Thứ năm 20/08/2026 03:33
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tăng cường cơ hội tiếp cận pháp luật của người dân, doanh nghiệp

Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng kết quả phổ biến, giáo dục pháp luật và mục tiêu đề ra trong lĩnh vực này, bài viết tập trung vào một số nguyên nhân khách quan của những hạn chế, tồn tại và đề xuất một số giải pháp tăng cường cơ hội tiếp cận pháp luật - cơ sở nâng cao năng lực tiếp cận pháp luật của người dân, doanh nghiệp.

Tóm tắt: Bài viết bàn về một số nguyên nhân hạn chế trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và giải pháp tăng cường cơ hội tiếp cận pháp luật theo chủ trương, chính sách của Đảng, Chính phủ đang dự kiến triển khai trong giai đoạn tới.

Abstract: The article discusses some of the reasons for the limitation in legal dissemination and education and solutions to increase opportunities to access the law according to the guidelines and policies of the Party and the Government that are expected to be implemented in the coming period.

1. Dẫn đề

Chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân được Đảng và Nhà nước ta đặt thành trọng tâm phát triển xã hội qua các thời kỳ cách mạng. Trên cơ sở Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nghị quyết số 50/NQ-CP ngày 20/5/2021 của Chính phủ về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã xác định: “Tăng cường năng lực tiếp cận pháp luật của công dân và doanh nghiệp. Phát triển dịch vụ pháp lý. Phát triển các thiết chế giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án. Đẩy mạnh công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa”[1]. Điểm mới chính sách về phổ biến, giáo dục pháp luật được nêu trong Nghị quyết này chính là “tăng cường năng lực tiếp cận pháp luật của công dân và doanh nghiệp”.

Để cụ thể hóa chính sách này, Chính phủ đã giao Bộ Tư pháp xây dựng Đề án tăng cường năng lực tiếp cận pháp luật của người dân[2] với mục tiêu hướng đến các giải pháp tạo điều kiện cho người dân nâng cao năng lực chủ động tiếp cận pháp luật, sử dụng hiệu quả các công cụ hỗ trợ, để cùng với các giải pháp hiện hành về phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao nhận thức và khả năng áp dụng pháp luật vào thực tế cuộc sống.

Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng kết quả phổ biến, giáo dục pháp luật và mục tiêu đề ra trong lĩnh vực này, bài viết tập trung vào một số nguyên nhân khách quan của những hạn chế, tồn tại và đề xuất một số giải pháp tăng cường cơ hội tiếp cận pháp luật - cơ sở nâng cao năng lực tiếp cận pháp luật của người dân, doanh nghiệp.

2. Nguyên nhân khách quan của những hạn chế, tồn tại chưa thể khắc phục trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là một trong những lĩnh vực công tác được Nhà nước xác định là trách nhiệm chính trị đối với người dân và xã hội, do đó, từ khi giành được độc lập cho đến ngày nay, Nhà nước đã quan tâm bố trí một nguồn nhân lực, vật lực lớn cho mặt công tác này. Thể chế của Đảng và Nhà nước ta về phổ biến, giáo dục pháp luật đã cơ bản được hoàn thiện. Kết quả của hoạt động này chính là nhận thức pháp luật của người dân đã được nâng lên, thể hiện ở sự ổn định và phát triển liên tục của nền kinh tế - xã hội đất nước. “Người dân ngày càng quan tâm đến quyền tiếp cận thông tin trong các lĩnh vực của đời sống, nhất là các lĩnh vực pháp luật liên quan trực tiếp đến đời sống, sinh hoạt của người dân, đồng thời tích cực chủ động nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật để thực hiện, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình”[3].

Tuy nhiên, vẫn còn có những hạn chế, tồn tại chưa thể khắc phục trong công tác này là: Chất lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật chưa đồng đều, chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra trong tình hình mới; hình thức, biện pháp phổ biến, giáo dục pháp luật được đổi mới ở một số cơ quan, địa phương nhưng chưa thường xuyên, rộng khắp, chưa tạo sự chuyển biến tích cực, rõ rệt[4]… Người dân không thể nhận thức đầy đủ các quy định pháp luật[5].

Có thể thấy, những yếu tố khách quan sau đây đã và đang đặt ra cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cần có những đổi mới hơn nữa, đó là:

Thứ nhất, hệ thống pháp luật Việt Nam đã không ngừng được xây dựng và hoàn thiện. Tuy nhiên, vẫn còn đó những khiếm khuyết của hệ thống pháp luật, như tính thiếu đồng bộ, chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu ổn định[6]. Hệ thống pháp luật được đánh giá là phức tạp, nhiều quy định còn mang tính khái quát khó áp dụng trong thực tiễn… Những nguyên nhân này dẫn đến thực trạng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật khó thông tin chính xác, đầy đủ các nội dung cần áp dụng pháp luật trong nhiều quan hệ pháp luật.

Một trong những mục tiêu (đặc điểm) mà hệ thống pháp luật hướng đến là công khai, minh bạch. Trong đó, công khai được hiểu là “không giấu giếm, bí mật mà cho mọi người cùng biết”[7] và minh bạch là “sáng rõ, rành mạch”[8]. Những đặc điểm này cũng là một trong những mục tiêu của phổ biến, giáo dục pháp luật cần hướng đến. Tuy nhiên, sự phức tạp của hệ thống pháp luật dẫn đến nhiều nội dung phổ biến pháp luật trong một lĩnh vực pháp luật được chuẩn bị sẵn hướng đến phổ biến những nội dung cơ bản và chung, khó có thể bám sát các vấn đề phát sinh từ thực tiễn, do đó, không thể giải quyết hết được các nhóm đối tượng được phổ biến. Do đó, giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật chính là hướng đến sự “công khai”, “minh bạch” bằng khả năng dễ tiếp cận nội dung quy định pháp luật trong thời gian tới.

Thứ hai, khả năng tiếp cận thông tin pháp luật trong các trường hợp thi hành pháp luật cụ thể còn rất khó khăn. Hệ thống pháp luật hiện hành cơ bản đã được thông tin đầy đủ về các quy định pháp luật trong các văn bản pháp luật đã được ban hành (mặc dù một số văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành lâu cũng khó tiếp cận hơn). Tuy nhiên, ngôn ngữ lập pháp thường có tính khái quát, áp dụng chung nên thường khó hiểu đối với những người dân, doanh nghiệp không có kiến thức chuyên ngành về lĩnh vực đó. Đây cũng là một trong những yếu tố làm hạn chế năng lực nhận thức pháp luật của người dân, đặc biệt là trong những hoàn cảnh chủ thể này có nhu cầu nhận thức pháp luật rất cao.

Trong điều kiện giả định là “một số người dân chưa có ý thức chủ động tìm hiểu pháp luật để nâng cao hiểu biết, kiến thức, kỹ năng sử dụng pháp luật nhằm thực hiện quyền, lợi ích hợp pháp của mình, cũng như thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Việc chủ động trang bị kiến thức pháp luật cho mình trước khi tham gia vào các quan hệ xã hội chưa được người dân chú trọng”[9], thì việc thiếu đi những cơ sở hỗ trợ người dân, doanh nghiệp sẽ tạo nên khoảng trống về nhận thức pháp luật của xã hội. Do đó, để nâng cao năng lực tiếp cận pháp luật của người dân, doanh nghiệp, trước hết, cần nâng cao các cơ hội tiếp cận pháp luật của chính đối tượng này ở những thời điểm nhu cầu pháp luật của họ cao hơn và cấp thiết hơn.

Thứ ba, các dịch vụ phổ biến, giải đáp pháp luật ở nước ta chưa được quan tâm đúng mức, chậm phát triển nên chưa đáp ứng yêu cầu của người dân, doanh nghiệp. Hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật từ phía cơ quan nhà nước thực hiện mới chỉ được quan tâm một chiều - chiều thông tin pháp luật từ phía người tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đến người dân; còn thiếu sự đầu tư từ chiều ngược lại - dịch vụ hỗ trợ, giải đáp pháp luật theo yêu cầu của người dân. Dịch vụ này được xác định theo hai khía cạnh:

- Dịch vụ công do cơ quan nhà nước thực hiện. Đây là một trong những trách nhiệm công vụ của cơ quan nhà nước đã được luật định và đã được các cơ quan nhà nước tổ chức thực hiện. Thực tế các câu hỏi của người dân được gửi đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đều được giải đáp với thời gian khá dài hoặc nhiều trường hợp hỏi - đáp trên các Trang thông tin điện tử của cơ quan nhà nước không thấy được hồi âm (trả lời qua địa chỉ email, số điện thoại đăng ký) hoặc không thể theo dõi đã được trả lời trên chính Trang thông tin điện tử đó.

- Dịch vụ bổ trợ tư pháp đã và đang phát triển, cung cấp một công cụ phổ biến, giải đáp pháp luật nhanh, kịp thời, khắc phục rất hiệu quả những hạn chế đã nếu trong dịch vụ công đã nêu ở trên, song không phải chủ thể nào cũng có khả năng tiếp cận, do giới hạn về đối tượng được trợ giúp (theo Luật Trợ giúp pháp lý), giới hạn về phạm vi hoạt động (không thể tiếp cận chủ thể trợ giúp) hoặc yêu cầu trả phí (luật sư, tư vấn pháp luật tư nhân) chưa phải đã phù hợp với ý thức miễn phí pháp luật của người dân và kể cả nhiều doanh nghiệp ở những khu vực chưa phát triển.

Do đó, việc nghiên cứu cải thiện, phát triển những dịch vụ hỗ trợ người dân, doanh nghiệp tiếp cận pháp luật trong giai đoạn hiện nay cũng là yêu cầu cần thiết của lĩnh vực công tác này.

Đặc biệt, việc ứng dụng công nghệ thông tin, các phương tiện kỹ thuật số, thiết bị hiện đại trong các công tác này chưa được đầu tư tương xứng đáp ứng yêu cầu thực tiễn hiện nay.

Thứ tư, ý thức tùy tiện áp dụng pháp luật của một bộ phận công chức, chủ thể quản lý nhà nước vẫn còn diễn ra ở một số nơi, làm ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý thượng tôn pháp luật từ phía người dân, doanh nghiệp.

Một số cơ quan, chủ thể có thẩm quyền, có trách nhiệm chưa thực sự quan tâm sát sao và chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc triển khai các nhiệm vụ nhằm bảo đảm cho người dân tiếp cận pháp luật được kịp thời, đầy đủ, chủ động hỗ trợ, tạo điều kiện cho người dân tiếp cận pháp luật để thực hiện quyền, lợi ích; đội ngũ công chức làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật còn mỏng, một số cán bộ, công chức chưa tích cực phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân[10]… Do đó, trong thời gian tới, việc nâng cao ý thức công vụ cũng là một trong các giải pháp quan trọng góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của người dân và cũng là yêu cầu tăng cường năng lực tự nhận thức pháp luật cho công chức, người dân, doanh nghiệp.

3. Phương hướng tăng cường cơ hội cơ hội tiếp cận pháp luật của người dân, doanh nghiệp

Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 tại Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ xác định tầm nhìn chuyển đổi toàn diện Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số đã xác định “xã hội số giúp người dân bình đẳng về cơ hội tiếp cận dịch vụ, đào tạo, tri thức, thu hẹp khoảng cách phát triển, giảm bất bình đẳng”[11]. Trên cơ sở Quyết định 25/2021/QĐ-TTg ngày 22/7/2021 của Thủ tướng Chính phủ quy định về xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật tại tiêu chí 2 Điều 3 đã xác định 6 về tiếp cận thông tin, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cấp xã là:

“a) Chỉ tiêu 1: Công khai các thông tin kịp thời, chính xác, đầy đủ theo đúng quy định pháp luật về tiếp cận thông tin và thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn;

b) Chỉ tiêu 2: Cung cấp thông tin theo yêu cầu kịp thời, chính xác, đầy đủ theo đúng quy định pháp luật về tiếp cận thông tin;

c) Chỉ tiêu 3: Ban hành và tổ chức thực hiện kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật hàng năm theo đúng quy định pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật;

d) Chỉ tiêu 4: Triển khai các hình thức, mô hình thông tin, phổ biến, giáo dục pháp luật hiệu quả tại cơ sở;

đ) Chỉ tiêu 5: Tổ chức bồi dưỡng, tập huấn kiến thức, kỹ năng phổ biến, giáo dục pháp luật cho tuyên truyền viên pháp luật theo đúng quy định pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật;

e) Chỉ tiêu 6: Bảo đảm kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện để thực hiện nhiệm vụ phổ biến, giáo dục pháp luật theo đúng quy định pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật”.

Với những định hướng của Nhà nước đã nêu ở trên, trong thời gian tới, việc tăng cường cơ hội cơ hội tiếp cận pháp luật của người dân, doanh nghiệp cần hướng đến các giải pháp sau:

Một là, đẩy nhanh tiến độ xây dựng Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số. Các cơ quan nhà nước chú trọng phân bổ nguồn nhân lực, vật lực cho các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trực tuyến 24/7; phối hợp với các nhà cung cấp mạng điện thoại di động, internet và các bên cung cấp dịch vụ kỹ thuật số tốt để phát triển các dịch vụ hỗ trợ, giải đáp, phổ biến, giáo dục pháp luật nhanh và đầy đủ đến người dân.

Thực hiện chuyển đổi số xây dựng cơ sở dữ liệu văn bản quy phạm pháp luật gắn với các nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật để đáp ứng yêu cầu của người dân trong điều kiện mới; có các dữ liệu thông tin, xác định rõ trách nhiệm của bộ, ngành, địa phương trong cập nhật, quản lý công tác tiếp cận pháp luật[12]. Phát triển nền tảng tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý, giải đáp pháp luật từ xa[13].

Hai là, nghiên cứu phân định hợp lý nội hàm các nội dung phổ biến, giáo dục, tuyên truyền, giải đáp, trả lời pháp luật… và nghiên cứu từng bước phân công trách nhiệm thực hiện đối với các cơ quan nhà nước đối với các nội dung cụ thể, tránh đồng nhất, giao chung các nội dung trong nội hàm phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay. Đồng thời, nâng cao trách nhiệm của cán bộ, công chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đạo đức công vụ trong thực hiện quản lý nhà nước, góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật và ý thức tự nâng cao năng lực tiếp cận pháp luật của người dân, doanh nghiệp.

Ba là, nội dung trong các giải pháp nâng cao cơ hội tiếp cận pháp luật của người dân, doanh nghiệp cần đặt trong tương quan hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật và thông tin pháp luật hiện nay. Trong đó, tác giả kiến nghị giải pháp trọng tâm cần tập trung giải đáp các tình huống pháp luật thực tiễn. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật chính là hướng đến sự “công khai”, “minh bạch” bằng khả năng dễ tiếp cận nội dung quy định pháp luật trong thời gian tới. Tác giả đề xuất cần xây dựng các bộ giải đáp pháp luật của những tình huống thực tế - đó là những tình huống mà người dân, doanh nghiệp gặp phải trong quá trình sinh sống, kinh doanh và có thể giải đáp ngay các thông tin pháp luật gặp phải. Đồng thời, cần chú ý đến các giải pháp hướng đến các nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội…

Bốn là, tăng cường trách nhiệm, vai trò của các dịch vụ pháp lý tư nhân, các hiệp hội xã hội với sự phân bổ/hỗ trợ kinh phí từ phía Nhà nước để góp phần đưa pháp luật đến các nhóm đối tượng đặc thù trong xã hội. Chú trọng tổ chức các phiên tuyên truyền, phổ biến pháp luật theo chuyên đề cho doanh nghiệp, người lao động và xây dựng các đầu mối hỗ trợ pháp luật trực tiếp.

ThS. Hồ Thị Thu Hiền
Khoa Lý luận chính trị, Trường Đại học Sư phạm Thể dục Thể thao Hà Nội


[1]. Điểm 10 Mục II Nghị quyết số 50/NQ-CP ngày 20/5/2021 của Chính phủ về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

[2]. Xem thêm: Lê Sơn (2022), Tăng cường năng lực tiếp cận pháp luật của người dân, nguồn: https://baochinhphu.vn/tang-cuong-nang-luc-tiep-can-phap-luat-cua-nguoi-dan-102220506181407127.htm, truy cập ngày 10/5/2022.

[3]. Xem thêm: Lê Sơn (2022), Tăng cường năng lực tiếp cận pháp luật của người dân, nguồn: https://baochinhphu.vn/tang-cuong-nang-luc-tiep-can-phap-luat-cua-nguoi-dan-102220506181407127.htm, truy cập ngày 10/5/2022.

[4]. Báo cáo số 01/BC-BTP ngày 01/01/2020 của Bộ Tư pháp tổng kết công tác tư pháp năm 2019 và phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp công tác năm 2020, tr. 19.

[5]. Xem thêm: Lê Sơn (2022), Tăng cường năng lực tiếp cận pháp luật của người dân, nguồn: https://baochinhphu.vn/tang-cuong-nang-luc-tiep-can-phap-luat-cua-nguoi-dan-102220506181407127.htm, truy cập ngày 10/5/2022.

[6]. PGS.TS. Đinh Dũng Sỹ (2020), Hệ thống pháp luật Việt Nam trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 01 (401), tháng 01/2020, nguồn: http://www.lapphap.vn/Pages/TinTuc/210462/He-thong-phap-luat-Viet-Nam-trong-tien-trinh-doi-moi-va-phat-trien-dat-nuoc.html, truy cập ngày 25/4/2022.

[7]. Nguyễn Như Ý (chủ biên), Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, 2007, tr. 346.

[8]. Nguyễn Như Ý (chủ biên), Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, 2007, tr.1037.

[9]. Xem thêm: Lê Sơn (2022), Tăng cường năng lực tiếp cận pháp luật của người dân, nguồn: https://baochinhphu.vn/tang-cuong-nang-luc-tiep-can-phap-luat-cua-nguoi-dan-102220506181407127.htm, truy cập ngày 10/5/2022.

[10]. Xem thêm: Lê Sơn (2022), Tăng cường năng lực tiếp cận pháp luật của người dân, nguồn: https://baochinhphu.vn/tang-cuong-nang-luc-tiep-can-phap-luat-cua-nguoi-dan-102220506181407127.htm, truy cập ngày 10/5/2022.

[11]. Xem: Cục Tin học hóa, Bộ Thông tin và Truyền thông, Giải pháp chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, Số chuyên đề Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giai đoạn 2017 - 2021, tr.89.

[12]. Xem thêm: Lê Sơn (2022), Tăng cường năng lực tiếp cận pháp luật của người dân, nguồn: https://baochinhphu.vn/tang-cuong-nang-luc-tiep-can-phap-luat-cua-nguoi-dan-102220506181407127.htm, truy cập ngày 10/5/2022.

[13]. Xem: Cục Tin học hóa, Bộ Thông tin và Truyền thông, Giải pháp chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, Số chuyên đề Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giai đoạn 2017 - 2021, tr.93.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Theo dõi chúng tôi trên: