Thứ bảy 05/09/2026 21:37
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin tội phạm theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

Bài viết này tập trung phân tích quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) về tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin tội phạm, đồng thời, chỉ ra một số khó khăn, vướng mắc và đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về vấn đề này trong thời gian tới.

1. Khái niệm nguồn tin tội phạm, tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin tội phạm

Nguồn tin tội phạm là nơi bắt đầu những thông tin có dấu hiệu tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015), lần đầu tiên được Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2021 (Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015) quy định: “...gồm tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của cơ quan, tổ chức, cá nhân, lời khai của người phạm tội tự thú và thông tin về tội phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện”[1].

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không có quy định về khái niệm tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm. Tuy nhiên, qua nghiên cứu, có thể hiểu, đây là việc cơ quan có thẩm quyền ra quyết định tạm ngừng giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong một khoảng thời gian nhất định khi xuất hiện những căn cứ do pháp luật quy định mà chưa đủ cơ sở để ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự[2].

Tương tự như các quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định không khởi tố vụ án hình sự, tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm là một trong các quyết định tố tụng hình sự mà các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể ban hành trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự. Tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm là việc tạm ngừng tiến hành các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, phải dựa vào những căn cứ mà Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định, không được tùy nghi áp dụng vô căn cứ và phải được thực hiện theo trình tự, thủ tục và đúng thẩm quyền được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

2. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm

Thứ nhất, về căn cứ tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, việc tạm đình chỉ giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố, hay nói cách khác là việc tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin tội phạm được thực hiện khi hết thời hạn giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố (được quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015) và thuộc một trong các trường hợp sau:

- Đã trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp nhưng chưa có kết quả (điểm a khoản 1 Điều 148): Hiện nay, việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng còn bị phụ thuộc vào hoạt động của các cơ quan hỗ trợ tư pháp (cơ quan giám định, hội đồng định giá…), nhiều trường hợp đều bắt buộc phải chờ kết quả của những cơ quan này để quyết định việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự. Đây là căn cứ phù hợp và đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn trong quá trình giải quyết nguồn tin về tội phạm, mở ra cơ sở pháp lý mới cho việc tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, tạo điều kiện cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng được phép tạm ngưng các hoạt động, không tính thời hạn giải quyết trong khi chờ kết quả từ các cơ quan chuyên môn thực hiện công tác giám định tư pháp, định giá tài sản và kết quả trả lời tương trợ tư pháp từ nước ngoài thông qua cơ quan có thẩm quyền ủy thác tư pháp, bảo đảm tính hợp pháp của chứng cứ.

- Đã yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án nhưng chưa có kết quả (điểm b khoản 1 Điều 148): Đây cũng là căn cứ tạo điều kiện cho các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thời gian trong việc thu thập chứng cứ ở giai đoạn giải quyết nguồn tin về tội phạm. Khác với điểm a khoản 1 Điều 148, chủ thể được yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu để phục vụ cho hoạt động xác minh, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố ở trường hợp này không phải là những cơ quan có chức năng thực hiện những công việc chuyên môn như cơ quan giám định, hội đồng định giá… mà là những cá nhân, tổ chức cụ thể trong xã hội.

Trong thực tiễn thụ lý giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, nhiều trường hợp, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thông qua việc thực hiện nhiệm vụ có quyền yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân hỗ trợ xác minh bằng hình thức cung cấp những thông tin, đồ vật mà họ quản lý, nắm được, biết được và có liên quan trong việc giải quyết nguồn tin về tội phạm, là cơ sở làm rõ nội dung vụ việc, xác định vụ việc có dấu hiệu tội phạm hình sự hay không.

Về hình thức yêu cầu, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng yêu cầu cơ quan, tổ chức cung cấp thông tin, tài liệu phải thông qua hình thức văn bản, có ký tên và đóng dấu của cơ quan ban hành yêu cầu xác minh, sau đó được gửi đến trụ sở, cơ sở của cơ quan, tổ chức hoặc địa chỉ của cá nhân được yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu. Thời hạn trả lời kết quả xác minh chưa được Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định cụ thể, tùy thuộc vào thời hạn trả lời của cơ quan, tổ chức được yêu cầu hoặc có thể quy định sẵn trong văn bản yêu cầu. Do vậy, trong thời gian chờ các cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin thì Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cho phép cơ quan có thẩm quyền tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm cho đến khi có kết quả trả lời là hoàn toàn hợp lý.

- Không thể kết thúc việc kiểm tra, xác minh để quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án vì lý do bất khả kháng do thiên tai, dịch bệnh: Đây là căn cứ mới được bổ sung vào Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2021. Lý do bất khả kháng do thiên tai, dịch bệnh là những trở ngại, hạn chế do khách quan đem lại, là những khó khăn, vướng mắc cấp bách từ thực tiễn cần được xem xét, tháo gỡ để đáp ứng yêu cầu công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội và để các cơ quan có thẩm quyền ban hành các quyết định tố tụng có căn cứ, đúng pháp luật.

Thông tư liên tịch số 01/2021/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP-BNN&PTNT-BTC ngày 29/11/2021 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ trưởng Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNNPTNT-VKSNDTC ngày 29/12/2017 của Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định việc phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố (Thông tư liên tịch số 01/2021/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP-BNN&PTNT-BTC), có quy định chi tiết việc áp dụng căn cứ tạm đình chỉ vì lý do bất khả kháng do thiên tai, dịch bệnh theo điểm c khoản 1 Điều 148, điểm d khoản 1 Điều 229 và điểm d khoản 1 Điều 247 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Thứ hai, thẩm quyền tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm.

Khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Hết thời hạn quy định tại Điều 147 của Bộ luật này, cơ quan có thẩm quyền giải quyết quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố khi thuộc một trong các trường hợp:…”. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết trong quy định này được hiểu là cơ quan có thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm, bao gồm ba chủ thể: Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và Viện kiểm sát[3]. Như vậy, theo quy định của pháp luật, chủ thể có thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm cũng đồng thời là chủ thể có thẩm quyền tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm. Quy định này là hợp lý vì chỉ các cơ quan đang tiến hành các hoạt động kiểm tra, xác minh mới hiểu rõ về tiến độ, đặc điểm và xác định đúng căn cứ cũng như sự cần thiết phải tạm ngưng quá trình giải quyết các nguồn tin về tội phạm.

Thứ ba, thời hạn tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm.

Hiện nay, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành chưa có quy định về thời hạn tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố về tội phạm. Như vậy, có nghĩa là, thời hạn của hoạt động này sẽ kéo dài cho đến khi lý do tạm đình chỉ không còn và các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ra quyết định phục hồi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố khi có căn cứ theo luật định.

Thứ tư, trình tự, thủ tục tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm.

Để ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải căn cứ theo trình tự, thủ tục được quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không quy định rõ là cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ được phép tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm sau khi đã hết thời hạn tối đa (bao gồm cả thời gian được gia hạn). Do vậy, khi hết thời hạn xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố mà cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng nhận thấy có căn cứ để tạm đình chỉ thì có thể ban hành ngay quyết định tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố mà không cần chờ hết thời hạn gia hạn. Quy định này là cần thiết, tránh kéo dài thời hạn tố tụng.

Sau khi cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ban hành quyết định tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thì trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố phải gửi quyết định tạm đình chỉ kèm theo các tài liệu liên quan đến Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền để thực hiện chức năng kiểm sát. Viện kiểm sát có trách nhiệm xem xét, đánh giá căn cứ tạm đình chỉ của cơ quan điều tra có tính hợp pháp hay không. Bên cạnh đó, cơ quan đã ban hành quyết định tạm đình chỉ phải gửi quyết định đó cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố để thông báo kết quả giải quyết nguồn tin.

Trong trường hợp Viện kiểm sát nhận thấy không có căn cứ để tạm đình chỉ theo quy định tại khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ nguồn tin về tội phạm đó và có văn bản yêu cầu cơ quan điều tra, cơ quan được giao một số nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tiếp tục giải quyết vụ việc. Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Viện kiểm sát phải gửi quyết định này cho cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố để thông báo về kết quả hủy tạm đình chỉ. Thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố sau khi hủy tạm đình chỉ là không quá 01 tháng kể từ ngày cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhận được quyết định hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ.

3. Một số vấn đề vướng mắc và hướng hoàn thiện

Thứ nhất, căn cứ tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm còn chưa rõ ràng, chặt chẽ, còn bỏ sót các trường hợp vì lý do khách quan trong thực tế dẫn đến cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng không thể kịp thời giải quyết nguồn tin tội phạm trong thời hạn luật định.

Để có sự thống nhất giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi áp dụng căn cứ tại điểm b khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì liên ngành tư pháp Trung ương cần thống nhất ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng căn cứ tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố theo đúng tinh thần của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về việc xác định những tài liệu, đồ vật quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án đã yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp nhưng chưa có kết quả là căn cứ để việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

Bên cạnh đó, bổ sung thêm căn cứ tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm quy định tại khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đối với trường hợp: “Chưa xác định được hoặc không biết rõ người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố đang ở đâu mà việc lấy lời khai của họ có ý nghĩa quyết định đối với việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự”. Việc bổ sung này cũng phù hợp với quy định về căn cứ tạm đình chỉ điều tra tại khoản 1 Điều 229 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: “Khi chưa xác định được bị can hoặc không biết rõ bị can đang ở đâu nhưng đã hết thời hạn điều tra vụ án”.

Thứ hai, hiện nay, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chưa quy định số lần cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng được phép tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về căn cứ, thẩm quyền tạm đình chỉ (Điều 148) và thẩm quyền, thời hạn giải quyết sau khi phục hồi giải quyết nguồn tin về tội phạm (Điều 149) thì không giới hạn số lần tạm đình chỉ. Hướng dẫn liên ngành số 2010/HDLN ngày 18/5/2021 giải đáp vướng mắc trong quá trình giải quyết các vụ án, vụ việc tạm đình chỉ, vụ việc tạm dừng giải quyết của Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra, Bộ Công an và Vụ Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án ma túy, Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành tại Tiểu mục 5 Mục I cũng giải đáp: “Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không quy định số lần tạm đình chỉ giải quyết đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Việc tạm đình chỉ, phục hồi giải quyết đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố cần phải thực hiện đúng quy định tại Điều 148, Điều 149 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015”. Tuy nhiên, nếu tạm đình chỉ sau đó phục hồi, phục hồi rồi lại tạm đình chỉ sẽ dẫn đến việc giải quyết kéo dài, hoặc xảy ra tình trạng thiếu trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền.

Để hạn chế trường hợp các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng lạm dụng việc tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm, cần bổ sung quy định ở Điều 148 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về việc quy định số lần cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng được phép tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong quá trình kiểm tra, xác minh đối với một nguồn tin về tội phạm. Trong hoạt động tố tụng này chỉ nên áp dụng tối đa không quá 02 lần tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm nhằm hạn chế việc lạm dụng quy định này và bảo đảm hiệu quả trong việc xác minh, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, không để xảy ra trường hợp hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng vụ việc vẫn chưa được xác minh, giải quyết.

Thứ ba, quy định thẩm quyền tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm chưa thống nhất với thẩm quyền phục hồi giải quyết nguồn tin về tội phạm.

Theo điểm c khoản 3 Điều 145 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì Viện kiểm sát cũng có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Thẩm quyền trực tiếp giải quyết của Viện kiểm sát được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được hiểu là Viện kiểm sát được phép tiến hành tất cả các hoạt động xác minh, được phép ban hành tất cả các quyết định tố tụng trong giai đoạn nguồn tin tương tự như thẩm quyền giải quyết của cơ quan điều tra do luật quy định (quyết định việc khởi tố, không khởi tố vụ án hình sự, tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm). Theo khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Viện kiểm sát cũng là chủ thể có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Tuy nhiên, khoản 1 Điều 149 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không đề cập đến thẩm quyền phục hồi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của Viện kiểm sát. Trong khi đó, phục hồi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố cũng là một trong những hoạt động nằm trong quy trình giải quyết của nguồn tin về tội phạm. Đây là một quy định còn mang tính mâu thuẫn và thiếu sót trong việc quy định về thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Do vậy, cần sửa đổi Điều 149 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 theo hướng bổ sung thêm chủ thể là Viện kiểm sát có thẩm quyền ra quyết định phục hồi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố nhằm tạo tính thống nhất trong việc áp dụng pháp luật.

Thứ tư, theo khoản 2 Điều 148 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, trường hợp quyết định tạm đình chỉ không có căn cứ thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ để tiếp tục giải quyết. Thời hạn giải quyết tiếp không quá 01 tháng, kể từ ngày cơ quan thụ lý nhận được quyết định hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không giới hạn số lần tạm đình chỉ, cơ quan thụ lý có thể tiếp tục ra quyết định tạm đình chỉ sau khi Viện kiểm sát quyết định hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ và cũng không giới hạn số lần Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ nếu xét thấy quyết định tạm đình chỉ không có căn cứ. Tuy nhiên, nếu tạm đình chỉ sau đó hủy bỏ, hủy bỏ rồi lại tạm đình chỉ sẽ kéo dài thời gian giải quyết, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Vì vậy, cần thiết tiếp tục nghiên cứu, ban hành hướng dẫn giải đáp rõ hơn về số lần tạm đình chỉ và số lần hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố nhằm áp dụng thống nhất trên thực tiễn, tránh tình trạng tùy nghi. Theo tác giả, trong hoạt động tố tụng này, cũng chỉ nên áp dụng tối đa không quá 02 lần hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin tội phạm nhằm hạn chế việc lạm dụng quy định này và bảo đảm hiệu quả trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

Thứ năm, hiện nay, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chưa quy định thời hạn Viện kiểm sát quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm dẫn đến còn bất cập trên thực tế.

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Thông tư liên tịch số 01/2021/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP-BNN&PTNT-BTC chưa quy định thời hạn kiểm sát quyết định tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Điều này có thể dẫn đến thời hạn kiểm sát bị kéo dài, không có cơ sở kết luận căn cứ tạm đình chỉ của cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có đúng quy định của pháp luật hay không. Nhiều trường hợp, Viện kiểm sát chưa có văn bản thống nhất đối với căn cứ tạm đình chỉ của cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhưng khi phát sinh căn cứ phục hồi thì cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra đã ban hành quyết định phục hồi việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

Vì vậy, liên ngành tư pháp Trung ương cần ban hành văn bản hướng dẫn thời hạn Viện kiểm sát kiểm sát quyết định tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm nhằm bảo đảm sự thống nhất về thời hạn trước khi cơ quan điều tra ban hành các quyết định tố tụng tiếp theo, tránh trường hợp ban hành các quyết định tố tụng không bảo đảm tính hợp pháp theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Đối chiếu với các quy định tương ứng khác trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì thời hạn này có thể là 03 ngày, kể từ ngày Viện kiểm sát nhận được quyết định tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm của cơ quan điều tra.

ThS. Ngô Thị Thùy Trang

Trường Đại học Cảnh sát nhân dân

[1]. Điểm d khoản 1 Điều 4 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021).

[2]. Vũ Trịnh Hải Việt, Ngô Thị Thùy Trang (2023), Tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin tội phạm theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, Chuyên đề dùng cho đào tạo trình độ Đại học Cảnh sát nhân dân hệ chính quy 04 năm theo tín chỉ, Trường Đại học Cảnh sát nhân dân, Thành phố Hồ Chí Minh.

[3]. Khoản 3 Điều 145 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021).

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 390), tháng 10/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.

Theo dõi chúng tôi trên: