Thứ năm 15/01/2026 18:34
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin tội phạm theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

Bài viết này tập trung phân tích quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) về tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin tội phạm, đồng thời, chỉ ra một số khó khăn, vướng mắc và đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về vấn đề này trong thời gian tới.

1. Khái niệm nguồn tin tội phạm, tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin tội phạm

Nguồn tin tội phạm là nơi bắt đầu những thông tin có dấu hiệu tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015), lần đầu tiên được Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2021 (Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015) quy định: “...gồm tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của cơ quan, tổ chức, cá nhân, lời khai của người phạm tội tự thú và thông tin về tội phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện”[1].

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không có quy định về khái niệm tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm. Tuy nhiên, qua nghiên cứu, có thể hiểu, đây là việc cơ quan có thẩm quyền ra quyết định tạm ngừng giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong một khoảng thời gian nhất định khi xuất hiện những căn cứ do pháp luật quy định mà chưa đủ cơ sở để ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự[2].

Tương tự như các quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định không khởi tố vụ án hình sự, tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm là một trong các quyết định tố tụng hình sự mà các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể ban hành trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự. Tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm là việc tạm ngừng tiến hành các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, phải dựa vào những căn cứ mà Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định, không được tùy nghi áp dụng vô căn cứ và phải được thực hiện theo trình tự, thủ tục và đúng thẩm quyền được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

2. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm

Thứ nhất, về căn cứ tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, việc tạm đình chỉ giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố, hay nói cách khác là việc tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin tội phạm được thực hiện khi hết thời hạn giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố (được quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015) và thuộc một trong các trường hợp sau:

- Đã trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp nhưng chưa có kết quả (điểm a khoản 1 Điều 148): Hiện nay, việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng còn bị phụ thuộc vào hoạt động của các cơ quan hỗ trợ tư pháp (cơ quan giám định, hội đồng định giá…), nhiều trường hợp đều bắt buộc phải chờ kết quả của những cơ quan này để quyết định việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự. Đây là căn cứ phù hợp và đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn trong quá trình giải quyết nguồn tin về tội phạm, mở ra cơ sở pháp lý mới cho việc tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, tạo điều kiện cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng được phép tạm ngưng các hoạt động, không tính thời hạn giải quyết trong khi chờ kết quả từ các cơ quan chuyên môn thực hiện công tác giám định tư pháp, định giá tài sản và kết quả trả lời tương trợ tư pháp từ nước ngoài thông qua cơ quan có thẩm quyền ủy thác tư pháp, bảo đảm tính hợp pháp của chứng cứ.

- Đã yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án nhưng chưa có kết quả (điểm b khoản 1 Điều 148): Đây cũng là căn cứ tạo điều kiện cho các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thời gian trong việc thu thập chứng cứ ở giai đoạn giải quyết nguồn tin về tội phạm. Khác với điểm a khoản 1 Điều 148, chủ thể được yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu để phục vụ cho hoạt động xác minh, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố ở trường hợp này không phải là những cơ quan có chức năng thực hiện những công việc chuyên môn như cơ quan giám định, hội đồng định giá… mà là những cá nhân, tổ chức cụ thể trong xã hội.

Trong thực tiễn thụ lý giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, nhiều trường hợp, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thông qua việc thực hiện nhiệm vụ có quyền yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân hỗ trợ xác minh bằng hình thức cung cấp những thông tin, đồ vật mà họ quản lý, nắm được, biết được và có liên quan trong việc giải quyết nguồn tin về tội phạm, là cơ sở làm rõ nội dung vụ việc, xác định vụ việc có dấu hiệu tội phạm hình sự hay không.

Về hình thức yêu cầu, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng yêu cầu cơ quan, tổ chức cung cấp thông tin, tài liệu phải thông qua hình thức văn bản, có ký tên và đóng dấu của cơ quan ban hành yêu cầu xác minh, sau đó được gửi đến trụ sở, cơ sở của cơ quan, tổ chức hoặc địa chỉ của cá nhân được yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu. Thời hạn trả lời kết quả xác minh chưa được Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định cụ thể, tùy thuộc vào thời hạn trả lời của cơ quan, tổ chức được yêu cầu hoặc có thể quy định sẵn trong văn bản yêu cầu. Do vậy, trong thời gian chờ các cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin thì Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cho phép cơ quan có thẩm quyền tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm cho đến khi có kết quả trả lời là hoàn toàn hợp lý.

- Không thể kết thúc việc kiểm tra, xác minh để quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án vì lý do bất khả kháng do thiên tai, dịch bệnh: Đây là căn cứ mới được bổ sung vào Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2021. Lý do bất khả kháng do thiên tai, dịch bệnh là những trở ngại, hạn chế do khách quan đem lại, là những khó khăn, vướng mắc cấp bách từ thực tiễn cần được xem xét, tháo gỡ để đáp ứng yêu cầu công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội và để các cơ quan có thẩm quyền ban hành các quyết định tố tụng có căn cứ, đúng pháp luật.

Thông tư liên tịch số 01/2021/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP-BNN&PTNT-BTC ngày 29/11/2021 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ trưởng Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNNPTNT-VKSNDTC ngày 29/12/2017 của Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định việc phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố (Thông tư liên tịch số 01/2021/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP-BNN&PTNT-BTC), có quy định chi tiết việc áp dụng căn cứ tạm đình chỉ vì lý do bất khả kháng do thiên tai, dịch bệnh theo điểm c khoản 1 Điều 148, điểm d khoản 1 Điều 229 và điểm d khoản 1 Điều 247 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Thứ hai, thẩm quyền tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm.

Khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Hết thời hạn quy định tại Điều 147 của Bộ luật này, cơ quan có thẩm quyền giải quyết quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố khi thuộc một trong các trường hợp:…”. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết trong quy định này được hiểu là cơ quan có thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm, bao gồm ba chủ thể: Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và Viện kiểm sát[3]. Như vậy, theo quy định của pháp luật, chủ thể có thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm cũng đồng thời là chủ thể có thẩm quyền tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm. Quy định này là hợp lý vì chỉ các cơ quan đang tiến hành các hoạt động kiểm tra, xác minh mới hiểu rõ về tiến độ, đặc điểm và xác định đúng căn cứ cũng như sự cần thiết phải tạm ngưng quá trình giải quyết các nguồn tin về tội phạm.

Thứ ba, thời hạn tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm.

Hiện nay, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành chưa có quy định về thời hạn tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố về tội phạm. Như vậy, có nghĩa là, thời hạn của hoạt động này sẽ kéo dài cho đến khi lý do tạm đình chỉ không còn và các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ra quyết định phục hồi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố khi có căn cứ theo luật định.

Thứ tư, trình tự, thủ tục tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm.

Để ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải căn cứ theo trình tự, thủ tục được quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không quy định rõ là cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ được phép tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm sau khi đã hết thời hạn tối đa (bao gồm cả thời gian được gia hạn). Do vậy, khi hết thời hạn xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố mà cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng nhận thấy có căn cứ để tạm đình chỉ thì có thể ban hành ngay quyết định tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố mà không cần chờ hết thời hạn gia hạn. Quy định này là cần thiết, tránh kéo dài thời hạn tố tụng.

Sau khi cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ban hành quyết định tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thì trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố phải gửi quyết định tạm đình chỉ kèm theo các tài liệu liên quan đến Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền để thực hiện chức năng kiểm sát. Viện kiểm sát có trách nhiệm xem xét, đánh giá căn cứ tạm đình chỉ của cơ quan điều tra có tính hợp pháp hay không. Bên cạnh đó, cơ quan đã ban hành quyết định tạm đình chỉ phải gửi quyết định đó cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố để thông báo kết quả giải quyết nguồn tin.

Trong trường hợp Viện kiểm sát nhận thấy không có căn cứ để tạm đình chỉ theo quy định tại khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ nguồn tin về tội phạm đó và có văn bản yêu cầu cơ quan điều tra, cơ quan được giao một số nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tiếp tục giải quyết vụ việc. Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Viện kiểm sát phải gửi quyết định này cho cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố để thông báo về kết quả hủy tạm đình chỉ. Thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố sau khi hủy tạm đình chỉ là không quá 01 tháng kể từ ngày cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhận được quyết định hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ.

3. Một số vấn đề vướng mắc và hướng hoàn thiện

Thứ nhất, căn cứ tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm còn chưa rõ ràng, chặt chẽ, còn bỏ sót các trường hợp vì lý do khách quan trong thực tế dẫn đến cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng không thể kịp thời giải quyết nguồn tin tội phạm trong thời hạn luật định.

Để có sự thống nhất giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi áp dụng căn cứ tại điểm b khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì liên ngành tư pháp Trung ương cần thống nhất ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng căn cứ tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố theo đúng tinh thần của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về việc xác định những tài liệu, đồ vật quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án đã yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp nhưng chưa có kết quả là căn cứ để việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

Bên cạnh đó, bổ sung thêm căn cứ tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm quy định tại khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đối với trường hợp: “Chưa xác định được hoặc không biết rõ người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố đang ở đâu mà việc lấy lời khai của họ có ý nghĩa quyết định đối với việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự”. Việc bổ sung này cũng phù hợp với quy định về căn cứ tạm đình chỉ điều tra tại khoản 1 Điều 229 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: “Khi chưa xác định được bị can hoặc không biết rõ bị can đang ở đâu nhưng đã hết thời hạn điều tra vụ án”.

Thứ hai, hiện nay, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chưa quy định số lần cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng được phép tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về căn cứ, thẩm quyền tạm đình chỉ (Điều 148) và thẩm quyền, thời hạn giải quyết sau khi phục hồi giải quyết nguồn tin về tội phạm (Điều 149) thì không giới hạn số lần tạm đình chỉ. Hướng dẫn liên ngành số 2010/HDLN ngày 18/5/2021 giải đáp vướng mắc trong quá trình giải quyết các vụ án, vụ việc tạm đình chỉ, vụ việc tạm dừng giải quyết của Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra, Bộ Công an và Vụ Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án ma túy, Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành tại Tiểu mục 5 Mục I cũng giải đáp: “Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không quy định số lần tạm đình chỉ giải quyết đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Việc tạm đình chỉ, phục hồi giải quyết đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố cần phải thực hiện đúng quy định tại Điều 148, Điều 149 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015”. Tuy nhiên, nếu tạm đình chỉ sau đó phục hồi, phục hồi rồi lại tạm đình chỉ sẽ dẫn đến việc giải quyết kéo dài, hoặc xảy ra tình trạng thiếu trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền.

Để hạn chế trường hợp các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng lạm dụng việc tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm, cần bổ sung quy định ở Điều 148 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về việc quy định số lần cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng được phép tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong quá trình kiểm tra, xác minh đối với một nguồn tin về tội phạm. Trong hoạt động tố tụng này chỉ nên áp dụng tối đa không quá 02 lần tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm nhằm hạn chế việc lạm dụng quy định này và bảo đảm hiệu quả trong việc xác minh, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, không để xảy ra trường hợp hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng vụ việc vẫn chưa được xác minh, giải quyết.

Thứ ba, quy định thẩm quyền tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm chưa thống nhất với thẩm quyền phục hồi giải quyết nguồn tin về tội phạm.

Theo điểm c khoản 3 Điều 145 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì Viện kiểm sát cũng có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Thẩm quyền trực tiếp giải quyết của Viện kiểm sát được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được hiểu là Viện kiểm sát được phép tiến hành tất cả các hoạt động xác minh, được phép ban hành tất cả các quyết định tố tụng trong giai đoạn nguồn tin tương tự như thẩm quyền giải quyết của cơ quan điều tra do luật quy định (quyết định việc khởi tố, không khởi tố vụ án hình sự, tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm). Theo khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Viện kiểm sát cũng là chủ thể có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Tuy nhiên, khoản 1 Điều 149 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không đề cập đến thẩm quyền phục hồi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của Viện kiểm sát. Trong khi đó, phục hồi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố cũng là một trong những hoạt động nằm trong quy trình giải quyết của nguồn tin về tội phạm. Đây là một quy định còn mang tính mâu thuẫn và thiếu sót trong việc quy định về thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Do vậy, cần sửa đổi Điều 149 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 theo hướng bổ sung thêm chủ thể là Viện kiểm sát có thẩm quyền ra quyết định phục hồi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố nhằm tạo tính thống nhất trong việc áp dụng pháp luật.

Thứ tư, theo khoản 2 Điều 148 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, trường hợp quyết định tạm đình chỉ không có căn cứ thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ để tiếp tục giải quyết. Thời hạn giải quyết tiếp không quá 01 tháng, kể từ ngày cơ quan thụ lý nhận được quyết định hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không giới hạn số lần tạm đình chỉ, cơ quan thụ lý có thể tiếp tục ra quyết định tạm đình chỉ sau khi Viện kiểm sát quyết định hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ và cũng không giới hạn số lần Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ nếu xét thấy quyết định tạm đình chỉ không có căn cứ. Tuy nhiên, nếu tạm đình chỉ sau đó hủy bỏ, hủy bỏ rồi lại tạm đình chỉ sẽ kéo dài thời gian giải quyết, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Vì vậy, cần thiết tiếp tục nghiên cứu, ban hành hướng dẫn giải đáp rõ hơn về số lần tạm đình chỉ và số lần hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố nhằm áp dụng thống nhất trên thực tiễn, tránh tình trạng tùy nghi. Theo tác giả, trong hoạt động tố tụng này, cũng chỉ nên áp dụng tối đa không quá 02 lần hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin tội phạm nhằm hạn chế việc lạm dụng quy định này và bảo đảm hiệu quả trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

Thứ năm, hiện nay, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chưa quy định thời hạn Viện kiểm sát quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm dẫn đến còn bất cập trên thực tế.

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Thông tư liên tịch số 01/2021/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP-BNN&PTNT-BTC chưa quy định thời hạn kiểm sát quyết định tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Điều này có thể dẫn đến thời hạn kiểm sát bị kéo dài, không có cơ sở kết luận căn cứ tạm đình chỉ của cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có đúng quy định của pháp luật hay không. Nhiều trường hợp, Viện kiểm sát chưa có văn bản thống nhất đối với căn cứ tạm đình chỉ của cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhưng khi phát sinh căn cứ phục hồi thì cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra đã ban hành quyết định phục hồi việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

Vì vậy, liên ngành tư pháp Trung ương cần ban hành văn bản hướng dẫn thời hạn Viện kiểm sát kiểm sát quyết định tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm nhằm bảo đảm sự thống nhất về thời hạn trước khi cơ quan điều tra ban hành các quyết định tố tụng tiếp theo, tránh trường hợp ban hành các quyết định tố tụng không bảo đảm tính hợp pháp theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Đối chiếu với các quy định tương ứng khác trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì thời hạn này có thể là 03 ngày, kể từ ngày Viện kiểm sát nhận được quyết định tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm của cơ quan điều tra.

ThS. Ngô Thị Thùy Trang

Trường Đại học Cảnh sát nhân dân

[1]. Điểm d khoản 1 Điều 4 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021).

[2]. Vũ Trịnh Hải Việt, Ngô Thị Thùy Trang (2023), Tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin tội phạm theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, Chuyên đề dùng cho đào tạo trình độ Đại học Cảnh sát nhân dân hệ chính quy 04 năm theo tín chỉ, Trường Đại học Cảnh sát nhân dân, Thành phố Hồ Chí Minh.

[3]. Khoản 3 Điều 145 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021).

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 390), tháng 10/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: