Thứ sáu 16/01/2026 09:44
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước cần phân tách rõ giữa chức năng quản lý nhà nước và quản lý của chủ sở hữu nhà nước

Trong một thời gian dài chúng ta đã có sự không rõ ràng về chức năng quản lý nhà nước và chức năng quản lý của chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Thực trạng phổ biến kéo dài trong nhiều năm qua là có quá nhiều cơ quan nhà nước luôn thực hiện song hành 02 vai: Vừa là chủ thể quản lý nhà nước vừa là chủ thể đại diện sở hữu DNNN hoặc đại diện phần vốn nhà nước tại các doanh nghiệp. Quá trình đẩy mạnh tái cấu trúc DNNN nhất định phải giải quyết vấn đề này bằng công cụ luật pháp.

1. Thực trạng pháp luật hiện hành

Nhận thức sự khác biệt rõ ràng giữa hai chức năng quản lý nhà nước và chức năng quản lý của chủ sở hữu nhà nước. Trong các quy định pháp luật hiện hành của Luật Doanh nghiệp năm 2014 (tiếp tục được kế thừa trong Luật Doanh nghiệp năm 2005); Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp và Nghị định số 99/2012/NĐ-CP ngày 15/11/2012 của Chính phủ về phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước và vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, đã quy định, phân định nội dung quản lý nhà nước với quản lý chủ sở hữu nhà nước đối với DNNN. Cụ thể:

Một là, với chức năng công quyền, nội dung quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp (gồm cả quản lý đối với các DNNN) bao gồm: (i) Ban hành, phổ biến và hướng dẫn thực hiện các văn bản pháp luật về doanh nghiệp và văn bản pháp luật có liên quan; (ii) Tổ chức đăng ký kinh doanh, hướng dẫn việc đăng ký kinh doanh bảo đảm thực hiện chiến lược, quy hoạch và kế hoạch định hướng phát triển kinh tế - xã hội; (iii) Tổ chức các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao đạo đức kinh doanh cho người quản lý doanh nghiệp; phẩm chất, chính trị, đạo đức, nghiệp vụ cho cán bộ quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp; đào tạo và xây dựng đội ngũ công nhân lành nghề; (iv) Thực hiện chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp theo định hướng và mục tiêu của chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; (v) Kiểm tra, thanh tra hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; xử lý các hành vi vi phạm pháp luật của doanh nghiệp, của cá nhân và tổ chức có liên quan theo quy định của pháp luật[1]...

Hai là, với tư các cách chủ sở hữu, cổ đông hoặc thành viên, Nhà nước thường trực tiếp hoặc gián tiếp (thông qua đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng thành viên) quyết định các vấn đề quan trọng sau của doanh nghiệp: (i) Quyết định thành lập, tổ chức lại và định đoạt doanh nghiệp; (ii) Quyết định nội dung điều lệ công ty, sửa đổi, bổ điều lệ công ty; (iii) Quyết định đầu tư vốn điều lệ; điều chỉnh, chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ; (iv) Quyết định chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh và kế hoạch đầu tư phát triển; (v) Quyết định cơ cấu tổ chức quản lý công ty; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh quản lý công ty; (vi) Phê duyệt chủ trương đầu tư, mua, bán tài sản và hợp đồng vay, cho vay; (vii) Quy định chế độ tài chính, phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ; phê duyệt báo cáo tài chính hàng năm; (ix) Quyết định thành lập công ty con, góp vốn vào công ty khác; (x) Tổ chức giám sát và đánh giá hoạt động kinh doanh của công ty[2]. Tuy nhiên, do DNNN được tổ chức dưới nhiều hình thức pháp lý, mối liên kết và cấp quyết định thành lập khác nhau nên việc thực hiện chức năng của chủ sở hữu nhà nước của cơ quan nhà nước trong thực tế hiện nay có sự khác biệt theo loại hình DNNN.

2. Một số hạn chế, tồn tại trong quá trình thực thi pháp luật

Quá trình thực thi pháp luật mặc dù đạt được một số kết quả, song việc tổ chức thực hiện chức năng chủ sở hữu nhà nước đối với DNNN còn những tồn tại, hạn chế chủ yếu sau:

Thứ nhất, chưa tách bạch rõ mục tiêu, công cụ, phương pháp, tổ chức bộ máy và cán bộ thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu với chức năng quản lý nhà nước. Thực tế cho thấy, bộ máy và cán bộ thuộc các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện đồng thời chức năng quản lý nhà nước và chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước. Tuy nhiên, việc chưa tách bạch rõ giữa hai chức năng này cả về mục tiêu, công cụ, phương pháp, tổ chức bộ máy và cán bộ thực hiện đã làm giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý của chủ sở hữu nhà nước cũng như quản lý nhà nước, cụ thể:

- Về bộ máy và cán bộ thực hiện: Việc thực hiện chức năng chủ sở hữu nhà nước hiện nay chỉ là một chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan hành chính nhà nước và chưa có sự tách bạch về bộ máy thực hiện chức năng chủ sở hữu nhà nước và chức năng quản lý nhà nước. Cán bộ tại những cơ quan này đồng thời thực hiện hai chức năng quản lý nhà nước và chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước.

- Về công cụ thực hiện: các cơ quan hành chính Nhà nước chưa có công cụ và biện pháp riêng để xử lý những vấn đề khi thực hiện chức năng chủ sở hữu, nhất là trong quá trình xem xét - phân tích - đánh giá - lựa chọn - ban hành quyết định mang tính chất kinh doanh của chủ sở hữu Nhà nước. Biểu hiện rõ nhất là hiện các cơ quan này vẫn sử dụng các hình thức văn bản hành chính Nhà nước để truyền tải quyết định chủ sở hữu.

Thứ hai, vẫn còn tình trạng phân tán, thiếu thống nhất, chuyên nghiệp và chuyên trách trong thực hiện quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ chủ sở hữu Nhà nước. Các quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước thường có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, từ phê duyệt điều lệ, quyết định mức vốn điều lệ, đầu tư, đánh giá hiệu quả đến quyết định mức tiền lương, tiền thưởng... Tuy nhiên, các quyền, nghĩa vụ này hiện nay vẫn được phân công, phân cấp cho các chủ thể khác nhau thực hiện. Cụ thể là:

- Về quyết định mục tiêu hoạt động và ngành, nghề kinh doanh của doanh nghiệp: Theo quy định hiện hành, bộ quản lý ngành có trách nhiệm đề nghị Thủ tướng Chính phủ quyết định mục tiêu, nhiệm vụ và ngành nghề kinh doanh của các tập đoàn kinh tế và Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước trên cơ sở ý kiến của các Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nội vụ, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội. Trong khi đó, mục tiêu hoạt động và ngành nghề kinh doanh là một nội dung của điều lệ tập đoàn kinh tế, tổng công ty - được phê duyệt theo một quy trình khác cả về thẩm quyền quyết định và sự tham gia của các cơ quan có liên quan (Chính phủ ban hành điều lệ dưới hình thức nghị định).

- Về thực hiện quyền quyết định chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh và kế hoạch đầu tư phát triển: Phương thức, hiệu lực phê duyệt chiến lược, kế hoạch 05 năm của các cơ quan đại diện chủ sở hữu không thực sự rõ; thiếu cơ chế gắn với kế hoạch hàng năm do Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty tự ban hành và thực hiện.

- Về công tác cán bộ: Cơ chế phối hợp giữa các cơ quan để quản lý nhân sự, tiền lương các chức danh lãnh đạo chủ chốt còn lúng túng. Thẩm quyền quyết định mức lương, thưởng tách khỏi thẩm quyền quyết định bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật Chủ tịch Hội đồng thành viên. Tiêu chuẩn, điều kiện, quyết định chi trả và nguồn chi trả lương, thưởng của kiểm soát viên tài chính, kiểm soát viên chuyên ngành chưa đủ rõ, dẫn tới chưa thực hiện được ở phần lớn tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước...

Thứ ba, chưa có cơ chế tạo động lực, chế tài cho tất cả các cơ quan, cá nhân hoàn thành tốt nhiệm vụ thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước được giao. Do số lượng cơ quan, cá nhân tham gia thực hiện quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước vẫn còn khá lớn nên khó có thể có cơ chế tạo động lực, chế tài cho tất cả các cơ quan, cá nhân hoàn thành tốt nhiệm vụ thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước được giao. Đồng thời việc trao quyền cho người đại diện phần vốn nhà nước tại DNNN quá lớn và chế độ báo cáo, xin ý kiến trước khi biểu quyết những vấn đề quan trọng của doanh nghiệp chưa được quy định cụ thể; cùng với việc kiểm tra giám sát hạn chế, không thường xuyên nên tính chất cảnh báo, phòng ngừa rủi ro trong quá trình hoạt động của nhiều DNNN không phát huy được hiệu quả như mong đợi (các trường hợp của Vinashin, Vinalines...)

3. Một số giải pháp trong thời gian tới

Một là, cần kịp thời thể chế hóa các quan điểm, định hướng của Đảng và Quốc hội về đổi mới mô hình tổ chức thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu Nhà nước đối với DNNN.

Cho đến nay, nhiều chủ trương lớn của Đảng chưa được thể chế hóa như: Chủ trương “Thu hẹp và tiến tới không còn chức năng đại diện chủ sở hữu của các bộ, UBND tỉnh, thành phố đối với DNNN” tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X. “Tách bạch vai trò của Nhà nước với tư cách là bộ máy công quyền quản lý toàn bộ nền kinh tế - xã hội với vai trò chủ sở hữu tài sản, vốn của Nhà nước” tại Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa X; “Cần xác định rõ cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm quản lý toàn diện doanh nghiệp nhà nước, bao gồm cả vốn, tài sản và nhân sự, cả doanh nghiệp 100% vốn nhà nước và doanh nghiệp có phần vốn nhà nước; xác định rõ quyền và nghĩa vụ của tổ chức và cá nhân quản lý vốn nhà nước trong kinh doanh” tại Hội nghị lần thứ chín Ban chấp hành Trung ương khóa X; “Nghiên cứu hình thành các tổ chức quản lý đầu tư, kinh doanh có hiệu quả các nguồn vốn, tài sản của Nhà nước, khắc phục tình trạng bộ máy quản lý hành chính” tại Đại hội Đảng toàn quốc khóa XI; “Sớm xác định cơ quan Nhà nước đóng vai trò chủ sở hữu doanh nghiệp, khắc phục tình trạng không rõ ràng hiện nay”[3]. Theo thẩm quyền, Quốc hội đã yêu cầu: “Thực hiện triệt để hơn việc tách chức năng thực hiện các quyền chủ sở hữu với chức năng quản lý hành chính nhà nước, tách bạch rõ ràng thực hiện quyền chủ sở hữu và quyền chủ động kinh doanh của doanh nghiệp; tôn trọng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong kinh doanh của doanh nghiệp. Hoàn thiện cơ chế phân cấp việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước theo nguyên tắc có một đầu mối chịu trách nhiệm chính, thực hiện nhiệm vụ theo dõi, tổng hợp tình hình quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước và phân tích, đánh giá hiệu quản sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước, kể cả các tập đoàn, tổng công ty đặc biệt”[4].

Luật Doanh nghiệp năm 2005, năm 2014 cũng đã quy định công ty TNHH một thành viên chỉ có “một tổ chức hoặc cá nhân làm chủ sở hữu”; thực hiện quyền chủ sở hữu với vai trò người đầu tư vốn, tách biệt chức năng thực hiện quyền chủ sở hữu đối với chức năng quản lý hành chính nhà nước; thực hiện thống nhất và tập trung các quyền và nghĩa vụ chủ sở hữu về vốn. Tuy nhiên các quy định này đến nay chưa được thực hiện triệt để.

Hai là, khung và pháp luật cần quy định rõ hơn điều kiện chuẩn hóa năng lực, công cụ và bộ máy thực hiện chức năng giám sát của chủ sở hữu nhà nước. Cụ thể:

- Cách thức thực hiện giám sát, đánh giá của chủ sở hữu nhà nước chủ yếu căn cứ vào các báo cáo của DNNN mang tính thống kê hơn là báo cáo tình hình thực hiện mục tiêu của chủ sở hữu, trong khi cơ chế xác định tính xác thực của các báo cáo này còn bị bỏ ngỏ.

- Việc giám sát, đánh giá của chủ sở hữu chủ yếu căn cứ vào kết quả thực hiện so với kế hoạch do các DNNN tự xây dựng và đăng ký nên chưa phản ánh rõ được yêu cầu và đòi hỏi của chủ sở hữu nhà nước đối với các DNNN, nhất là đối với các tập đoàn kinh tế và tổng công ty quy mô lơn và quan trọng. Hơn nữa, các chỉ tiêu giám sát, đánh giá chủ yếu thiên về các chỉ tiêu tài chính mà chưa quan tâm đúng mức đến đánh giá một số vấn đề quan trọng khác, như: Tình hình chấp hành quyết định của chủ sở hữu Nhà nước, triển khai các dự án được phê duyệt, công tác bổ nhiệm cán bộ, cử người đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại các doanh nghiệp thành viên...

- Hiện nay việc thực thi trách nhiệm xây dựng, hình thành và quản lý hệ thống cơ sở dữ liệu, thông tin về DNNN nói chung, tập đoàn kinh tế nói riêng để phục vụ công tác giám sát, đánh giá còn hạn chế (thông tin thiếu và chưa cập nhật, thiếu sự phối hợp và chia sẻ thông tin giữa các cơ quan gây lãng phí).

- Cơ chế giám sát hiện nay mới tập trung vào việc giám sát, đánh giá các doanh nghiệp mà chưa chú trọng đến giám sát quá trình thực thi chức năng chủ sở hữu nhà nước.

- Do chưa có đủ căn cứ, tiêu chí để giám sát, đánh giá những người giữ chức danh đại diện trực tiếp chủ sở hữu nhà nước tại DNNN (gồm các thành viên Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên, kiểm soát viên, người đại diện vốn,...) nên khó có thể đánh giá việc hoàn thành hay chưa hoàn thành nhiệm vụ của từng thành viên Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên, kiểm soát viên, người đại diện vốn để có những điều chỉnh kịp thời về công tác nhân sự.

Ba là, thực hiện chức năng chủ sở hữu nhà nước đối với DNNN là vấn đề khó khăn, chưa có giải pháp khắc phục triệt để ở mọi quốc gia trên thế giới. Nguyên nhân nằm ở bản chất của sở hữu nhà nước (hay sở hữu quốc gia, sở hữu toàn dân...) và đặc thù trong quan hệ đại diện chủ sở hữu.

Tóm lại, trong tiến trình tái cấu trúc DNNN, tiến tới đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp. Trên cơ sở đã nhận thức được những tồn tại, khiếm khuyết của mô hình cũ và đã đề ra chủ trương đổi mới mô hình tổ chức thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu và tách bạch chức năng chủ sở hữu nhà nước với chức năng quản lý nhà nước của các cơ quan hành chính nhà nước đối với DNNN từ nhiều năm trước. Mục tiêu nhằm hướng tới việc hình thành hệ thống cơ chế, chính sách sở hữu rõ ràng, nhất quán, đảm bảo việc quản trị DNNN nói chung và chức năng chủ sở hữu nhà nước nói riêng được thực hiện một cách minh bạch, có trách nhiệm với mức độ chuyên nghiệp và hiệu quả cần thiết, phù hợp với thông lệ quốc tế và cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO. Đây cũng là một trong những giải pháp quan trọng, là điểm tựa để đẩy mạnh đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của chủ sở hữu Nhà nước đối với DNNN và hiệu quả hoạt động để DNNN đảm trách tốt vai trò, nhiệm vụ của mình trong nền kinh tế.

ThS. Phạm Thị Hồng Nhung

Học viện Tài chính


[1] Điều 8, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp và Nghị định số 99/2012/NĐ-CP.

[2] Chương 4, Luật Doanh nghiệp năm 2014.

[3] Xem: Kết luận số 02-KL/TW ngày 16/3/2011 của Bộ Chính trị

[4] Nghị quyết số 42/2009/QH12 ngày 27/11/2009

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: