Thứ năm 30/04/2026 09:18
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tăng cường cơ hội tiếp cận pháp luật của người dân, doanh nghiệp

Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng kết quả phổ biến, giáo dục pháp luật và mục tiêu đề ra trong lĩnh vực này, bài viết tập trung vào một số nguyên nhân khách quan của những hạn chế, tồn tại và đề xuất một số giải pháp tăng cường cơ hội tiếp cận pháp luật - cơ sở nâng cao năng lực tiếp cận pháp luật của người dân, doanh nghiệp.

Tóm tắt: Bài viết bàn về một số nguyên nhân hạn chế trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và giải pháp tăng cường cơ hội tiếp cận pháp luật theo chủ trương, chính sách của Đảng, Chính phủ đang dự kiến triển khai trong giai đoạn tới.

Abstract: The article discusses some of the reasons for the limitation in legal dissemination and education and solutions to increase opportunities to access the law according to the guidelines and policies of the Party and the Government that are expected to be implemented in the coming period.

1. Dẫn đề

Chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân được Đảng và Nhà nước ta đặt thành trọng tâm phát triển xã hội qua các thời kỳ cách mạng. Trên cơ sở Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nghị quyết số 50/NQ-CP ngày 20/5/2021 của Chính phủ về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã xác định: “Tăng cường năng lực tiếp cận pháp luật của công dân và doanh nghiệp. Phát triển dịch vụ pháp lý. Phát triển các thiết chế giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án. Đẩy mạnh công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa”[1]. Điểm mới chính sách về phổ biến, giáo dục pháp luật được nêu trong Nghị quyết này chính là “tăng cường năng lực tiếp cận pháp luật của công dân và doanh nghiệp”.

Để cụ thể hóa chính sách này, Chính phủ đã giao Bộ Tư pháp xây dựng Đề án tăng cường năng lực tiếp cận pháp luật của người dân[2] với mục tiêu hướng đến các giải pháp tạo điều kiện cho người dân nâng cao năng lực chủ động tiếp cận pháp luật, sử dụng hiệu quả các công cụ hỗ trợ, để cùng với các giải pháp hiện hành về phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao nhận thức và khả năng áp dụng pháp luật vào thực tế cuộc sống.

Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng kết quả phổ biến, giáo dục pháp luật và mục tiêu đề ra trong lĩnh vực này, bài viết tập trung vào một số nguyên nhân khách quan của những hạn chế, tồn tại và đề xuất một số giải pháp tăng cường cơ hội tiếp cận pháp luật - cơ sở nâng cao năng lực tiếp cận pháp luật của người dân, doanh nghiệp.

2. Nguyên nhân khách quan của những hạn chế, tồn tại chưa thể khắc phục trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là một trong những lĩnh vực công tác được Nhà nước xác định là trách nhiệm chính trị đối với người dân và xã hội, do đó, từ khi giành được độc lập cho đến ngày nay, Nhà nước đã quan tâm bố trí một nguồn nhân lực, vật lực lớn cho mặt công tác này. Thể chế của Đảng và Nhà nước ta về phổ biến, giáo dục pháp luật đã cơ bản được hoàn thiện. Kết quả của hoạt động này chính là nhận thức pháp luật của người dân đã được nâng lên, thể hiện ở sự ổn định và phát triển liên tục của nền kinh tế - xã hội đất nước. “Người dân ngày càng quan tâm đến quyền tiếp cận thông tin trong các lĩnh vực của đời sống, nhất là các lĩnh vực pháp luật liên quan trực tiếp đến đời sống, sinh hoạt của người dân, đồng thời tích cực chủ động nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật để thực hiện, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình”[3].

Tuy nhiên, vẫn còn có những hạn chế, tồn tại chưa thể khắc phục trong công tác này là: Chất lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật chưa đồng đều, chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra trong tình hình mới; hình thức, biện pháp phổ biến, giáo dục pháp luật được đổi mới ở một số cơ quan, địa phương nhưng chưa thường xuyên, rộng khắp, chưa tạo sự chuyển biến tích cực, rõ rệt[4]… Người dân không thể nhận thức đầy đủ các quy định pháp luật[5].

Có thể thấy, những yếu tố khách quan sau đây đã và đang đặt ra cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cần có những đổi mới hơn nữa, đó là:

Thứ nhất, hệ thống pháp luật Việt Nam đã không ngừng được xây dựng và hoàn thiện. Tuy nhiên, vẫn còn đó những khiếm khuyết của hệ thống pháp luật, như tính thiếu đồng bộ, chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu ổn định[6]. Hệ thống pháp luật được đánh giá là phức tạp, nhiều quy định còn mang tính khái quát khó áp dụng trong thực tiễn… Những nguyên nhân này dẫn đến thực trạng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật khó thông tin chính xác, đầy đủ các nội dung cần áp dụng pháp luật trong nhiều quan hệ pháp luật.

Một trong những mục tiêu (đặc điểm) mà hệ thống pháp luật hướng đến là công khai, minh bạch. Trong đó, công khai được hiểu là “không giấu giếm, bí mật mà cho mọi người cùng biết”[7] và minh bạch là “sáng rõ, rành mạch”[8]. Những đặc điểm này cũng là một trong những mục tiêu của phổ biến, giáo dục pháp luật cần hướng đến. Tuy nhiên, sự phức tạp của hệ thống pháp luật dẫn đến nhiều nội dung phổ biến pháp luật trong một lĩnh vực pháp luật được chuẩn bị sẵn hướng đến phổ biến những nội dung cơ bản và chung, khó có thể bám sát các vấn đề phát sinh từ thực tiễn, do đó, không thể giải quyết hết được các nhóm đối tượng được phổ biến. Do đó, giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật chính là hướng đến sự “công khai”, “minh bạch” bằng khả năng dễ tiếp cận nội dung quy định pháp luật trong thời gian tới.

Thứ hai, khả năng tiếp cận thông tin pháp luật trong các trường hợp thi hành pháp luật cụ thể còn rất khó khăn. Hệ thống pháp luật hiện hành cơ bản đã được thông tin đầy đủ về các quy định pháp luật trong các văn bản pháp luật đã được ban hành (mặc dù một số văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành lâu cũng khó tiếp cận hơn). Tuy nhiên, ngôn ngữ lập pháp thường có tính khái quát, áp dụng chung nên thường khó hiểu đối với những người dân, doanh nghiệp không có kiến thức chuyên ngành về lĩnh vực đó. Đây cũng là một trong những yếu tố làm hạn chế năng lực nhận thức pháp luật của người dân, đặc biệt là trong những hoàn cảnh chủ thể này có nhu cầu nhận thức pháp luật rất cao.

Trong điều kiện giả định là “một số người dân chưa có ý thức chủ động tìm hiểu pháp luật để nâng cao hiểu biết, kiến thức, kỹ năng sử dụng pháp luật nhằm thực hiện quyền, lợi ích hợp pháp của mình, cũng như thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Việc chủ động trang bị kiến thức pháp luật cho mình trước khi tham gia vào các quan hệ xã hội chưa được người dân chú trọng”[9], thì việc thiếu đi những cơ sở hỗ trợ người dân, doanh nghiệp sẽ tạo nên khoảng trống về nhận thức pháp luật của xã hội. Do đó, để nâng cao năng lực tiếp cận pháp luật của người dân, doanh nghiệp, trước hết, cần nâng cao các cơ hội tiếp cận pháp luật của chính đối tượng này ở những thời điểm nhu cầu pháp luật của họ cao hơn và cấp thiết hơn.

Thứ ba, các dịch vụ phổ biến, giải đáp pháp luật ở nước ta chưa được quan tâm đúng mức, chậm phát triển nên chưa đáp ứng yêu cầu của người dân, doanh nghiệp. Hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật từ phía cơ quan nhà nước thực hiện mới chỉ được quan tâm một chiều - chiều thông tin pháp luật từ phía người tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đến người dân; còn thiếu sự đầu tư từ chiều ngược lại - dịch vụ hỗ trợ, giải đáp pháp luật theo yêu cầu của người dân. Dịch vụ này được xác định theo hai khía cạnh:

- Dịch vụ công do cơ quan nhà nước thực hiện. Đây là một trong những trách nhiệm công vụ của cơ quan nhà nước đã được luật định và đã được các cơ quan nhà nước tổ chức thực hiện. Thực tế các câu hỏi của người dân được gửi đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đều được giải đáp với thời gian khá dài hoặc nhiều trường hợp hỏi - đáp trên các Trang thông tin điện tử của cơ quan nhà nước không thấy được hồi âm (trả lời qua địa chỉ email, số điện thoại đăng ký) hoặc không thể theo dõi đã được trả lời trên chính Trang thông tin điện tử đó.

- Dịch vụ bổ trợ tư pháp đã và đang phát triển, cung cấp một công cụ phổ biến, giải đáp pháp luật nhanh, kịp thời, khắc phục rất hiệu quả những hạn chế đã nếu trong dịch vụ công đã nêu ở trên, song không phải chủ thể nào cũng có khả năng tiếp cận, do giới hạn về đối tượng được trợ giúp (theo Luật Trợ giúp pháp lý), giới hạn về phạm vi hoạt động (không thể tiếp cận chủ thể trợ giúp) hoặc yêu cầu trả phí (luật sư, tư vấn pháp luật tư nhân) chưa phải đã phù hợp với ý thức miễn phí pháp luật của người dân và kể cả nhiều doanh nghiệp ở những khu vực chưa phát triển.

Do đó, việc nghiên cứu cải thiện, phát triển những dịch vụ hỗ trợ người dân, doanh nghiệp tiếp cận pháp luật trong giai đoạn hiện nay cũng là yêu cầu cần thiết của lĩnh vực công tác này.

Đặc biệt, việc ứng dụng công nghệ thông tin, các phương tiện kỹ thuật số, thiết bị hiện đại trong các công tác này chưa được đầu tư tương xứng đáp ứng yêu cầu thực tiễn hiện nay.

Thứ tư, ý thức tùy tiện áp dụng pháp luật của một bộ phận công chức, chủ thể quản lý nhà nước vẫn còn diễn ra ở một số nơi, làm ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý thượng tôn pháp luật từ phía người dân, doanh nghiệp.

Một số cơ quan, chủ thể có thẩm quyền, có trách nhiệm chưa thực sự quan tâm sát sao và chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc triển khai các nhiệm vụ nhằm bảo đảm cho người dân tiếp cận pháp luật được kịp thời, đầy đủ, chủ động hỗ trợ, tạo điều kiện cho người dân tiếp cận pháp luật để thực hiện quyền, lợi ích; đội ngũ công chức làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật còn mỏng, một số cán bộ, công chức chưa tích cực phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân[10]… Do đó, trong thời gian tới, việc nâng cao ý thức công vụ cũng là một trong các giải pháp quan trọng góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của người dân và cũng là yêu cầu tăng cường năng lực tự nhận thức pháp luật cho công chức, người dân, doanh nghiệp.

3. Phương hướng tăng cường cơ hội cơ hội tiếp cận pháp luật của người dân, doanh nghiệp

Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 tại Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ xác định tầm nhìn chuyển đổi toàn diện Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số đã xác định “xã hội số giúp người dân bình đẳng về cơ hội tiếp cận dịch vụ, đào tạo, tri thức, thu hẹp khoảng cách phát triển, giảm bất bình đẳng”[11]. Trên cơ sở Quyết định 25/2021/QĐ-TTg ngày 22/7/2021 của Thủ tướng Chính phủ quy định về xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật tại tiêu chí 2 Điều 3 đã xác định 6 về tiếp cận thông tin, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cấp xã là:

“a) Chỉ tiêu 1: Công khai các thông tin kịp thời, chính xác, đầy đủ theo đúng quy định pháp luật về tiếp cận thông tin và thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn;

b) Chỉ tiêu 2: Cung cấp thông tin theo yêu cầu kịp thời, chính xác, đầy đủ theo đúng quy định pháp luật về tiếp cận thông tin;

c) Chỉ tiêu 3: Ban hành và tổ chức thực hiện kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật hàng năm theo đúng quy định pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật;

d) Chỉ tiêu 4: Triển khai các hình thức, mô hình thông tin, phổ biến, giáo dục pháp luật hiệu quả tại cơ sở;

đ) Chỉ tiêu 5: Tổ chức bồi dưỡng, tập huấn kiến thức, kỹ năng phổ biến, giáo dục pháp luật cho tuyên truyền viên pháp luật theo đúng quy định pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật;

e) Chỉ tiêu 6: Bảo đảm kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện để thực hiện nhiệm vụ phổ biến, giáo dục pháp luật theo đúng quy định pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật”.

Với những định hướng của Nhà nước đã nêu ở trên, trong thời gian tới, việc tăng cường cơ hội cơ hội tiếp cận pháp luật của người dân, doanh nghiệp cần hướng đến các giải pháp sau:

Một là, đẩy nhanh tiến độ xây dựng Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số. Các cơ quan nhà nước chú trọng phân bổ nguồn nhân lực, vật lực cho các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trực tuyến 24/7; phối hợp với các nhà cung cấp mạng điện thoại di động, internet và các bên cung cấp dịch vụ kỹ thuật số tốt để phát triển các dịch vụ hỗ trợ, giải đáp, phổ biến, giáo dục pháp luật nhanh và đầy đủ đến người dân.

Thực hiện chuyển đổi số xây dựng cơ sở dữ liệu văn bản quy phạm pháp luật gắn với các nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật để đáp ứng yêu cầu của người dân trong điều kiện mới; có các dữ liệu thông tin, xác định rõ trách nhiệm của bộ, ngành, địa phương trong cập nhật, quản lý công tác tiếp cận pháp luật[12]. Phát triển nền tảng tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý, giải đáp pháp luật từ xa[13].

Hai là, nghiên cứu phân định hợp lý nội hàm các nội dung phổ biến, giáo dục, tuyên truyền, giải đáp, trả lời pháp luật… và nghiên cứu từng bước phân công trách nhiệm thực hiện đối với các cơ quan nhà nước đối với các nội dung cụ thể, tránh đồng nhất, giao chung các nội dung trong nội hàm phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay. Đồng thời, nâng cao trách nhiệm của cán bộ, công chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đạo đức công vụ trong thực hiện quản lý nhà nước, góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật và ý thức tự nâng cao năng lực tiếp cận pháp luật của người dân, doanh nghiệp.

Ba là, nội dung trong các giải pháp nâng cao cơ hội tiếp cận pháp luật của người dân, doanh nghiệp cần đặt trong tương quan hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật và thông tin pháp luật hiện nay. Trong đó, tác giả kiến nghị giải pháp trọng tâm cần tập trung giải đáp các tình huống pháp luật thực tiễn. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật chính là hướng đến sự “công khai”, “minh bạch” bằng khả năng dễ tiếp cận nội dung quy định pháp luật trong thời gian tới. Tác giả đề xuất cần xây dựng các bộ giải đáp pháp luật của những tình huống thực tế - đó là những tình huống mà người dân, doanh nghiệp gặp phải trong quá trình sinh sống, kinh doanh và có thể giải đáp ngay các thông tin pháp luật gặp phải. Đồng thời, cần chú ý đến các giải pháp hướng đến các nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội…

Bốn là, tăng cường trách nhiệm, vai trò của các dịch vụ pháp lý tư nhân, các hiệp hội xã hội với sự phân bổ/hỗ trợ kinh phí từ phía Nhà nước để góp phần đưa pháp luật đến các nhóm đối tượng đặc thù trong xã hội. Chú trọng tổ chức các phiên tuyên truyền, phổ biến pháp luật theo chuyên đề cho doanh nghiệp, người lao động và xây dựng các đầu mối hỗ trợ pháp luật trực tiếp.

ThS. Hồ Thị Thu Hiền
Khoa Lý luận chính trị, Trường Đại học Sư phạm Thể dục Thể thao Hà Nội


[1]. Điểm 10 Mục II Nghị quyết số 50/NQ-CP ngày 20/5/2021 của Chính phủ về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

[2]. Xem thêm: Lê Sơn (2022), Tăng cường năng lực tiếp cận pháp luật của người dân, nguồn: https://baochinhphu.vn/tang-cuong-nang-luc-tiep-can-phap-luat-cua-nguoi-dan-102220506181407127.htm, truy cập ngày 10/5/2022.

[3]. Xem thêm: Lê Sơn (2022), Tăng cường năng lực tiếp cận pháp luật của người dân, nguồn: https://baochinhphu.vn/tang-cuong-nang-luc-tiep-can-phap-luat-cua-nguoi-dan-102220506181407127.htm, truy cập ngày 10/5/2022.

[4]. Báo cáo số 01/BC-BTP ngày 01/01/2020 của Bộ Tư pháp tổng kết công tác tư pháp năm 2019 và phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp công tác năm 2020, tr. 19.

[5]. Xem thêm: Lê Sơn (2022), Tăng cường năng lực tiếp cận pháp luật của người dân, nguồn: https://baochinhphu.vn/tang-cuong-nang-luc-tiep-can-phap-luat-cua-nguoi-dan-102220506181407127.htm, truy cập ngày 10/5/2022.

[6]. PGS.TS. Đinh Dũng Sỹ (2020), Hệ thống pháp luật Việt Nam trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 01 (401), tháng 01/2020, nguồn: http://www.lapphap.vn/Pages/TinTuc/210462/He-thong-phap-luat-Viet-Nam-trong-tien-trinh-doi-moi-va-phat-trien-dat-nuoc.html, truy cập ngày 25/4/2022.

[7]. Nguyễn Như Ý (chủ biên), Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, 2007, tr. 346.

[8]. Nguyễn Như Ý (chủ biên), Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, 2007, tr.1037.

[9]. Xem thêm: Lê Sơn (2022), Tăng cường năng lực tiếp cận pháp luật của người dân, nguồn: https://baochinhphu.vn/tang-cuong-nang-luc-tiep-can-phap-luat-cua-nguoi-dan-102220506181407127.htm, truy cập ngày 10/5/2022.

[10]. Xem thêm: Lê Sơn (2022), Tăng cường năng lực tiếp cận pháp luật của người dân, nguồn: https://baochinhphu.vn/tang-cuong-nang-luc-tiep-can-phap-luat-cua-nguoi-dan-102220506181407127.htm, truy cập ngày 10/5/2022.

[11]. Xem: Cục Tin học hóa, Bộ Thông tin và Truyền thông, Giải pháp chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, Số chuyên đề Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giai đoạn 2017 - 2021, tr.89.

[12]. Xem thêm: Lê Sơn (2022), Tăng cường năng lực tiếp cận pháp luật của người dân, nguồn: https://baochinhphu.vn/tang-cuong-nang-luc-tiep-can-phap-luat-cua-nguoi-dan-102220506181407127.htm, truy cập ngày 10/5/2022.

[13]. Xem: Cục Tin học hóa, Bộ Thông tin và Truyền thông, Giải pháp chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, Số chuyên đề Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giai đoạn 2017 - 2021, tr.93.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).

Theo dõi chúng tôi trên: