Thứ bảy 14/03/2026 18:14
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tăng cường hiệu quả áp dụng thủ tục tư pháp rút gọn trong giải quyết vụ án hình sự

Bài viết trình bày khái niệm, nội dung của thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự, làm rõ một số vấn đề còn vướng mắc, bất cập, từ đó, tác giả có một số đề xuất, kiến nghị nâng cao hiệu quả áp dụng thủ tục này trong thực tiễn.

Tóm tắt: Bài viết trình bày khái niệm, nội dung của thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự, làm rõ một số vấn đề còn vướng mắc, bất cập, từ đó, tác giả có một số đề xuất, kiến nghị nâng cao hiệu quả áp dụng thủ tục này trong thực tiễn.

Abstract: The article presents the concept and content of the summary procedure in criminal proceedings, clarifies a number of problems and inadequacies, from which the author has some suggestions and recommendations to improve the efficiency of applying this procedure in practice.

1. Khái niệm, ý nghĩa của thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự

Thủ tục rút gọn (TTRG) trong tố tụng hình sự (TTHS) là một thủ tục đặc biệt, thể chế hóa quan điểm chỉ đạo của Đảng về cải cách tư pháp, được thể hiện trong Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác cải cách tư pháp trong thời gian tới, cụ thể là: “Nghiên cứu để quy định và thực hiện thủ tục tố tụng rút gọn đối với những vụ án đơn giản, phạm tội quả tang, chứng cứ rõ ràng, hậu quả ít nghiêm trọng”; hay trong Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 như: “Xây dựng cơ chế xét xử theo TTRG đối với những vụ án có đủ một số điều kiện nhất định”. Như vậy, để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm, TTRG được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để áp dụng đối với những vụ án khi có đủ các điều kiện nhất định.

Hiện nay, có những quan điểm khác nhau về TTRG trong TTHS. Có quan điểm cho rằng: “TTRG là thủ tục tố tụng được tiến hành trên cơ sở vẫn tuân theo những nguyên tắc cơ bản và các giai đoạn của TTHS nhưng một số thủ tục được giản lược và thời hạn của các giai đoạn tố tụng được rút ngắn để việc điều tra, truy tố, xét xử được nhanh chóng, kịp thời đối với các loại vụ án đơn giản, rõ ràng, bảo đảm cho cuộc đấu tranh chống tội phạm được kịp thời và sắc bén, góp phần bảo đảm các quyền tự do dân chủ của công dân khi tham gia các quan hệ pháp luật tố tụng hình sự[1].” Quan điểm này tuy đưa ra được một số nội hàm của TTRG nhưng thiếu điều kiện, căn cứ áp dụng và cách trình bày khái niệm cũng chưa thực sự cô đọng, súc tích.

Lại có quan điểm cho rằng, “TTRG trong TTHS là thủ tục đặc biệt trong đó thời hạn và các thủ tục tố tụng đã được rút ngắn và giản lược để việc điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm được nhanh chóng, kịp thời nhưng vẫn bảo đảm tính chính xác và đúng đắn[2]”. Quan điểm này đã nêu một cách ngắn gọn, súc tích về khái niệm TTRG, thể hiện được nội dung của TTRG đó là sự rút ngắn và giản lược, thể hiện được mục đích, ý nghĩa cũng như nguyên tắc cơ bản của việc áp dụng thủ tục này. Tuy nhiên, chưa thể hiện được yếu tố bắt buộc của thủ tục đó là “tính điều kiện” để thủ tục đó được áp dụng vào việc giải quyết vụ án.

Quan điểm thứ ba cho rằng, “TTRG là một trình tự tố tụng đặc biệt được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 do cơ quan có thẩm quyền quyết định áp dụng đối với những vụ án khi có đủ các điều kiện nhất định; là thủ tục tố tụng rút ngắn về thời gian, giản lược về trình tự nhằm giải quyết vụ án hình sự (VAHS) một cách nhanh chóng và có hiệu quả, nhưng vẫn bảo đảm được các nguyên tắc của TTHS và quyền lợi hợp pháp của bị can, bị cáo và người tham gia tố tụng[3]”. Quan điểm này để thể hiện được một cách đầy đủ các nội hàm của TTRG như chủ thể, điều kiện, nội dung, ý nghĩa, nguyên tắc chung của việc áp dụng thủ tục rút gọn. Tác giả đồng tình với quan điểm này.

Như vậy, nhắc đến TTRG cần phải thể hiện được điều kiện, nội dung, ý nghĩa của việc áp dụng. Tuy nhiên, bên cạnh đó cần khẳng định việc áp dụng phải bảo đảm được các nguyên tắc của TTHS và quyền lợi hợp pháp của bị can, bị cáo và người tham gia tố tụng. Đó là kim chỉ nam để việc áp dụng TTRG được đúng đắn, cần thiết, có căn cứ nhưng cũng không thể bị lạm dụng trên thực tế.

So với trình tự thủ tục TTHS thông thường, được áp dụng để điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự nói chung, TTRG có sự rút ngắn về thời gian điều tra, truy tố, xét xử và giản lược một số trình tự thủ tục nhất định. Do vậy, việc áp dụng TTRG sẽ giúp tiết kiệm thời gian, công sức cho người tiến hành tố tụng (THTT), giảm thiểu các chi phí tố tụng khác liên quan đến việc giải quyết vụ án hình sự nhưng vẫn bảo đảm không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, bảo đảm việc giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện, đầy đủ; đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

2. Một số vấn đề đặt ra khi áp dụng thủ tục rút gọn theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Thực tiễn cho thấy, số vụ án được giải quyết theo TTRG gọn hiện nay không nhiều, điều đó khiến cho thủ tục tố tụng rút gọn chưa thực sự phát huy được hiệu quả và các giá trị ưu việt trong đấu tranh phòng chống tội phạm. Có thể nhận thấy thực trạng đó xuất phát từ những nguyên nhân sau đây:

- Trong các điều kiện áp dụng TTRG theo quy định của pháp luật vẫn còn một số điều kiện mang tính chất định tính khiến các cơ quan THTT có thể đánh giá, nhận định không thống nhất, do đó không áp dụng. Đơn cử như tình tiết “sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng” và “người phạm tội có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng” là những tình tiết mà thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử còn có quan điểm nhận thức, áp dụng khác nhau dẫn đến việc áp dụng cũng khác nhau[4].

- Điều kiện áp dụng TTRG phải bảo đảm đầy đủ 04 yếu tố: Thuộc trường hợp rõ ràng (quả tang hoặc tự thú); tính chất sự việc và chứng cứ (đơn giản, rõ ràng); tính chất tội phạm (tội ít nghiêm trọng), nhân thân người phạm tội (có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng). Mặc dù việc quy định phải có đầy đủ các yếu tố đó là đúng đắn và cần thiết, nhằm tránh nguy cơ lọt người, lọt tội, nhưng trên thực tế, các trường hợp thỏa mãn đầy đủ các điều kiện đó là không nhiều. Một số trường hợp thỏa mãn các điều kiện định lượng, nhưng lại không thỏa mãn các điều kiện định tính. Trong khi đó, nhiều trường hợp thỏa mãn các điều kiện định tính nhưng người phạm tội không phải tự thú mà là đầu thú, hoặc tội phạm đã thực hiện là tội phạm nghiêm trọng, nên cũng không được coi là đủ điều kiện áp dụng TTRG mặc dù trên thực tế quá trình giải quyết vụ án diễn ra khá nhanh chóng.

- Cơ quan THTT, người THTT còn có tâm lý ngại áp dụng TTRG vì thời gian quá ngắn, trong khi áp lực công việc ngày càng nhiều, số lượng án ngày càng tăng nhưng chỉ tiêu biên chế còn hạn hẹp, vì thế việc áp dụng TTRG vô hình trung lại đặt ra áp lực về tiến độ. Đặc biệt, với trường hợp cần trưng cầu giám định, xác minh tiền án tiền sự hoặc vụ án có nhiều bị can, tuy đây không phải những trường hợp phức tạp nhưng cơ quan THTT khó chủ động được do thời gian ngắn. Mặt khác, trong thời hạn giải quyết hạn hẹp đó thì tâm lý lo sợ nguy cơ bỏ lọt tội phạm hoặc làm oan người vô tội cũng là không tránh khỏi. Vì vậy, các cơ quan THTT thường lựa chọn giải quyết vụ án theo thủ tục chung mặc dù vụ án có điều kiện để áp dụng TTRG[5].

- Người THTT thường có tâm lý áp dụng TTRG cần phải xuyên suốt trong các giai đoạn tố tụng, bắt đầu từ giai đoạn điều tra. Do đó, trong một vụ án, nếu TTRG không được áp dụng ở giai đoạn tố tụng trước thì trong các giai đoạn tố tụng sau, cơ quan THTT cũng không mạnh dạn áp dụng, mặc dù vụ án có đủ điều kiện áp dụng ngay từ đầu hoặc tuy không đủ nhưng đến giai đoạn tố tụng sau đã đủ[6].

3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự

Một là, cần có hướng dẫn thống nhất về điều kiện áp dụng TTRG trong các VAHS. Theo đó, cần hướng dẫn “sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng” được hiểu là các vụ việc phạm tội chỉ gồm hành vi phạm tội đơn lẻ, không có đồng phạm hoặc tuy có đồng phạm nhưng giản đơn, dễ xác định vai trò, mức độ tham gia của từng đối tượng; tội phạm được thực hiện tại một địa điểm; chứng cứ ở thời điểm quyết định áp dụng TTRG là rõ ràng, không có quan điểm, nhận định đánh giá trái chiều giữa các cơ quan THTT; việc thu thập chứng cứ chỉ cần đến các biện pháp đơn giản như yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu, đồ vật; hỏi cung, lấy lời khai… mà không cần phải sử dụng các biện pháp điều tra, xác minh phức tạp, đặc biệt là trưng cầu giám định. Mặt khác, đó cũng là những trường hợp giữa các cơ quan THTT không có quan điểm khác nhau về áp dụng pháp luật.

Hiện nay, để tăng cường hiệu quả áp dụng TTRG trong giải quyết vụ án hình sự, có nhiều ý kiến cho rằng, cần phải mở rộng phạm vi áp dụng thủ tục này trong những vụ án có người phạm tội đầu thú, thay vì chỉ với trường hợp quả tang và tự thú. Tác giả cho rằng, việc quy định TTRG chỉ áp dụng với các trường hợp quả tang và tự thú như hiện nay là có căn cứ và phù hợp, bởi lẽ, mấu chốt quyết định để áp dụng TTRG đó là sự việc rõ ràng, đơn giản, nếu rút ngắn thời gian và thủ tục thì vẫn bảo đảm việc giải quyết vụ án là đúng đắn, chính xác, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng. Tuy nhiên, đối với trường hợp người phạm tội đầu thú, cơ quan THTT vẫn cần áp dụng các biện pháp cần thiết để kiểm tra, xác minh tính đúng đắn, xác thực của sự việc, cần có thời gian đủ để làm sáng tỏ sự thật khách quan, do đó, nếu áp dụng TTRG để giải quyết thì khó có thể tránh được nguy cơ oan sai, bỏ lọt tội phạm, vi phạm tôn chỉ, mục đích của việc áp dụng TTRG.

Hai là, để giảm thiểu các trường hợp phải hủy bỏ quyết định áp dụng TTRG, cần cân nhắc đến yếu tố hợp tác của bị can, bị cáo trong quá trình giải quyết vụ án theo TTRG. Nghiên cứu các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về thủ tục này có thể nhận thấy, chưa có quy định nào thể hiện sự ý chí của bị can, bị cáo khi cơ quan có thẩm quyền quyết định áp dụng TTRG. Trong khi đó, các căn cứ để quyết định áp dụng TTRG bị hủy bỏ lại liên quan nhiều đến thái độ, sự hợp tác của người bị buộc tội trong quá trình tố tụng (do liên quan đến các căn cứ để tạm đình chỉ điều tra/vụ án hoặc trả hồ sơ điều tra bổ sung). Quan trọng hơn cả là ý chí đó sẽ góp phần củng cố thêm quyết tâm, tin tưởng của cơ quan THTT khi cân nhắc, lựa chọn việc áp dụng TTRG trước áp lực thời gian quá ngắn. Vì vậy, để hạn chế hoặc loại bỏ những cản trở gây ra từ phía người bị buộc tội, cần ràng buộc họ ngay từ đầu khi xem xét, quyết định áp dụng TTRG. Theo đó, khi vụ án đủ điều kiện áp dụng TTRG, cơ quan THTT cần khuyến khích sự hợp tác đồng thuận của người bị buộc tội nhằm loại trừ những khó khăn, nguy cơ từ phía họ khiến cho vụ án phải tạm đình chỉ điều tra, trả hồ sơ điều tra bổ sung hoặc khiếu nại phức tạp sau này. Việc áp dụng cũng mang lại lợi ích cho người bị buộc tội khi họ được rút ngắn thời gian truy cứu trách nhiệm hình sự, phán quyết về hành vi phạm tội của họ mau chóng được ban hành và thực thi. Mặt khác, người bị buộc tội cũng cần được hưởng chính sách khoan hồng do đã hợp tác với cơ quan THTT. Với cách tiếp cận đó, cần bổ sung vào khoản 5 Điều 457 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định “trường hợp vụ án có đủ điều kiện áp dụng TTRG thì bị can, bị cáo có quyền đề nghị hoặc thể hiện sự đồng ý khi cơ quan THTT áp dụng thủ tục này”, đồng thời, nếu vụ án được áp dụng TTRG thì cần coi đây là một tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây, gọi tắt là Bộ luật Hình sự năm 2015).

Ba là, xây dựng cơ chế để phát huy vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc bảo đảm TTRG phải được áp dụng nghiêm chỉnh và thống nhất. Chương XXXI Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định về TTRG có đề cập đến vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc kiểm sát quyết định áp dụng TTRG của Cơ quan điều tra và Tòa án, tuy nhiên, chưa có điều luật riêng trong chương này quy định quyền yêu cầu/kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân đối với Cơ quan điều tra và Tòa án trong trường hợp vụ án có đủ điều kiện áp dụng TTRG nhưng cơ quan THTT không áp dụng mà chỉ quy định chung trong các điều luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi kiểm sát điều tra hoặc khi kiểm sát xét xử. Tuy nhiên, để tăng cường áp dụng TTRG đối với các vụ án có đủ điều kiện thì Chương XXXI Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cần có quy định riêng về trách nhiệm, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân và cơ chế để trách nhiệm đó phát huy hiệu lực trong thực tiễn. Khi kiểm sát việc khởi tố vụ án cũng như trong suốt quá trình điều tra, Viện kiểm sát nhân dân thường xuyên rà soát để kịp thời xác định vụ án có hay không có điều kiện áp dụng TTRG, trên cơ sở đó nhanh chóng yêu cầu cơ quan điều tra ra quyết định áp dụng, nếu cơ quan điều tra không thực hiện thì Viện kiểm sát nhân dân trực tiếp ra quyết định này. Trong giai đoạn xét xử, Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm kiểm sát việc áp dụng TTRG của Tòa án, nếu thấy có đủ điều kiện mà Tòa án không áp dụng thì Viện kiểm sát nhân dân phải kiến nghị để Tòa án kịp thời ra quyết định áp dụng. Yêu cầu, kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân về việc áp dụng TTRG phải được thực hiện nghiêm chỉnh, đầy đủ.

Bốn là, đưa chỉ tiêu giải quyết án hình sự theo TTRG vào hệ thống chỉ tiêu cơ bản để đánh giá, xếp loại thi đua, khen thưởng hoặc khi xem xét bổ nhiệm, bổ nhiệm lại các chức danh tư pháp. Có như vậy mới khuyến khích người THTT mạnh dạn, quyết tâm áp dụng TTRG. Đồng thời, khi quyết định áp dụng TTRG, các cơ quan THTT cũng cần ưu tiên phân công điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán có năng lực, kinh nghiệm để giải quyết. Do thời hạn giải quyết các vụ án này tương đối ngắn nên để phòng ngừa các nguy cơ sai sót, thì việc lựa chọn người THTT có năng lực, kinh nghiệm là một biện pháp hiệu quả, vừa phát huy được tính ưu việt của TTRG, vừa giảm thiểu được nguy cơ, rủi ro do biện pháp đó tạo ra[7].

TS. Bùi Thị Hạnh

Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội

[1]. Nguyễn Văn Hiển (2004) “Thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự Việt Nam, Hà Nội, tr. 65

[2]. Đỗ Thị Phượng (2008) “Một số vấn đề về thủ tục rút gọn trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003”, Kỷ yếu hội thảo “Thủ tục đặc biệt trong tố tụng hình sự”, Khoa Luật hình sự, Trường Đại học Luật Hà Nội.

[3]. Nguyễn Văn Quảng (2011), Luận án Tiến sĩ Luật học, “Hoàn thiện thủ tục rút họn trong Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, tr. 14 - 15.

[4]. Nguyễn Tất Trình, Thủ tục rút gọn - vướng mắc và kiến nghị, https://tapchitoaan.vn/thu-tuc-rut-gon-%E2%80%93-vuong-mac-va-kien-nghi5586.html, truy cập ngày 23/5/2023.

[5]. Nguyễn Duy Soạn, Thực tiễn áp dụng thủ tục rút gọn theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, https://vksndtc.gov.vn/tin-tuc/cong-tac-kiem-sat/thuc-tien-ap-dung-thu-tuc-rut-gon-theo-quy-dinh-cu-d10-t8374.html, truy cập ngày 23/5/2023.

[6]. Nguyễn Tất Trình, Thủ tục rút gọn - vướng mắc và kiến nghị, https://tapchitoaan.vn/thu-tuc-rut-gon-%E2%80%93-vuong-mac-va-kien-nghi5586.html, truy cập ngày 23/5/2023.

[7]. “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự Việt Nam”, Đề tài khoa học cấp trường, Lê Hữu Tín, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, 2020.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 382), tháng 6/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: