Thứ tư 14/01/2026 11:06
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tản văn: Nhất định không thiếu một ai

Không dưng tôi thấy mình với ba má như bị bỏ lại phía sau. Căn nhà nhỏ xíu mà đứng phía nào cũng va vấp, thênh thang. Ba má gọi điện hỏi thăm từng đứa “ăn Tết lớn không”. Những cuộc nói chuyện nửa vời, chợp chờn bởi tín hiệu mạng, bởi những tiếng gọi dồn từ phía đầu dây bên kia.

Má ngồi bó gối trước hiên nhà nhìn dòng người ngược xuôi trở về nhà, chốc chốc má lại khum tay, nheo mắt nhìn về những dáng người lướt qua. Ba lầm lũi bên bình trà quạu với mấy tuồng cải lương nghe buồn ác chiến. Những chiều ba mươi Tết xốn xang dường như đã trôi về nơi xa ngái.

Má bới lại đầu tóc, từng sợi tóc trắng phau phấp phới trong ngọn gió xuân. Tiếng thở dài của ba lúc đó mênh mông lắm. Những ngày cuối năm với biết bao nhiêu buồn vui lặng lẽ, ba má vẫn chưa thôi hết ngóng chờ những bước chân quen. Gian bếp nhỏ nghi ngút khói, má vẫn cặm cụi với thịt, cá, dưa, cà mà chẳng còn có đứa nào chạy vào ăn vụng. Thanh củi ướt sủi bọt trắng xóa như hình giọt nước mắt của má. Má ngồi ngó bâng quơ: “Hồi đó nghèo mà vui!”. Cái niềm vui bình dị của ba má bị cắt rời khi anh chị Hai rục rịch ngồi sui, anh Ba đi ghe biển chưa về kịp, đám cháu con thì bận vật lộn với mấy cuộc hò hẹn phương xa. Thành ra, ba má bị lẻ loi…

Bàn thờ anh Tư khói nhang bảng lảng, năm nào ba má cũng ngồi thừ người ra ngắm tấm ảnh cũ mờ. Chợt thấy sóng mắt cay xè, ngồi với mâm cơm đủ đầy mà thấy nhớ những ngày xưa nghèo khó. Năm nào ba cũng rầy má, nấu nướng chi cho cực, có ăn uống nhiều đâu. Nhưng má đâu có từ bỏ, bởi nhìn đâu cũng thấy bóng dáng của những đứa con. Có lúc, ba buông đũa thì thầm: “Thằng Tư về ăn cơm với má nghen con!”. Ba cúi mặt xuống không dám nhìn lên lúc má ngồi thều thào nhắc chuyện ngày xưa: “Món này mà gặp con Bảy, nó ăn hết nồi cơm”, “nấu món này cho anh Sáu bây, lần nào má cũng phải nấu riêng cho nó, thằng ăn cay dở ẹt”. Không biết lúc anh chị ngồi ở đâu đó bên mâm cơm chiều Ba mươi Tết, có hương vị nào làm anh chị nhớ nhà?

Tôi nhớ những miền Tết xưa, nơi có đám trẻ nghèo chỉ mong chờ chút lòng thơm thảo nhà quê của cô hàng xóm. Tôi từng dõi mắt nhìn ra sân, chờ tiếng gọi quen thuộc “ra lấy ít đòn bánh tét vô ăn nè con” hay có bữa tôi co giò chạy một mạch ra sau bếp lấy thau đựng tô khổ qua hầm. Nụ cười và nét mặt hiền từ của cô hàng xóm làm tôi nhớ mãi. Má luôn sợ đám con trong nhà “nhìn miệng” người ta nên bằng giá nào má cũng dành một ít tiền mua đồ làm bánh mứt để trong nhà vào những ngày Tết. Ánh nhìn thèm thuồng của đám con cháu trong nhà cứ làm đau lòng má vào những buổi chiều buồn trong gian bếp đìu hiu. Cái chuồng heo má chui vào trốn nợ của những chiều cuối năm, giờ được ba cơi nới thêm làm nhà chứa củi, cất những thứ vụn vặt linh tinh. Chủ nợ rời đi, mấy má con ngồi ôm nhau khóc ngất. Má thường nói, người nghèo thường hay xui nên ba má làm cái gì cũng trầy trật. Mà mình cũng từng nghĩ vậy, mùng Ba Tết, tôi gom tiền lì xì mua mì gói. Tôi hí hửng chờ đợi tô mì nóng hổi cay nồng nhưng khi xé gói mì, tôi mới biết nhà sản xuất quên bỏ gói bột nêm vào! Má nêm tới nêm lui mà vẫn không giống hương vị tôi từng ăn. Tôi mếu máo nhìn má rồi leo lên võng nằm trùm kín mặt. Má phải bưng tô mì lại võng năn nỉ: “Tết nhất mà buồn là xui nguyên năm luôn đó”. Và mùi vị của tô mì đó, tôi không bao giờ quên…

Cô hàng xóm năm nào giờ đã về với đất, tôi vẫn thường tạt qua nhà thắp cho cô hàng xóm nén nhang vào ngày đầu năm. Môi mắt tôi rưng rưng mà đám con cháu của cô hàng xóm đâu có biết. Má giữ lại chút ân tình với xóm nhỏ khi học cô hàng xóm năm nào bưng đồ ăn cho dài dài theo xóm. Người vui vẻ nhận, người nhận trong ái ngại. Đám trẻ con giờ không còn háo hức nhận chút quà quê thơm thảo nữa. Những bà mẹ trẻ phải xách chén cơm băng qua mấy con đường mới dỗ chúng ăn hết. Má nhìn cảnh đó thở dài: “Con tao mà vậy, tao đánh chết!”.

Ba nhận ra mình cô đơn từ lúc mấy ông bạn đánh cờ với ba chuyển qua uống bia. Đi một vòng quanh xóm, đâu đâu cũng thấy người ta cầm ly lên đếm “một, hai, ba…”, những ca sĩ “miệt vườn” phục vụ rất đỗi nhiệt tình lôi hết xoong, nồi, muỗng, đũa ra đánh. Giọng hát vì thế cũng vang hơn… Ngồi trước bàn cờ, ba không có chút gì mong đợi nơi tôi. Ba nhìn tôi thở dài: “Đánh với mày cho có đánh!”. Giây phút đó, tôi thấy nhớ cảnh ba với mấy chú ngồi quay quần bên bàn cờ, người chậc lưỡi “thí xe”, người mừng reo “con tốt qua sông”. Đêm giao thừa, mọi người trải chiếu ra sân, người tô canh, người con khô, người lít rượu. Những tiếng cười rộn rã cả một góc sân quê. Mấy thím cũng ngồi xuống “phá mồi” chêm vào những câu tếu lâm cười… sặc rượu. Đám trẻ con chạy quanh sân tính chuyện lì xì, quần áo mới. Khung cảnh ấy, giờ đặt vào đâu cũng thấy lẻ loi nên chắc ba còn phải đánh cờ với tôi dài dài.

Không dưng tôi thấy mình với ba má như bị bỏ lại phía sau. Căn nhà nhỏ xíu mà đứng phía nào cũng va vấp, thênh thang. Ba má gọi điện hỏi thăm từng đứa “ăn Tết lớn không”. Những cuộc nói chuyện nửa vời, chợp chờn bởi tín hiệu mạng, bởi những tiếng gọi dồn từ phía đầu dây bên kia.

Ba rủ má Tết năm sau “mần heo chia thịt khi tới mùa”. Tôi không muốn làm vụt tắt đi niềm hy vọng của ba, khi ngậm luôn mớ lời định phát ra “mùa gì khi người ta dần bỏ đất”. Ba má cười không ngớt khi mấy chú mấy thím qua nhà chơi. Vẻ mặt hồ hởi của ba má làm ai cũng xốn xang. Mọi người ngồi nhắc chuyện Tết xưa, Tết nay. Những niềm vui, tiếc nuối cũng cùng đi theo họ qua tháng ngày tất tưởi. Hóa ra, không chỉ ba má và tôi sống với hoài niệm ngày xưa! Ra về, mấy chú thím cũng không quên cuộc hẹn năm sau tát đìa ăn Tết, năm sau hùn nếp gói bánh, đón giao thừa cùng nhau.

Và năm sau, chắc tôi sẽ bắc vài cái bàn treo mấy cái bóng đèn chớp lia lịa, bán hột vịt lộn, ngồi nói chuyện ngày xưa. Tôi từng không thích mạng xã hội, bởi cái gì người ta cũng có thể đem lên đó được nhưng lần này tôi thấy nó có ích. Đăng tấm hình ba má ngồi ngó bâng quơ ra cửa, hỏi có ai thấy được cuộc đời của mình mấy mươi năm sau? Anh chị bồng chống kéo nhau về nhà. Ba má cười không khép miệng nổi, má chạy lăng xăng xuống bếp bưng đủ các loại đồ ăn lên rồi quay sang ba càm ràm: “Đó thấy chưa, tui mà nghe lời ông thì con cái về lấy cái gì ăn!”. Ba bận bồng cháu nội nên không thèm để ý đến má. Xấp bao lì xì có dịp đem ra dùng chứ không còn nằm im trong góc tủ như mọi năm.

Thuật lại chuyện của ba má cho anh chị nghe, chợt thấy, mắt ai cũng đỏ ngầu, những cái Tết thiếu thốn ngày xưa như ùa về. Tôi nhìn anh chị cười: “Dư giả làm gì mà lạc mất nhau!”. Chiều xuân ở quê bình yên đến lạ. Ba má ngồi nép vào nhau dưới hiên nhà nhìn bầy cháu chạy nhảy khắp sân, chốc chốc vai ba má lại run lên bần bật, chắc lúc đó ba má đang cười. Mấy “đứa trẻ” đầu lấm tấm bạc hẹn nhau, Tết năm sau sẽ lại về, nhất định không thiếu một ai…

Nguyễn Chí Ngoan
Trường Tiểu học Thuận Hòa 1 - Xã Thuận Hòa, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Sau hơn 17 năm thi hành, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, thực tiễn đời sống xã hội đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hoạt động TTTP về dân sự. Do đó, việc tổng kết thực tiễn thực hiện Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 là cần thiết, từ đó, đánh giá những điểm còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn, làm cơ sở đề xuất hoàn thiện pháp luật TTTP về dân sự trong bối cảnh mới.

Theo dõi chúng tôi trên: