Thứ tư 18/03/2026 06:25
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tăng cường hoạt động giám sát của Quốc hội trong quản lý tài sản công tại các cơ quan nhà nước ở trung ương

Quốc hội Việt Nam với vai trò là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bên cạnh chức năng lập pháp và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước còn thực hiện quyền giám sát tối cao nhằm ngăn ngừa tình trạng tham nhũng, lãng phí.

Tóm tắt: Bài viết này tập trung làm rõ thực trạng giám sát của Quốc hội trong quản lý tài sản công tại các cơ quan nhà nước ở trung ương, xác định những vấn đề đặt ra và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện đáp ứng yêu cầu mới hiện nay.

Abstract: This article focuses on clarifying the status of the National Assembly's supervision in public asset management at central state agencies, identifying the problems posed and proposing some complete solutions to meet the new requirements at present.

1. Khái quát về giám sát của Quốc hội trong quản lý, sử dụng tài sản công tại các cơ quan nhà nước ở trung ương

Tài sản công (TSC) là nguồn lực quan trọng, có phạm vi rộng, chiếm giữ tỷ trọng lớn trong tổng tài sản của mỗi quốc gia; đây là nguồn lực nội sinh, tài chính để phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của mỗi quốc gia. Nhà nước là chủ sở hữu (hoặc đại diện chủ sở hữu) và thống nhất quản lý đối với TSC.

Ở Việt Nam, TSC là đất đai, tài nguyên thiên nhiên và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý[1]. Trong đó, TSC tại cơ quan nhà nước ở trung ương đóng vai trò là cơ sở vật chất không thể thiếu để phục vụ hoạt động quản lý nhà nước.

Quốc hội Việt Nam với vai trò là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bên cạnh chức năng lập pháp và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước còn thực hiện quyền giám sát tối cao nhằm ngăn ngừa tình trạng tham nhũng, lãng phí. Hoạt động giám sát của Quốc hội đối với việc quản lý, sử dụng tài sản công nói chung và quản lý, sử dụng TSC tại các cơ quan nhà nước ở trung ương nói riêng được thực hiện thông qua hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội, giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, của Đoàn Đại biểu Quốc hội và các đại biểu Quốc hội.

Trong những năm qua, Quốc hội đã tăng cường thực hiện một số hoạt động giám sát liên quan đến việc thực hiện pháp luật về quản lý, sử dụng TSC. Hoạt động giám sát của Quốc hội đã góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương đối với việc tuân thủ các nguyên tắc quản lý, sử dụng TSC. Từ hoạt động giám sát đã có những đánh giá sâu sắc tình hình thực hiện chính sách, pháp luật, đặc biệt đã chỉ ra những tồn tại, hạn chế, đề ra những biện pháp hữu hiệu để khắc phục những tồn tại, hạn chế, nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng TSC trong các cơ quan nhà nước ở trung ương.

2. Thực trạng hoạt động giám sát của Quốc hội trong quản lý, sử dụng tài sản công tại các cơ quan nhà nước ở trung ương

Trong các nhiệm kỳ gần đây, Quốc hội có nhiều đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát, trong đó có một số hoạt động giám sát liên quan đến việc thực hiện pháp luật về quản lý, sử dụng TSC trong các cơ quan nhà nước ở trung ương. Ngay từ đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV, Quốc hội đã tiến hành giám sát chuyên đề “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí giai đoạn 2016 - 2021”. Thực tiễn giám sát cho thấy những kết quả đạt được cũng như một số hạn chế, bất cập trong công tác quản lý TSC tại các cơ quan nhà nước ở trung ương. Cụ thể là:

2.1. Những kết quả đạt được

Một là, các bộ, cơ quan trung ương đã ban hành tiêu chuẩn, định mức sử dụng TSC chuyên dùng cho các cơ quan nhà nước thuộc phạm vi quản lý, giúp hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, định mức sử dụng TSC đồng bộ gắn với quy định về trách nhiệm kiểm tra việc tuân thủ tiêu chuẩn, định mức trong toàn bộ quá trình quản lý TSC đã tạo cơ sở cho việc quản lý TSC của cơ quan nhà nước ở trung ương công khai, minh bạch…

Hai là, đẩy mạnh hoạt động giám sát trong quản lý và sử dụng TSC đã tạo ra cơ chế phân công, phân cấp quản lý, sử dụng TSC phù hợp trình độ phát triển kinh tế - xã hội, tính chất quản lý, sử dụng TSC, năng lực và yêu cầu quản lý của các cấp, các ngành, đơn vị. Trên cơ sở đó, các bộ, cơ quan trung ương đã thực hiện phân cấp thẩm quyền quyết định cụ thể trong đầu tư, mua sắm, sử dụng, khai thác, xử lý TSC của cơ quan nhà nước ở trung ương; đáp ứng chủ trương đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong quản lý nhà nước của Chính phủ.

Ba là, công tác quản lý, sử dụng TSC trong các cơ quan nhà nước ở trung ương từ khi có Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017 đã được các bộ, ngành, cơ quan trung ương quan tâm triển khai thực hiện; nhận thức và thực tiễn thực hiện có những chuyển biến tích cực, góp phần thực hiện mục tiêu phòng, chống tham nhũng, lãng phí, nâng cao hiệu quả trong quản lý, sử dụng TSC. Nhờ đó, từ năm 2018 đến nay, các trường hợp vi phạm pháp luật về quản lý, sử dụng TSC đã giảm rõ rệt.

Trong đầu tư xây dựng và mua sắm, các bộ, ngành, cơ quan trung ương đã chỉ đạo các cơ quan nhà nước trực thuộc thực hiện đầu tư xây dựng và mua sắm tài sản theo tiêu chuẩn, định mức; từng bước triển khai thực hiện mua sắm TSC theo phương thức tập trung. Việc tổ chức lựa chọn nhà thầu xây dựng, cung cấp hàng hóa, dịch vụ được thực hiện theo quy định của pháp luật về đấu thầu. Nhiều bộ, cơ quan trung ương đã thực hiện tốt việc rà soát, sắp xếp và bố trí lại hệ thống trụ sở làm việc của các cơ quan nhà nước thuộc phạm vi quản lý phù hợp với tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản và phù hợp với quy hoạch sử dụng đất của các địa phương; hoàn thiện hồ sơ pháp lý về nhà, đất; khai thác các diện tích dôi dư hoặc chuyển mục đích sử dụng đất để có hiệu quả cao hơn; đồng thời cũng đã thu hồi được một phần nhà, đất dôi dư, chuyển giao cho chính quyền địa phương để xây dựng nhà trẻ, trường học, công viên… phục vụ lợi ích công cộng.

2.2. Một số hạn chế, bất cập

Thứ nhất, hệ thống văn bản pháp luật về quản lý, sử dụng TSC còn chưa đầy đủ. Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017 có hiệu lực từ ngày 01/01/2018, nhưng đến nay chưa có văn bản hướng dẫn, như: (i) Quản lý, sử dụng và khai thác đối với một số loại tài sản kết cấu hạ tầng như: Hạ tầng văn hóa, thể thao, du lịch, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng đường sắt…; (ii) Quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng nước sạch mới được Chính phủ ban hành tại Nghị định số 43/2022/NĐ-CP ngày 24/6/2022 quy định việc quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng cấp nước sạch…, gây khó khăn, vướng mắc trong triển khai thực hiện và thất thoát nguồn thu lớn từ quản lý, khai thác sử dụng các tài sản kết cấu hạ tầng quốc gia này[2].

Một số loại TSC tại cơ quan nhà nước ở trung ương có thể khai thác phục vụ cho nhu cầu của cán bộ, công chức, đồng thời, giúp bổ sung nguồn thu cho cơ quan nhà nước mà không làm ảnh hưởng tới việc thực hiện chức năng nhiệm vụ của cơ quan nhưng còn thiếu quy định điều chỉnh để làm cơ sở tổ chức thực hiện như: Nhà ăn/căn tin, vị trí lắp đặt máy ATM, máy bán hàng tự động, trạm thu phát tín hiệu BTS, đặt tấm pin năng lượng mặt trời, màn hình led phục vụ thông tin tuyên truyền... Vì vậy, các cơ quan nhà nước ở trung ương không có cơ sở để thực hiện.

Thứ hai, cơ chế phân cấp quản lý TSC còn có điểm chưa phù hợp, một số nội dung phải lấy ý kiến thỏa thuận của cơ quan chức năng, dẫn tới thủ tục hành chính phức tạp, kéo dài, chưa bảo đảm nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm của bộ, cơ quan trung ương (như quy định phải lấy ý kiến của Bộ Tài chính trước khi phê duyệt thiết kế đầu tư xây dựng mới, nâng cấp, cải tạo hoặc mua sắm trụ sở làm việc của cơ quan nhà nước ở trung ương…).

Thứ ba, việc quản lý, sử dụng TSC tuy đã có những chuyển biến theo hướng tích cực, song vẫn còn một số hạn chế, chưa đầy đủ, đồng bộ trong việc ban hành Quy chế quản lý, sử dụng TSC trong các cơ quan nhà nước; việc xác định giá trị quyền sử dụng đất để tính vào giá trị tài sản của cơ quan… Theo đó, tình trạng vi phạm trong việc quản lý và sử dụng TSC trong các cơ quan nhà nước ở trung ương còn diễn ra như: (i) Việc sắp xếp lại, xử lý nhà đất của các bộ, ngành còn chậm, chưa hiệu quả, gây lãng phí, thất thoát; (ii) Việc xử lý, sắp xếp các trụ sở cũ; sắp xếp, xử lý nhà, đất và huy động nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước để tạo nguồn vốn đầu tư chưa hiệu quả, gây lãng phí, thất thoát; (iii) Vẫn còn một số trường hợp chưa bảo đảm thời gian trong xử lý tài sản dự án khi kết thúc; (iv) Vẫn còn tình trạng đầu tư xây dựng trụ sở vượt quá khả năng cân đối nguồn vốn, vượt tiêu chuẩn, định mức theo quy định[3]; (v) Vẫn còn xảy ra hiện tượng mua sắm và sử dụng TSC là phương tiện đi lại, phương tiện, thiết bị làm việc, đầu tư xây dựng, sử dụng trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp không đúng mục đích, vượt tiêu chuẩn, định mức; hoặc không tuân thủ quy định của pháp luật về đấu giá khi xử lý trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp, chậm thanh lý tài sản là phương tiện đi lại, thiết bị làm việc, phương tiện thông tin liên lạc… Theo Báo cáo của Kiểm toán Nhà nước, một số đơn vị được kiểm toán có số xe ô tô vượt định mức, thanh lý xe ô tô chưa đảm bảo điều kiện về thời gian sử dụng được thanh lý theo quy định; sử dụng ô tô vượt tiêu chuẩn, định mức hoặc sử dụng xe ô tô chưa phù hợp quy định; việc sử dụng xe chuyên dùng chưa đúng quy định; chưa hoàn thành việc xử lý, sắp xếp lại xe ô tô theo quy định[4].

Thứ tư, công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, giám sát của các cơ quan chức năng chưa được thường xuyên, đầy đủ, kịp thời. Mặc dù, thời gian gần đây, công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, giám sát đối với tài sản công từng bước được chú trọng, nhưng vẫn chưa được quan tâm một cách đúng mức và thường xuyên, liên tục. Việc phát hiện các sai phạm trong quản lý, sử dụng tài sản công còn hạn chế; một số vi phạm kéo dài dẫn đến việc khắc phục và xử lý các hậu quả rất khó khăn, phức tạp.

Thứ năm, việc đăng nhập, rà soát, chuẩn hóa dữ liệu về tài sản công của cơ quan nhà nước ở trung ương trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về TSC còn chưa được quan tâm đúng mức.

Những tồn tại, hạn chế trên xuất phát từ nguyên nhân thể chế, chính sách liên quan đến công tác quản lý, sử dụng TSC chưa đồng bộ giữa các luật như: Luật Đất đai năm 2013, Luật Đấu giá năm 2014, Luật Đấu thầu năm 2013… Đồng thời, tính hiệu lực, hiệu quả trong quản lý, sử dụng TSC phụ thuộc nhiều vào quy định và công tác tổ chức thực hiện của nhiều pháp luật có liên quan: Pháp luật về định giá đất (do Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì), pháp luật về đấu giá tài sản (do Bộ Tư pháp chủ trì), pháp luật về đấu thầu (do Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì)…

Một số cơ quan, tổ chức, đơn vị và người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị chưa thực sự quan tâm đầy đủ, đúng mức tới công tác quản lý, sử dụng TSC được giao; một số cán bộ được giao làm công tác quản lý TSC chưa được cập nhật kịp thời, đầy đủ các quy định về quản lý, sử dụng TSC.

Chế tài chưa đủ mạnh để xử lý một cách triệt đối với các trường hợp vi phạm trong quản lý, sử dụng TSC. Theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), mức xử phạt bằng tiền tối đa đối với các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng TSC còn thấp (tối đa 200 triệu đồng đối với tổ chức và tối đa 100 triệu đồng đối với cá nhân vi phạm) so với những tác động mà hành vi vi phạm gây ra. Tuy nhiên, việc xử phạt vi phạm hành chính chưa được quan tâm đúng mức. Mặc dù, từ năm 2013, Chính phủ đã ban hành quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng TSC; nhưng qua tổng kết tình hình thực hiện Nghị định số 192/2013/NĐ-CP ngày 21/11/2013 của Chính phủ quy định việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng tài sản nhà nước; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; dự trữ quốc gia; kho bạc nhà nước, thì đến nay, số vụ việc được phát hiện và xử phạt rất hạn chế trong khi có những sai phạm vẫn diễn ra trong thực tế. Trong 06 tháng đầu năm 2022, các cơ quan tố tụng cả nước đã khởi tố mới 1.850 vụ án/3.294 bị can về các tội tham nhũng, kinh tế, chức vụ, trong đó có 144 vụ án/384 bị can về các tội tham nhũng. Riêng các vụ án, vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo, từ sau Phiên họp 19 của Ban Chỉ đạo đến nay, đã khởi tố mới 07 vụ án/35 bị can, khởi tố thêm 55 bị can trong 10 vụ án; phục hồi điều tra 01 vụ án/07 bị can; kết thúc điều tra 12 vụ án/111 bị can, kết thúc điều tra bổ sung 02 vụ án/23 bị can; truy tố 11 vụ án/112 bị can; xét xử sơ thẩm 13 vụ án/82 bị cáo, xét xử phúc thẩm 06 vụ án/20 bị cáo[5].

Thực tiễn trên đặt ra yêu cầu cần tiếp tục hoàn thiện hơn nữa hoạt động giám sát của Quốc hội trong quản lý và sử dụng TSC tại các cơ quan nhà nước ở trung ương góp phần phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

3. Kiến nghị nâng cao hiệu quả giám sát của Quốc hội trong quản lý, sử dụng tài sản công tại các cơ quan nhà nước ở trung ương để phòng ngừa tham nhũng, lãng phí

Tại Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 15/01/2019 của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế đã nêu quan điểm chỉ đạo: Quản lý, khai thác, huy động, phân bổ, sử dụng và phát huy có hiệu quả các nguồn lực của nền kinh tế cho phát triển đất nước là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và mọi tầng lớp nhân dân. Trên cơ sở đó, một trong những giải pháp liên quan đến công tác quản lý, sử dụng TSC được xác định là: Xây dựng các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017, hướng tới xây dựng Bộ luật Quản lý, sử dụng tài sản công và các văn bản hướng dẫn. Xây dựng, đưa vào vận hành hệ thống giao dịch điện tử về tài sản công; mở rộng, nâng cấp cơ sở dữ liệu quốc gia về TSC.

Để tiếp tục nâng cao hiệu quả giám sát của Quốc hội trong quản lý TSC tại các cơ quan nhà nước ở trung ương, cần thực hiện các giải pháp sau:

Một là, Quốc hội cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công trong các cơ quan nhà nước ở trung ương.

Tiếp tục rà soát để sửa đổi, bổ sung các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017 để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, trong đó, có một số vấn đề về quản lý, sử dụng TSC tại cơ quan nhà nước trung ương như: Việc khai thác TSC tại cơ quan nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản và chất lượng thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước của cơ quan; tiêu chuẩn, định mức sử dụng TSC tại cơ quan nhà nước trung ương để tránh lãng phí tài sản nhưng vẫn phải bảo đảm đầy đủ tài sản để phục vụ cán bộ, công chức, cơ quan nhà nước hoàn thành nhiệm vụ.

Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan ở trung ương rà soát văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan đến lĩnh vực quản lý chuyên ngành về khai thác TSC thuộc phạm vi quản lý của các bộ, cơ quan; trên cơ sở đó, xây dựng, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy định việc khai thác TSC thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ, cơ quan theo thẩm quyền.

Hai là, tiếp tục đổi mới phương thức quản lý tài sản công trong cơ quan nhà nước ở trung ương theo hướng chuyển mạnh từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”.

- Tiếp tục tăng cường phân cấp công tác quản lý TSC cho cơ quan được giao quản lý, sử dụng TSC từ khâu mua sắm, thuê, khoán kinh phí sử dụng tài sản công, sử dụng, khai thác tài sản đến việc bán, chuyển nhượng, thanh lý tài sản. Thủ trưởng cơ quan chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước cơ quan quản lý nhà nước về việc thực hiện các nhiệm vụ nêu trên.

- Các cơ quan quản lý nhà nước về TSC tập trung vào khâu xây dựng thể chế, pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, hướng dẫn, kiểm tra, xử lý vi phạm; chỉ quyết định các vấn đề về TSC có giá trị đặc biệt lớn, có liên quan đến quốc phòng, an ninh quốc gia.

- Có cơ chế để đánh giá công tác quản lý, sử dụng TSC của các cấp, các ngành, các cơ quan được giao quản lý, sử dụng TSC. Qua đánh giá sẽ tổng hợp được kết quả thực hiện công tác quản lý của cơ quan được đánh giá một cách thường xuyên, từ đó phát hiện những nhân tố tích cực và những vấn đề bất cập nảy sinh để kịp thời điều chỉnh; không để xảy ra tình trạng vi phạm kéo dài mà không bị phát hiện hoặc chấn chỉnh xử lý như thời gian vừa qua.

- Không ngừng tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác giám sát, quản lý, sử dụng TSC; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trong quản lý, sử dụng TSC tại các cơ quan nhà nước ở trung ương.

Ba là, tiếp tục hoàn thiện và tổ chức thực hiện tốt các pháp luật có liên quan đến tài sản công tại các cơ quan nhà nước ở trung ương.

Hiệu lực, hiệu quả quản lý TSC phụ thuộc rất lớn vào các quy định của pháp luật có liên quan (đất đai, đấu thầu, đấu giá, quy hoạch, thẩm định giá, quản lý vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh, tài nguyên...) và việc thực thi các pháp luật đó. Các vụ việc điển hình liên quan đến TSC được phát hiện và xử lý trong thời gian vừa qua (mua sắm vật tư, trang thiết bị y tế tại Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Tim Hà Nội, một số bệnh viện tuyến địa phương...) chủ yếu là vi phạm các quy định của pháp luật có liên quan, đặc biệt là các quy định về đấu thầu, đấu giá, đất đai, chuyển nhượng vốn góp, cổ phần, thẩm định giá... Vì vậy, việc tiếp tục hoàn thiện và tổ chức thực hiện tốt các quy định pháp luật có liên quan sẽ có tác động lớn tới công tác quản lý TSC; đặc biệt là việc xác định giá đất bảo đảm sát với giá thị trường; kiểm soát việc thông đồng, dìm giá trong đấu giá...

Bốn là, kiến nghị đối với các cơ quan có liên quan:

Đối với Quốc hội: Khi xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai năm 2013 cần sửa đổi, bổ sung quy định về phương pháp xác định giá đất để thực hiện các giao dịch về quyền sử dụng đất, thực hiện nghĩa tài chính về đất đai; hạn chế tiến tới xóa bỏ việc cho chính đối tượng sử dụng đất chuyển mục đích sử dụng đất. Tiếp tục tăng cường công tác giám sát việc quản lý, sử dụng TSC; đặc biệt là công tác ban hành các văn bản hướng dẫn, quy định chi tiết của các bộ, cơ quan trung ương.

Đối với Chính phủ: Chỉ đạo Bộ Tài chính tổ chức sơ kết, đánh giá tình hình thực hiện Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017 và các văn bản quy định chi tiết thi hành làm cơ sở để kiến nghị tiếp tục hoàn thiện; chỉ đạo các bộ, cơ quan trung ương ban hành đầy đủ tiêu chuẩn, định mức sử dụng TSC chuyên dùng của các cơ quan nhà nước thuộc phạm vi quản lý để làm cơ sở thực hiện việc đầu tư xây dựng, mua sắm, quản lý, sử dụng, xử lý; ban hành tiêu chí đánh giá và tổ chức đánh giá công tác quản lý TSC của các cấp, các ngành. Việc đánh giá được thực hiện định kỳ (06 tháng, hàng năm, nhiệm kỳ) và đánh giá theo chuyên đề.

ThS. Phạm Đức Thảo

Cục trưởng Cục Quản trị 1, Văn phòng Quốc hội

Ảnh: internet

[1]. Điều 53 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý ”.

[2]. Xem thêm: Báo cáo số 324/BC-ĐGS ngày 13/9/2022 của Đoàn giám sát chuyên đề của Quốc hội về “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí giai đoạn 2016 - 2021”, tr. 11, Tài liệu cung cấp tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XV.

[3]. Xem thêm: Báo cáo số 324/BC-ĐGS ngày 13/9/2022 của Đoàn giám sát chuyên đề của Quốc hội về “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí giai đoạn 2016 - 2021”, tr. 43, Tài liệu cung cấp tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XV.

[4]. Xem thêm: Báo cáo số 324/BC-ĐGS ngày 13/9/2022 của Đoàn giám sát chuyên đề của Quốc hội về “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí giai đoạn 2016 - 2021”, tr. 45, Tài liệu cung cấp tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XV.

[5]. https://dangcongsan.vn/xay-dung-dang/khoi-to-moi-nhieu-vu-an-bi-can-ve-cac-toi-tham-nhung-587295. html, truy cập ngày 20/10/2022.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Theo dõi chúng tôi trên: