Thứ tư 09/09/2026 01:04
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tăng cường hiệu quả áp dụng thủ tục tư pháp rút gọn trong giải quyết vụ án hình sự

Bài viết trình bày khái niệm, nội dung của thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự, làm rõ một số vấn đề còn vướng mắc, bất cập, từ đó, tác giả có một số đề xuất, kiến nghị nâng cao hiệu quả áp dụng thủ tục này trong thực tiễn.

Tóm tắt: Bài viết trình bày khái niệm, nội dung của thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự, làm rõ một số vấn đề còn vướng mắc, bất cập, từ đó, tác giả có một số đề xuất, kiến nghị nâng cao hiệu quả áp dụng thủ tục này trong thực tiễn.

Abstract: The article presents the concept and content of the summary procedure in criminal proceedings, clarifies a number of problems and inadequacies, from which the author has some suggestions and recommendations to improve the efficiency of applying this procedure in practice.

1. Khái niệm, ý nghĩa của thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự

Thủ tục rút gọn (TTRG) trong tố tụng hình sự (TTHS) là một thủ tục đặc biệt, thể chế hóa quan điểm chỉ đạo của Đảng về cải cách tư pháp, được thể hiện trong Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác cải cách tư pháp trong thời gian tới, cụ thể là: “Nghiên cứu để quy định và thực hiện thủ tục tố tụng rút gọn đối với những vụ án đơn giản, phạm tội quả tang, chứng cứ rõ ràng, hậu quả ít nghiêm trọng”; hay trong Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 như: “Xây dựng cơ chế xét xử theo TTRG đối với những vụ án có đủ một số điều kiện nhất định”. Như vậy, để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm, TTRG được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để áp dụng đối với những vụ án khi có đủ các điều kiện nhất định.

Hiện nay, có những quan điểm khác nhau về TTRG trong TTHS. Có quan điểm cho rằng: “TTRG là thủ tục tố tụng được tiến hành trên cơ sở vẫn tuân theo những nguyên tắc cơ bản và các giai đoạn của TTHS nhưng một số thủ tục được giản lược và thời hạn của các giai đoạn tố tụng được rút ngắn để việc điều tra, truy tố, xét xử được nhanh chóng, kịp thời đối với các loại vụ án đơn giản, rõ ràng, bảo đảm cho cuộc đấu tranh chống tội phạm được kịp thời và sắc bén, góp phần bảo đảm các quyền tự do dân chủ của công dân khi tham gia các quan hệ pháp luật tố tụng hình sự[1].” Quan điểm này tuy đưa ra được một số nội hàm của TTRG nhưng thiếu điều kiện, căn cứ áp dụng và cách trình bày khái niệm cũng chưa thực sự cô đọng, súc tích.

Lại có quan điểm cho rằng, “TTRG trong TTHS là thủ tục đặc biệt trong đó thời hạn và các thủ tục tố tụng đã được rút ngắn và giản lược để việc điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm được nhanh chóng, kịp thời nhưng vẫn bảo đảm tính chính xác và đúng đắn[2]”. Quan điểm này đã nêu một cách ngắn gọn, súc tích về khái niệm TTRG, thể hiện được nội dung của TTRG đó là sự rút ngắn và giản lược, thể hiện được mục đích, ý nghĩa cũng như nguyên tắc cơ bản của việc áp dụng thủ tục này. Tuy nhiên, chưa thể hiện được yếu tố bắt buộc của thủ tục đó là “tính điều kiện” để thủ tục đó được áp dụng vào việc giải quyết vụ án.

Quan điểm thứ ba cho rằng, “TTRG là một trình tự tố tụng đặc biệt được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 do cơ quan có thẩm quyền quyết định áp dụng đối với những vụ án khi có đủ các điều kiện nhất định; là thủ tục tố tụng rút ngắn về thời gian, giản lược về trình tự nhằm giải quyết vụ án hình sự (VAHS) một cách nhanh chóng và có hiệu quả, nhưng vẫn bảo đảm được các nguyên tắc của TTHS và quyền lợi hợp pháp của bị can, bị cáo và người tham gia tố tụng[3]”. Quan điểm này để thể hiện được một cách đầy đủ các nội hàm của TTRG như chủ thể, điều kiện, nội dung, ý nghĩa, nguyên tắc chung của việc áp dụng thủ tục rút gọn. Tác giả đồng tình với quan điểm này.

Như vậy, nhắc đến TTRG cần phải thể hiện được điều kiện, nội dung, ý nghĩa của việc áp dụng. Tuy nhiên, bên cạnh đó cần khẳng định việc áp dụng phải bảo đảm được các nguyên tắc của TTHS và quyền lợi hợp pháp của bị can, bị cáo và người tham gia tố tụng. Đó là kim chỉ nam để việc áp dụng TTRG được đúng đắn, cần thiết, có căn cứ nhưng cũng không thể bị lạm dụng trên thực tế.

So với trình tự thủ tục TTHS thông thường, được áp dụng để điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự nói chung, TTRG có sự rút ngắn về thời gian điều tra, truy tố, xét xử và giản lược một số trình tự thủ tục nhất định. Do vậy, việc áp dụng TTRG sẽ giúp tiết kiệm thời gian, công sức cho người tiến hành tố tụng (THTT), giảm thiểu các chi phí tố tụng khác liên quan đến việc giải quyết vụ án hình sự nhưng vẫn bảo đảm không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, bảo đảm việc giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện, đầy đủ; đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

2. Một số vấn đề đặt ra khi áp dụng thủ tục rút gọn theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Thực tiễn cho thấy, số vụ án được giải quyết theo TTRG gọn hiện nay không nhiều, điều đó khiến cho thủ tục tố tụng rút gọn chưa thực sự phát huy được hiệu quả và các giá trị ưu việt trong đấu tranh phòng chống tội phạm. Có thể nhận thấy thực trạng đó xuất phát từ những nguyên nhân sau đây:

- Trong các điều kiện áp dụng TTRG theo quy định của pháp luật vẫn còn một số điều kiện mang tính chất định tính khiến các cơ quan THTT có thể đánh giá, nhận định không thống nhất, do đó không áp dụng. Đơn cử như tình tiết “sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng” và “người phạm tội có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng” là những tình tiết mà thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử còn có quan điểm nhận thức, áp dụng khác nhau dẫn đến việc áp dụng cũng khác nhau[4].

- Điều kiện áp dụng TTRG phải bảo đảm đầy đủ 04 yếu tố: Thuộc trường hợp rõ ràng (quả tang hoặc tự thú); tính chất sự việc và chứng cứ (đơn giản, rõ ràng); tính chất tội phạm (tội ít nghiêm trọng), nhân thân người phạm tội (có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng). Mặc dù việc quy định phải có đầy đủ các yếu tố đó là đúng đắn và cần thiết, nhằm tránh nguy cơ lọt người, lọt tội, nhưng trên thực tế, các trường hợp thỏa mãn đầy đủ các điều kiện đó là không nhiều. Một số trường hợp thỏa mãn các điều kiện định lượng, nhưng lại không thỏa mãn các điều kiện định tính. Trong khi đó, nhiều trường hợp thỏa mãn các điều kiện định tính nhưng người phạm tội không phải tự thú mà là đầu thú, hoặc tội phạm đã thực hiện là tội phạm nghiêm trọng, nên cũng không được coi là đủ điều kiện áp dụng TTRG mặc dù trên thực tế quá trình giải quyết vụ án diễn ra khá nhanh chóng.

- Cơ quan THTT, người THTT còn có tâm lý ngại áp dụng TTRG vì thời gian quá ngắn, trong khi áp lực công việc ngày càng nhiều, số lượng án ngày càng tăng nhưng chỉ tiêu biên chế còn hạn hẹp, vì thế việc áp dụng TTRG vô hình trung lại đặt ra áp lực về tiến độ. Đặc biệt, với trường hợp cần trưng cầu giám định, xác minh tiền án tiền sự hoặc vụ án có nhiều bị can, tuy đây không phải những trường hợp phức tạp nhưng cơ quan THTT khó chủ động được do thời gian ngắn. Mặt khác, trong thời hạn giải quyết hạn hẹp đó thì tâm lý lo sợ nguy cơ bỏ lọt tội phạm hoặc làm oan người vô tội cũng là không tránh khỏi. Vì vậy, các cơ quan THTT thường lựa chọn giải quyết vụ án theo thủ tục chung mặc dù vụ án có điều kiện để áp dụng TTRG[5].

- Người THTT thường có tâm lý áp dụng TTRG cần phải xuyên suốt trong các giai đoạn tố tụng, bắt đầu từ giai đoạn điều tra. Do đó, trong một vụ án, nếu TTRG không được áp dụng ở giai đoạn tố tụng trước thì trong các giai đoạn tố tụng sau, cơ quan THTT cũng không mạnh dạn áp dụng, mặc dù vụ án có đủ điều kiện áp dụng ngay từ đầu hoặc tuy không đủ nhưng đến giai đoạn tố tụng sau đã đủ[6].

3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự

Một là, cần có hướng dẫn thống nhất về điều kiện áp dụng TTRG trong các VAHS. Theo đó, cần hướng dẫn “sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng” được hiểu là các vụ việc phạm tội chỉ gồm hành vi phạm tội đơn lẻ, không có đồng phạm hoặc tuy có đồng phạm nhưng giản đơn, dễ xác định vai trò, mức độ tham gia của từng đối tượng; tội phạm được thực hiện tại một địa điểm; chứng cứ ở thời điểm quyết định áp dụng TTRG là rõ ràng, không có quan điểm, nhận định đánh giá trái chiều giữa các cơ quan THTT; việc thu thập chứng cứ chỉ cần đến các biện pháp đơn giản như yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu, đồ vật; hỏi cung, lấy lời khai… mà không cần phải sử dụng các biện pháp điều tra, xác minh phức tạp, đặc biệt là trưng cầu giám định. Mặt khác, đó cũng là những trường hợp giữa các cơ quan THTT không có quan điểm khác nhau về áp dụng pháp luật.

Hiện nay, để tăng cường hiệu quả áp dụng TTRG trong giải quyết vụ án hình sự, có nhiều ý kiến cho rằng, cần phải mở rộng phạm vi áp dụng thủ tục này trong những vụ án có người phạm tội đầu thú, thay vì chỉ với trường hợp quả tang và tự thú. Tác giả cho rằng, việc quy định TTRG chỉ áp dụng với các trường hợp quả tang và tự thú như hiện nay là có căn cứ và phù hợp, bởi lẽ, mấu chốt quyết định để áp dụng TTRG đó là sự việc rõ ràng, đơn giản, nếu rút ngắn thời gian và thủ tục thì vẫn bảo đảm việc giải quyết vụ án là đúng đắn, chính xác, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng. Tuy nhiên, đối với trường hợp người phạm tội đầu thú, cơ quan THTT vẫn cần áp dụng các biện pháp cần thiết để kiểm tra, xác minh tính đúng đắn, xác thực của sự việc, cần có thời gian đủ để làm sáng tỏ sự thật khách quan, do đó, nếu áp dụng TTRG để giải quyết thì khó có thể tránh được nguy cơ oan sai, bỏ lọt tội phạm, vi phạm tôn chỉ, mục đích của việc áp dụng TTRG.

Hai là, để giảm thiểu các trường hợp phải hủy bỏ quyết định áp dụng TTRG, cần cân nhắc đến yếu tố hợp tác của bị can, bị cáo trong quá trình giải quyết vụ án theo TTRG. Nghiên cứu các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về thủ tục này có thể nhận thấy, chưa có quy định nào thể hiện sự ý chí của bị can, bị cáo khi cơ quan có thẩm quyền quyết định áp dụng TTRG. Trong khi đó, các căn cứ để quyết định áp dụng TTRG bị hủy bỏ lại liên quan nhiều đến thái độ, sự hợp tác của người bị buộc tội trong quá trình tố tụng (do liên quan đến các căn cứ để tạm đình chỉ điều tra/vụ án hoặc trả hồ sơ điều tra bổ sung). Quan trọng hơn cả là ý chí đó sẽ góp phần củng cố thêm quyết tâm, tin tưởng của cơ quan THTT khi cân nhắc, lựa chọn việc áp dụng TTRG trước áp lực thời gian quá ngắn. Vì vậy, để hạn chế hoặc loại bỏ những cản trở gây ra từ phía người bị buộc tội, cần ràng buộc họ ngay từ đầu khi xem xét, quyết định áp dụng TTRG. Theo đó, khi vụ án đủ điều kiện áp dụng TTRG, cơ quan THTT cần khuyến khích sự hợp tác đồng thuận của người bị buộc tội nhằm loại trừ những khó khăn, nguy cơ từ phía họ khiến cho vụ án phải tạm đình chỉ điều tra, trả hồ sơ điều tra bổ sung hoặc khiếu nại phức tạp sau này. Việc áp dụng cũng mang lại lợi ích cho người bị buộc tội khi họ được rút ngắn thời gian truy cứu trách nhiệm hình sự, phán quyết về hành vi phạm tội của họ mau chóng được ban hành và thực thi. Mặt khác, người bị buộc tội cũng cần được hưởng chính sách khoan hồng do đã hợp tác với cơ quan THTT. Với cách tiếp cận đó, cần bổ sung vào khoản 5 Điều 457 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định “trường hợp vụ án có đủ điều kiện áp dụng TTRG thì bị can, bị cáo có quyền đề nghị hoặc thể hiện sự đồng ý khi cơ quan THTT áp dụng thủ tục này”, đồng thời, nếu vụ án được áp dụng TTRG thì cần coi đây là một tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây, gọi tắt là Bộ luật Hình sự năm 2015).

Ba là, xây dựng cơ chế để phát huy vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc bảo đảm TTRG phải được áp dụng nghiêm chỉnh và thống nhất. Chương XXXI Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định về TTRG có đề cập đến vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc kiểm sát quyết định áp dụng TTRG của Cơ quan điều tra và Tòa án, tuy nhiên, chưa có điều luật riêng trong chương này quy định quyền yêu cầu/kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân đối với Cơ quan điều tra và Tòa án trong trường hợp vụ án có đủ điều kiện áp dụng TTRG nhưng cơ quan THTT không áp dụng mà chỉ quy định chung trong các điều luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi kiểm sát điều tra hoặc khi kiểm sát xét xử. Tuy nhiên, để tăng cường áp dụng TTRG đối với các vụ án có đủ điều kiện thì Chương XXXI Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cần có quy định riêng về trách nhiệm, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân và cơ chế để trách nhiệm đó phát huy hiệu lực trong thực tiễn. Khi kiểm sát việc khởi tố vụ án cũng như trong suốt quá trình điều tra, Viện kiểm sát nhân dân thường xuyên rà soát để kịp thời xác định vụ án có hay không có điều kiện áp dụng TTRG, trên cơ sở đó nhanh chóng yêu cầu cơ quan điều tra ra quyết định áp dụng, nếu cơ quan điều tra không thực hiện thì Viện kiểm sát nhân dân trực tiếp ra quyết định này. Trong giai đoạn xét xử, Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm kiểm sát việc áp dụng TTRG của Tòa án, nếu thấy có đủ điều kiện mà Tòa án không áp dụng thì Viện kiểm sát nhân dân phải kiến nghị để Tòa án kịp thời ra quyết định áp dụng. Yêu cầu, kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân về việc áp dụng TTRG phải được thực hiện nghiêm chỉnh, đầy đủ.

Bốn là, đưa chỉ tiêu giải quyết án hình sự theo TTRG vào hệ thống chỉ tiêu cơ bản để đánh giá, xếp loại thi đua, khen thưởng hoặc khi xem xét bổ nhiệm, bổ nhiệm lại các chức danh tư pháp. Có như vậy mới khuyến khích người THTT mạnh dạn, quyết tâm áp dụng TTRG. Đồng thời, khi quyết định áp dụng TTRG, các cơ quan THTT cũng cần ưu tiên phân công điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán có năng lực, kinh nghiệm để giải quyết. Do thời hạn giải quyết các vụ án này tương đối ngắn nên để phòng ngừa các nguy cơ sai sót, thì việc lựa chọn người THTT có năng lực, kinh nghiệm là một biện pháp hiệu quả, vừa phát huy được tính ưu việt của TTRG, vừa giảm thiểu được nguy cơ, rủi ro do biện pháp đó tạo ra[7].

TS. Bùi Thị Hạnh

Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội

[1]. Nguyễn Văn Hiển (2004) “Thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự Việt Nam, Hà Nội, tr. 65

[2]. Đỗ Thị Phượng (2008) “Một số vấn đề về thủ tục rút gọn trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003”, Kỷ yếu hội thảo “Thủ tục đặc biệt trong tố tụng hình sự”, Khoa Luật hình sự, Trường Đại học Luật Hà Nội.

[3]. Nguyễn Văn Quảng (2011), Luận án Tiến sĩ Luật học, “Hoàn thiện thủ tục rút họn trong Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, tr. 14 - 15.

[4]. Nguyễn Tất Trình, Thủ tục rút gọn - vướng mắc và kiến nghị, https://tapchitoaan.vn/thu-tuc-rut-gon-%E2%80%93-vuong-mac-va-kien-nghi5586.html, truy cập ngày 23/5/2023.

[5]. Nguyễn Duy Soạn, Thực tiễn áp dụng thủ tục rút gọn theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, https://vksndtc.gov.vn/tin-tuc/cong-tac-kiem-sat/thuc-tien-ap-dung-thu-tuc-rut-gon-theo-quy-dinh-cu-d10-t8374.html, truy cập ngày 23/5/2023.

[6]. Nguyễn Tất Trình, Thủ tục rút gọn - vướng mắc và kiến nghị, https://tapchitoaan.vn/thu-tuc-rut-gon-%E2%80%93-vuong-mac-va-kien-nghi5586.html, truy cập ngày 23/5/2023.

[7]. “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự Việt Nam”, Đề tài khoa học cấp trường, Lê Hữu Tín, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, 2020.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 382), tháng 6/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Trong bước chuyển mình của đất nước bước vào kỷ nguyên mới, văn hóa đang được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Cùng với đó, con người được xác định là trung tâm của sự nghiệp phát triển văn hóa khi vừa là chủ thể sáng tạo, gìn giữ, vừa là lực lượng trực tiếp biến những giá trị ấy thành nguồn lực phát triển cho đất nước.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: