh Đức, Michael Engelschalk, Lê Minh Tuấn; Ban quản lý Kinh tế và Xóa đói giảm nghèo khu vực Châu Á Thái Bình Dương - Ngân hàng Thế giới, năm 2011, trang 257.

[2]. “Nhà ở giá hợp lý ở Việt Nam”, Ngân hàng Thế giới, 2015.

[3]. “Cải cách thuế ở Việt Nam: hướng tới một hệ thống hiệu quả và công bằng hơn”; đồng chủ biên: Ganadha Prasad Shukla, Phạm Minh Đức, Michael Engelschalk, Lê Minh Tuấn; Ban quản lý Kinh tế và Xóa đói giảm nghèo khu vực Châu Á Thái Bình Dương - Ngân hàng Thế giới, năm 2011, trang 258.

[4]. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Đảng cộng sản Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội – 2016, trang 105.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: