Thứ hai 21/09/2026 00:55
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tăng cường công tác phối hợp nhằm thực hiện tốt hoạt động quản lý nhà nước về nuôi con nuôi

Theo Điều 61 Luật Trẻ em, nuôi con nuôi là một trong các hình thức chăm sóc thay thế dành cho những đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Khoản 4 Điều 8 Luật Nuôi

Theo Điều 61 Luật Trẻ em, nuôi con nuôi là một trong các hình thức chăm sóc thay thế dành cho những đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Khoản 4 Điều 8 Luật Nuôi con nuôi quy định Nhà nước khuyến khích việc nhận trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác làm con nuôi.

Để bảo đảm việc giải quyết nuôi con nuôi vì lợi ích tốt nhất của trẻ em theo Công ước về quyền trẻ em của Liên Hợp Quốc và Công ước La Hay năm 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực con nuôi quốc tế mà Việt Nam là thành viên thì việc quản lý nhà nước về nuôi con nuôi đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền phải thực hiện tốt nhiệm vụ của mình và có trách nhiệm phối hợp với các bộ, ngành khác có liên quan đến nhiệm vụ quản lý nhà nước được Chính phủ giao phó.

1. Cơ chế phối hợp liên ngành trong hoạt động quản lý nhà nước về nuôi con nuôi

Ngày 14/3/2016, Bộ Tư pháp và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã ký ban hành Quy chế số 721/QC-BTP-BLĐTBXH phối hợp công tác giải quyết việc nuôi con nuôi đối với trẻ em đang được chăm sóc, nuôi dưỡng tại các cơ sở trợ giúp xã hội (TGXH) (Quy chế số 721/QC-BTP-BLĐTBXH). Quy chế đã xác định 05 nội dung phối hợp liên ngành tư pháp và lao động - thương binh và xã hội ở hai cấp trung ương và địa phương. Theo đó, nội dung quan trọng hàng đầu là các địa phương phải đôn đốc các cơ sở TGXH đánh giá nhu cầu trẻ em được nhận làm con nuôi, lập danh sách trẻ em cần tìm gia đình thay thế; hướng dẫn, đôn đốc các địa phương và cơ sở TGXH trong việc rà soát, đánh giá năng lực các cơ sở TGXH trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, thực hiện các giải pháp nhằm tăng cường năng lực cho các cơ sở TGXH, không phân biệt cơ sở TGXH công lập và ngoài công lập trong việc giải quyết nuôi con nuôi.

Nhằm tăng cường giải quyết việc nuôi con nuôi trong tình hình mới, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 03/2018/CT-TTg ngày 19/01/2018. Nội dung Chỉ thị tập trung thúc đẩy thực hiện nhiệm vụ tăng cường công tác nuôi con nuôi trong nước đối với những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt sống tại cộng đồng, đôn đốc các cơ sở TGXH lập danh sách, đánh giá nhu cầu trẻ em cần được nhận làm con nuôi theo đúng quy trình và nghiệp vụ công tác xã hội và quy định của pháp luật về nuôi con nuôi.

Như vậy, nội dung nhiệm vụ phối hợp liên ngành về nuôi con nuôi đã được xác định theo hướng đẩy mạnh nội dung quản lý nhà nước về trẻ em ngoài cộng đồng và trong các cơ sở nuôi dưỡng cần được nhận làm con nuôi, tạo tiền đề tăng cường công tác nuôi con nuôi trong nước và nước ngoài đối với những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt sống tại các cơ sở TGXH.

Về thể chế, Nghị định số 24/2019/NĐ-CP ngày 05/3/2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21/3/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi (Nghị định số 24/2019/NĐ-CP) có hiệu lực thi hành từ ngày 25/4/2019, đã bãi bỏ quy định chỉ định các cơ sở nuôi dưỡng được thành lập hợp pháp tham gia giải quyết việc nuôi con nuôi[1]; người đứng đầu cơ sở TGXH có trách nhiệm đánh giá nhu cầu và lập hồ sơ trẻ em cần được nhận làm con nuôi; Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm rà soát và chuyển đổi sang việc nuôi con nuôi đối với những trường hợp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được giao chăm sóc thay thế hoặc giao tạm thời nuôi dưỡng tại cộng đồng.

Nghị định số 24/2019/NĐ-CP đã xây dựng cơ chế phối hợp giữa cơ quan chủ quản của cơ sở TGXH và Sở Tư pháp trong nhiệm vụ tìm gia đình thay thế trong nước cho trẻ em sống tại cơ sở nuôi dưỡng cần được nhận làm con nuôi. Cơ chế phối hợp này đã phần nào thể hiện tính liên thông trong việc chuyển đổi hình thức chăm sóc thay thế cho trẻ em tại cơ sở nuôi dưỡng sang hình thức nuôi con nuôi tại gia đình.

Có thể nhận định rằng, đây là một điểm tiến bộ vượt bậc trong công tác hoàn thiện thể chế về nuôi con nuôi, theo hướng gắn kết việc nuôi con nuôi với các hình thức chăm sóc thay thế dành cho trẻ em. Tuy nhiên, Nghị định số 24/2019/NĐ-CP cũng đặt ra nhiều yêu cầu và thách thức đối với việc tăng cường hiệu quả công tác phối hợp giữa Ngành Tư pháp và Ngành Lao động - Thương binh và Xã hội trong công tác giải quyết việc nuôi con nuôi trong thời gian tới.

2. Đánh giá công tác phối hợp liên ngành trong hoạt động quản lý nhà nước về nuôi con nuôi

Thực hiện Quy chế số 721/QC-BTP-BLĐTBXH, theo số liệu thống kê của Cục Con nuôi - Bộ Tư pháp, 26 tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương đã thực hiện rà soát được 61 cơ sở nuôi dưỡng công lập, ngoài công lập và cơ sở tôn giáo[2] với hơn 1.400 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại các trung tâm nuôi dưỡng trẻ em[3]. Sau đợt rà soát, chỉ có 02 cơ sở nuôi dưỡng ngoài công lập được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ định giải quyết việc nuôi con nuôi nước ngoài là Làng Hòa Bình (tỉnh Quảng Nam)[4] và Nhà trẻ mồ côi Long Phước (tỉnh Bạc Liêu)[5], 01 cơ sở được nâng cấp, hoàn thiện về cơ sở vật chất cũng như các trang thiết bị phục vụ cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em[6]. Như vậy, số cơ sở TGXH được chỉ định chỉ chiếm 3% trong số 61 cơ sở TGXH được rà soát.

Gần đây nhất, Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã ban hành Kết luận số 3380/TB-BLĐTBXH-BTP ngày 16/8/2018 nhằm thống nhất các biện pháp tăng cường công tác phối hợp liên ngành về nuôi con nuôi. Tuy nhiên, kết quả thực hiện Kết luận trên còn hạn chế. Cho đến nay, phía Bộ Tư pháp vẫn chưa nắm được kết quả rà soát và đánh giá tình hình các cơ sở nuôi dưỡng được thành lập ở địa phương; đồng thời, qua công tác quản lý cho thấy, số lượng trẻ em được giải quyết cho làm con nuôi trong nước chưa tăng; số lượng trẻ em được giải quyết cho làm con nuôi nước ngoài lại giảm so với cùng kỳ năm 2018.

Kể từ khi triển khai thực hiện Nghị định số 24/2019/NĐ-CP, việc lập hồ sơ trẻ em cần được nhận làm con nuôi ở các cơ sở TGXH rất trầm lắng, mặc dù đã có hơn 50 tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương ban hành kế hoạch triển khai thực hiện Nghị định theo Quyết định số 986/QĐ-BTP ngày 23/4/2019 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

3. Một số tồn tại, hạn chế trong công tác phối hợp

Mặc dù có rất nhiều nỗ lực trong công tác phối hợp liên ngành và Chính phủ đã ban hành Nghị định số 24/2019/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 19/2011/NĐ-CP nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn trong công tác nuôi con nuôi, nhưng kết quả công tác phối hợp vẫn còn rất hạn chế, cụ thể như sau:

Thứ nhất, còn một số lượng lớn trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt chưa được quan tâm tìm gia đình thay thế

Trong giai đoạn 2011 - 2018, toàn quốc có 830/20.769 trẻ em ở cơ sở TGXH được giải quyết nuôi con nuôi trong nước (chiếm khoảng gần 4%), trong khi đó, theo số liệu của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thì trên toàn quốc thường xuyên có khoảng hơn 22.000 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt sống tại các cơ sở TGXH.

Qua các đợt công tác tại địa phương cho thấy, một số lượng lớn trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được tiếp nhận vào cơ sở ngoài công lập và cơ sở tôn giáo. Tuy nhiên, những trẻ em này không được quan tâm tìm gia đình thay thế trong nước. Theo thống kê chưa đầy đủ của các Sở Tư pháp của 33 tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương, có khoảng gần 3.000 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt đang được chăm sóc, nuôi dưỡng tại nhà chùa và các cơ sở tôn giáo. Việc để trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt sống lâu dài tại các cơ sở nuôi dưỡng là không phù hợp với lợi ích của trẻ em và không đúng với tinh thần của Luật Trẻ em và Luật Nuôi con nuôi.

Thứ hai, số lượng các cơ sở nuôi dưỡng tham gia giải quyết việc nuôi con nuôi còn rất hạn chế

Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, trên toàn quốc hiện có hơn 200 cơ sở TGXH chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em (chủ yếu tập trung ở thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh). Riêng thành phố Hà Nội, theo số liệu thống kê năm 2014 của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, thành phố có 18 cơ sở TGXH công lập, 18 cơ sở TGXH ngoài công lập, 91 cơ sở tôn giáo, 04 cơ sở tư nhân tự phát đang chăm sóc, nuôi dưỡng hơn 800 đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Thành phố Hồ Chí Minh cũng là địa bàn tập trung đông dân cư, có một số lượng lớn trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt sống tại các cơ sở TGXH.

Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn chưa có cơ sở TGXH ngoài công lập mới nào tham gia giải quyết việc nuôi con nuôi, mặc dù Nghị định số 24/2019/NĐ-CP đã bãi bỏ quy định về việc chỉ định cơ sở TGXH cho trẻ em làm con nuôi.

Qua rà soát cho thấy, đa số những người đứng đầu cơ sở TGXH cho rằng, họ không có nhu cầu cho trẻ em làm con nuôi hoặc trẻ em không có nhu cầu cần được nhận làm con nuôi. Như vậy, việc cơ sở TGXH tham gia giải quyết việc nuôi con nuôi chủ yếu xuất phát từ ý chí chủ quan của những người đứng đầu cơ sở chứ không phải xuất phát từ lợi ích tốt nhất của trẻ em. Điều này dường như đang đi ngược với nguyên tắc của Công ước về quyền trẻ em của Liên Hợp Quốc và Công ước La Hay năm 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực con nuôi quốc tế[7].

Sự hạn chế về nhận thức của các cơ sở TGXH dẫn đến một số lượng lớn trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt không được tìm gia đình thay thế. Số lượng trẻ em được giải quyết cho làm con nuôi trong nước và nước ngoài trong 06 tháng đầu năm 2019 giảm mạnh[8]. Số lượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được tiếp nhận vào các cơ sở nuôi dưỡng công lập có xu hướng giảm sút trong khi ở cơ sở nuôi dưỡng ngoài công lập và cơ sở tôn giáo vẫn có một số lượng lớn trẻ em được chăm sóc và nuôi dưỡng. Điều này cũng gây ra sự lo ngại từ phía các cơ quan có thẩm quyền ở trung ương và địa phương trong việc chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.

4. Những yêu cầu đối với việc thực hiện công tác phối hợp giải quyết việc nuôi con nuôi theo Nghị định số 24/2019/NĐ-CP và đề xuất, kiến nghị

Nghị định số 24/2019/NĐ-CP đã đặt ra những yêu cầu mới đối với công tác phối hợp giải quyết việc nuôi con nuôi. Cụ thể như sau:

Ở địa phương, hoạt động quản lý nhà nước về nuôi con nuôi phải bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan có liên quan trong việc tiến hành các hoạt động triển khai thi hành Nghị định trên địa bàn tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương và bảo đảm điều kiện cho việc triển khai thực hiện Nghị định số 24/2019/NĐ-CP; kịp thời đôn đốc, hướng dẫn và tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn trong quá trình tổ chức thực hiện; phát huy vai trò chủ động, tích cực của các cơ quan để bảo đảm tiến độ và hiệu quả triển khai thực hiện Nghị định.

Đồng thời, các hoạt động triển khai thực hiện Nghị định số 24/2019/NĐ-CP phải được lồng ghép với các nhiệm vụ được giao tại Chỉ thị số 03/2018/CT-TTg ngày 19/01/2018 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường giải quyết việc nuôi con nuôi trong tình hình mới và các văn bản chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về công tác nuôi con nuôi.

Cho đến nay, hơn 50 tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương đã ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị định số 24/2019/NĐ-CP. Theo đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương đã giao nhiệm vụ cho cơ quan tư pháp và lao động - thương binh và xã hội như sau: (i) Sở Tư pháp chủ trì nhiệm vụ tăng cường tuyên truyền, tập huấn nội dung mới của Nghị định; rà soát các thủ tục hành chính về nuôi con nuôi; đôn đốc, hướng dẫn, kiểm tra, theo dõi việc Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ sở nuôi dưỡng rà soát, đánh giá việc trẻ em cần được nhận làm con nuôi và giải quyết những vướng mắc phát sinh; (ii) Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì thực hiện nhiệm vụ rà soát, tăng cường công tác lập danh sách trẻ em có nhu cầu tìm gia đình thay thế tại các cơ sở nuôi dưỡng được thành lập hợp pháp trên địa bàn tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương; tăng cường năng lực cho các cơ sở nuôi dưỡng, không phân biệt cơ sở công lập hay ngoài công lập, trong công tác giải quyết việc nuôi con nuôi; hướng dẫn và kiểm tra việc tiếp nhận, quản lý, sử dụng hỗ trợ nhân đạo ở cơ sở nuôi dưỡng theo quy định tại Nghị định số 24/2019/NĐ-CP và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.

Như vậy, cơ quan tư pháp và lao động - thương binh và xã hội ở địa phương phải tiếp tục phối hợp để tăng cường công tác rà soát và đánh giá nhu cầu trẻ em cần được nhận làm con nuôi, nhằm bảo đảm thực hiện liên thông việc chuyển đổi hình thức chăm sóc thay thế tập trung sang việc nuôi con nuôi.

Ở cấp trung ương, Cục Con nuôi thuộc Bộ Tư pháp và Cục Bảo trợ xã hội thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tiếp tục là cơ quan đầu mối thực hiện Quy chế số 721/QC-BTP-BLĐTBXH, thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 03/2018/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ nhằm phối hợp hướng dẫn, kiểm tra và theo dõi tình hình thực hiện quy định pháp luật về nuôi con nuôi đối với diện trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở cơ sở nuôi dưỡng và chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về công tác nuôi con nuôi. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, chức năng của mình, Bộ Tư pháp chủ động phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội nhằm giải quyết những vướng mắc, khó khăn phát sinh như vấn đề lập hồ sơ trẻ em cần được nhận làm con nuôi ở cơ sở nuôi dưỡng ngoài công lập, đặc biệt khi Nghị định số 24/2019/NĐ-CP không hạn chế các cơ sở nuôi dưỡng được thành lập hợp pháp tham gia giải quyết việc nuôi con nuôi nước ngoài.

Do đó, để tăng cường công tác phối hợp giải quyết việc nuôi con nuôi, các địa phương cần thực hiện tốt kế hoạch triển khai thực hiện Nghị định số 24/2019/NĐ-CP đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt. Nội dung mấu chốt trong giai đoạn 2019 - 2020 là Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với Sở Tư pháp thực hiện: (i) Rà soát các cơ sở nuôi dưỡng được thành lập hợp pháp, đánh giá nhu cầu trẻ em cần được nhận làm con nuôi. Đối với những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt cần tìm gia đình thay thế nhưng sống ở các cơ sở nuôi dưỡng tự phát cần có các biện pháp bảo đảm thực hiện quyền của trẻ em; (ii) Tăng cường hướng dẫn cơ sở nuôi dưỡng ngoài công lập và cơ sở tôn giáo về việc tiếp nhận và lập hồ sơ trẻ em được nhận làm con nuôi để bảo đảm việc giải quyết nuôi con nuôi đúng đối tượng; (iii) Xây dựng quy chế phối hợp liên ngành tại một số địa bàn điểm như thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Đà Nẵng nhằm triển khai thực hiện tốt công tác phối hợp trong việc giải quyết nuôi con nuôi[9].

Tóm lại, công tác phối hợp giữa Ngành Tư pháp và Ngành Lao động - Thương binh và Xã hội trong hoạt động quản lý nhà nước về nuôi con nuôi là rất cần thiết và có ý nghĩa quan trọng. Nếu công tác phối hợp liên ngành được thực hiện tốt ở cấp trung ương và địa phương thì công tác quản lý nhà nước về nuôi con nuôi sẽ đạt được mục đích đề ra, bảo đảm việc nuôi con nuôi là một biện pháp chăm sóc thay thế lâu dài và bền vững đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt cần được nhận làm con nuôi. Nếu công tác phối hợp liên ngành chưa được chú trọng hoặc chưa được quan tâm thực hiện thì mục tiêu mong muốn trong công tác chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở địa phương đó sẽ khó thực hiện, có thể dẫn đến việc hạn chế thực hiện quyền của trẻ em được chăm sóc thay thế và được nhận làm con nuôi.

TS. Phạm Thị Kim Anh

Phó Cục trưởng Cục Con nuôi







[1]. Những cơ sở nuôi dưỡng được thành lập hợp pháp đều có quyền tham gia giải quyết việc nuôi con nuôi.

[2]. 26 cơ sở TGXH công lập, 30 cơ sở ngoài công lập và 05 cơ sở tôn giáo.

[3]. Báo cáo kết quả rà soát các cơ sở nuôi dưỡng theo Quy chế số 721/QC-BTP-BLĐTBXH, Cục Con nuôi, Bộ Tư pháp.

[4]. Quyết định số 3646/QĐ-UBND ngày 20/10/2016 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam.

[5]. Quyết định số 195/QĐ-UBND ngày 23/12/2016 Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu.

[6]. Trung tâm Bảo trợ xã hội thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

[7]. Sách hướng dẫn số 01 hướng dẫn thực hiện tốt Công ước La Hay năm 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế, bản tiếng Việt.

[8]. Trong 06 tháng đầu năm 2019, chỉ có 146 trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng được giải quyết nuôi con nuôi nước ngoài; 34 trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng/1088 trẻ em được giải quyết cho làm con nuôi trong nước (chỉ chiếm khoảng 3%).

[9]. Hội nghị triển khai thực hiện Nghị định số 24/2019/NĐ-CP tại TP. Hồ Chí Minh, TP. Đà Nẵng năm 2019, Cục Con nuôi - Bộ Tư pháp.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: