Thứ ba 10/03/2026 13:47
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống ở Lâm Đồng

Tóm tắt: Tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống là một vấn đề cần được quan tâm trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội bền vững của các vùng dân tộc thiểu số cả nước nói chung và của Lâm Đồng nói riêng. Do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau mà hiện nay, việc nam, nữ kết hôn trước tuổi luật định trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng vẫn diễn ra ở một số nơi mà trình độ dân trí cũng như cơ sở hạ tầng, chất lượng cuộc sống còn lạc hậu. Qua nghiên cứu, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế tình trạng này.

Abstract: Premature marriage and close-to-blood line marriage is an issue of concern in the process of economic-social sustainable development of ethnic minorities in the entire country in general and in Lam Dong in particular. Premature marriage has been currently happened in some locations of the Lam Dong Province where intellectual standards of the people as well as infrastructure, life quality are still backward due to several objective and subjective reasons. Some proposals will be made on the basis of this study with a view to limit this situation.

1. Thực trạng và những hậu quả của tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống

Theo rà soát và báo cáo của các Phòng Tư pháp huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh, tình trạng tảo hôn ở Lâm Đồng từ năm 2010 đến năm 2015 không có chiều hướng giảm đi. Năm 2010 có 89 cặp tảo hôn thì đến năm 2015 có 116 cặp tảo hôn. Năm 2012 và 2013 là hai năm có số cặp tảo hôn cao nhất trong giai đoạn với 239 và 212 cặp tảo hôn. Đây là con số khá cao trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên và trên cả nước. Số lượng tảo hôn thường nằm ở độ tuổi từ 15 - 16 tuổi; trong số những cặp tảo hôn nói trên thì có cả những cặp đang đi học, điều kiện sống xa gia đình, thiếu sự quản lý, giáo dục của gia đình, quản lý của nhà trường, tác động của môi trường giáo dục như phim ảnh, internet... đã ảnh hưởng đến tâm sinh lý của các em. Tình trạng kết hôn cận huyết thống cũng không phát triển theo quy luật tăng hay giảm dần. Năm 2013 là năm có số cặp tảo hôn thấp nhất với 01 cặp. Năm 2012 và 2014 là hai năm có tỷ lệ tảo hôn cao với 07 cặp. Tình trạng hôn nhân cận huyết thống tập trung ở hai huyện Đức Trọng và Đơn Dương.

Tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống là phong tục, tập quán lạc hậu mà pháp luật ngăn cấm, việc tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống đã để lại hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sức khỏe, chất lượng nòi giống và đến kinh tế gia đình, cụ thể là:

- Theo kết quả nghiên cứu của nền y học hiện đại thì nam từ khoảng 16 tuổi trở lên, nữ từ khoảng 13 tuổi trở lên đã có khả năng sinh sản. Nhưng để đảm bảo cho con sinh ra được khỏe mạnh, nòi giống phát triển lành mạnh, bảo đảm sức khỏe cho người phụ nữ khi mang thai, khi sinh đẻ thì nam phải từ 18 tuổi trở lên, nữ từ khoảng 17 tuổi trở lên. Do vậy, Luật Hôn nhân và gia đình quy định tuổi kết hôn đối với nam là đủ 20 tuổi, với nữ là đủ 18 tuổi. Quy định này đảm bảo cho nam, nữ có thể đảm đương được trách nhiệm làm vợ, làm chồng, làm cha, mẹ, đồng thời, còn đảm bảo cho con cái sinh ra khỏe mạnh cả về thể lực lẫn trí tuệ, trở thành công dân có ích cho xã hội. Việc kết hôn sớm, mang thai và sinh đẻ trong lứa tuổi vị thành niên khi cơ thể người mẹ chưa phát triển hoàn thiện, thiếu hiểu biết, kinh nghiệm và chưa sẵn sàng về mặt tâm sinh lý để mang thai thì sinh con ra sẽ ảnh hưởng lớn tới sức khỏe bà mẹ, sự phát triển bình thường của thai nhi và trẻ sơ sinh. Đây là nguyên nhân làm gia tăng tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em, tăng tỷ lệ tử vong ở trẻ em dưới 01 tuổi và dưới 05 tuổi, tăng tỷ lệ tử vong của bà mẹ liên quan đến thai sản. Theo Báo cáo mục tiêu phát triển thiên niên kỷ năm 2013, trong 06 vùng kinh tế của cả nước, Tây Nguyên là vùng có tỷ suất tử vong trẻ em cao tương ứng gấp 2 - 3 lần so với vùng thấp nhất là Đông Nam Bộ (35%, 37% so với 13,9%) và cũng là vùng có tỷ lệ tử vong của bà mẹ liên quan đến thai sản cao nhất cả nước.

- Tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng dân số. Khoa học đã chứng minh, những trẻ em được sinh ra từ các cặp vợ chồng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống có tỷ lệ mắc các bệnh dị tật bẩm sinh, chậm phát triển, suy dinh dưỡng, tử vong sơ sinh cao hơn so với trẻ em bình thường khác. Thực tế ở Lâm Đồng cho thấy, năm 2011 có 05 cặp kết hôn cận huyết thống với 05 đứa trẻ được sinh ra thì có 01 đứa trẻ bị bệnh tật, năm 2013 có 06 cặp kết hôn cận huyết thống thì có 02 đứa trẻ sinh ra bị bệnh và tỷ lệ mang gen bệnh rất cao. Điều này đã để lại những hậu quả không mong muốn cho gia đình và xã hội.

- Tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế, xã hội của gia đình, vùng kinh tế Tây Nguyên và kinh tế cả nước nói chung. Phần lớn dân tộc thiểu số ở Lâm Đồng sống tập trung tại 468 thôn, tổ dân phố thuộc 96 xã, phường, thị trấn. Tổng số hộ ở các xã, thôn đặc biệt khó khăn là 193.819 hộ, trong đó hộ đồng bào dân tộc thiểu số là 52.845 hộ. Cuối năm 2015, hộ nghèo chung toàn tỉnh còn 1,9%, hộ nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số còn 4%. Những năm gần đây, thông qua các chương trình, chính sách đầu tư vào vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số được cải thiện; cơ sở hạ tầng vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa từng bước được nâng lên; sản xuất có bước phát triển; công tác y tế, giáo dục, văn hóa, an sinh xã hội được chú trọng; tỷ lệ hộ nghèo hàng năm giảm bình quân từ 5 - 7%. Hiện nay, toàn tỉnh có 01 huyện nghèo, 36 xã đặc biệt khó khăn và an toàn khu, 73 xã khó khăn và 77 thôn đặc biệt khó khăn; tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ổn định. Chất lượng nguồn nhân lực thấp là một trong những lực cản đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ xã hội và sự phát triển bền vững của vùng dân tộc thiểu số.

- Tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống là nguyên nhân của nghèo đói, thất học, suy giảm chất lượng cuộc sống và rơi vào vòng luẩn quẩn “đói nghèo - thất học - tảo hôn, kết hôn cận huyết thống”. Thực tế cho thấy, các tỉnh có tỷ lệ nghèo đói cao, đồng thời tình trạng tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống cũng gia tăng; tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống vừa là nguyên nhân, vừa là hậu quả của đói nghèo, thất học và suy giảm chất lượng cuộc sống. Như đã phân tích ở trên, tảo hôn sẽ dẫn đến những cặp vợ chồng “trẻ con” chưa đảm đương được trách nhiệm làm vợ, làm chồng và làm kinh tế, còn hôn nhân cận huyết thống nhằm mục đích giữ gìn tài sản gia đình nhưng bản chất lại làm suy giảm nền kinh tế do sinh ra những đứa con bị tật bệnh. Đói kém và tật bệnh làm cho người ta chỉ có thể nhìn vào việc kiếm ăn cho đủ no các bữa chứ không dám mơ đến việc cho con đi học hay nâng cao chất lượng cuộc sống. Và như vậy, cái vòng luẩn quẩn của “nghèo đói - thất học - tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống” cứ bủa vây lấy họ.

- Tảo hôn làm mất đi cơ hội về học tập, việc làm tốt, cơ hội cải thiện điều kiện sống và chăm sóc sức khỏe của người trẻ tuổi, bà mẹ và trẻ em và là một trong những lực cản đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng dân tộc, miền núi và sự phát triển bền vững của đất nước. Dễ dàng để thấy rằng, lẽ ra các em 15 - 17 tuổi đang là tuổi đến trường, tuổi của sự vô tư hồn nhiên, thì ở đây, các em lại phải gắn với gia đình, với trách nhiệm làm chồng, làm vợ, làm cha, mẹ. Khi không đi học, không có bằng cấp, họ sẽ chỉ có thể làm “nông dân”, chỉ có thể sinh sống phụ thuộc vào thiên nhiên mà không có cơ hội kiếm cho mình một công việc tốt. Khi trình độ hiểu biết hạn chế, điều kiện kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, không được tiếp cận với nền văn hóa hiện đại thì văn hóa truyền thống sẽ vẫn chi phối họ ở mức độ cao. Và như vậy, những sinh hoạt văn hóa, nhận thức và sự chăm sóc sức khỏe sinh sản cũng bị hạn chế, dẫn đến những bệnh tật trong sinh sản và sinh con nhiều để có nhân lực làm kinh tế. Điều đó lại làm cho kinh tế chậm phát triển và rơi vào vòng luẩn quẩn “đói nghèo, tảo hôn và kết hôn cận huyết thống”.

2. Nguyên nhân của việc tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống

- Do ảnh hưởng của những quan niệm, thành kiến, phong tục tập quán lạc hậu, có những tục lệ đã ăn sâu vào trong tiềm thức của người dân với đặc trưng của chế độ mẫu hệ Tây Nguyên như tục nối dây, tục hứa hôn, nội hôn tộc người, ngoại hôn dòng họ tính theo họ mẹ hay quan niệm lấy chồng sớm để có thêm sức lao động… Những quan niệm ấy có sức ảnh hưởng nhất định qua nhiều thế hệ, nó ăn sâu vào tiềm thức của cộng đồng người dân tộc thiểu số, tạo nên hệ lụy là nạn tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống.

- Do điều kiện lịch sử cụ thể của địa phương như: Điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn; sự phân bố dân cư không đồng đều và cộng đồng các dân tộc thiểu số sống xen kẽ với người Kinh trong những thôn, buôn, bon...; sự phát triển sớm về thể trạng do chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng cao, tâm sinh lý của thanh niên bị ảnh hưởng nhiều của môi trường xung quanh và các phương tiện thông tin làm cho thanh niên đồng bào các dân tộc thiểu số bắt chước kiểu “sống thử” và khi đã có bầu thì sợ bị phạt vạ nặng theo luật tục nên gia đình cho cưới.

- Chế tài xử lý các trường hợp tảo hôn còn nhẹ, chưa tương xứng với hành vi vi phạm, chưa mang tính răn đe cao nên tình trạng tảo hôn vẫn còn xảy ra. Quy định tại Điều 47 Nghị Định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã như sau: “Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi tổ chức lấy vợ, lấy chồng cho người chưa đủ tuổi kết hôn; phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi cố ý duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đủ tuổi kết hôn mặc dù đã có quyết định của Tòa án nhân dân buộc chấm dứt quan hệ đó”. Việc xem xét, xử lý các đối tượng này khi họ vi phạm theo cách nói của cán bộ xã là “nịnh nọt còn chưa xong nữa là đòi xử phạt”. Chính vì nhận thức của người dân còn hạn chế như thế nên việc xem xét xử lý hành chính đối với bà con người dân tộc thiểu số lại càng khó khăn, mặc dù có xử phạt ở mức thấp nhất là cảnh cáo thì họ cũng không chấp hành bởi tính răn đe không cao. Việc quy định hình thức xử phạt đối với hành vi tảo hôn hoặc tổ chức tảo hôn chỉ là phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng dường như còn chưa phù hợp, không đủ răn đe với nạn tảo hôn hiện nay. Với đa số những cặp vợ chồng nghèo, họ sẽ không có khả năng nộp phạt và trong trường hợp đó, khả năng thực hiện các biện pháp cưỡng chế nộp phạt của chính quyền địa phương là điều không thể thực hiện được. Do không có hình thức chế tài nào khác nên các cặp vợ chồng nghèo vẫn tự do kết hôn khi chưa đủ tuổi mà không lo bị xử phạt. Ngoài ra, cũng có không ít cặp tảo hôn cứ tổ chức cưới hỏi và sẵn sàng lên xã nộp phạt. Họ coi việc nộp phạt là đã tuân thủ pháp luật và sau khi nộp phạt thì họ đương nhiên được xã công nhận là vợ chồng theo pháp luật. Bên cạnh đó, có khi cặp vợ chồng tảo hôn lại là người thân quen của cán bộ xã nên xã vẫn cho tổ chức cưới hỏi rồi đợi đủ tuổi để hoàn tất thủ tục đăng ký kết hôn chứ không hề đặt ra vấn đề xử phạt. Có nhiều trường hợp cán bộ thực thi nhiệm vụ phát hiện ra những vi phạm nhưng vì nể nang chỗ thân quen, người làng, người xã nên vẫn giúp họ giải quyết các công việc không đủ điều kiện theo quy định hoặc biết việc vi phạm nhưng cố tình làm ngơ. Vì thế, việc xử phạt vi phạm hành chính trong các trường hợp này cũng như “bắt cóc bỏ đĩa”.

- Do trình độ dân trí và ý thức pháp luật của người dân còn hạn chế. Trình độ dân trí thấp là nguyên nhân của việc người dân ít có điều kiện tiếp thu các tri thức văn hóa, các chuẩn mực xã hội mới, trong đó có pháp luật nói chung và pháp luật về hôn nhân và gia đình nói riêng. Tri thức là nền tảng cơ sở để con người có hành vi xử sự đúng đắn khi tham gia vào các quan hệ xã hội, là điều kiện để đồng bào dân tộc thiểu số có những hành vi xử sự hợp pháp. Vì vậy, khi người dân mù chữ không đọc được văn bản luật hoặc trình độ không hết cấp tiểu học thì họ chỉ tiếp thu các tri thức về pháp luật qua truyền miệng và nghe đài. Chính vì vậy mà người dân ít hiểu luật, không thực hiện theo luật và tình trạng tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống có cơ sở để tồn tại.

- Do sự can thiệp từ phía chính quyền địa phương đối với các trường hợp tảo hôn còn chưa mạnh mẽ thiếu kiên quyết. Việc loại bỏ những phong tục tập quán lạc hậu nói chung, loại bỏ tục tảo hôn nói riêng ra khỏi đời sống xã hội sẽ đạt được hiệu quả không nhỏ nếu có sự can thiệp một cách mạnh mẽ, kiên quyết. Trong một số trường hợp tảo hôn, cả người nam giới và nữ giới chưa đến tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật nhưng lại chung sống và sinh con với nhau. Trong trường hợp này, cơ quan chức năng có thể tiến hành xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật nhưng sau đó cũng không thể giải quyết triệt để vấn đề khi không thể chấm dứt hành vi vi phạm cũng như về tình trạng tài sản và con cái của người vi phạm sau khi bị xử phạt.

- Do công tác tuyên truyền còn bất cập, hạn chế và hiệu quả chưa cao. Bên cạnh những kết quả đã đạt được về công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình trong vùng đồng bào các dân tộc thiểu số thì vẫn còn có những bất cập, khó khăn và chưa đạt được kết quả cao do điều kiện tự nhiên, địa bàn cư trú, do đối tượng đi tuyên truyền, phổ biến pháp luật không am hiểu phong tục tập quán của đồng bào các dân tộc thiểu số dẫn đến việc tuyên truyền kém hiệu quả. Và một phần là do trình độ thấp nên họ không tiếp thu được những quy định của pháp luật mà chỉ sống theo “bản năng” theo quy định của luật tục đã tồn tại và chi phối nhận thức của họ qua nhiều thế hệ.

3. Giải pháp hạn chế tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống

Để từng bước hạn chế tình trạng tảo hôn trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, trước mắt cần tập trung vào một số giải pháp sau:

Một là, cần đầu tư phát triển kinh tế, xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Trong khi miền xuôi lấy tăng trưởng để phát triển, thì khu vực Tây Nguyên nói chung và Lâm Đồng nói riêng phải theo quan điểm phát triển đi liền với tăng trưởng, tôn trọng yếu tố đặc thù và phát huy lợi thế so sánh. Vì vậy, thay vì trợ giúp cho đồng bào các dân tộc thiểu số kiểu “bao cấp” như hiện nay, thời gian tới phải thay đổi thông qua việc tạo cơ hội cho họ tiếp cận tới các nguồn lực cả bên trong, bên ngoài và phát triển dựa trên năng lực nội sinh. Điều này đồng nghĩa với việc từng bước giảm dần chính sách bao cấp, hỗ trợ trực tiếp chuyển sang chính sách đầu tư cho cộng đồng và thúc đẩy phát triển kinh tế hộ gia đình. Cùng với đó, thực hiện gắn chính sách giảm nghèo với các chính sách về xã hội khác như dân số, kế hoạch hóa gia đình, giáo dục, y tế, nhất là chính sách về dân số. Hỗ trợ giảm nghèo phải gắn với điều kiện là kiểm soát được tỷ lệ sinh, hạn chế mặt trái hiện nay chính sách lại thúc đẩy cho việc sinh nhiều con để hưởng chế độ trợ cấp. Ngay cả các chính sách giảm nghèo cũng cần có cách tiếp cận hiệu quả hơn. Đồng thời chú trọng công tác đầu tư cơ sở hạ tầng, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo. Thu hút, tập hợp người ở độ tuổi chưa thành niên vào các tổ chức hội, đoàn thể, các hình thức vui chơi, sinh hoạt văn hóa lành mạnh. Tích cực vận động nhân dân trên địa bàn xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa. Thành lập điểm tư vấn về hôn nhân, gia đình, chăm sóc sức khỏe sinh sản tại địa phương để từng bước nâng cao dân trí, dần loại bỏ những ảnh hưởng tiêu cực của các tập tục lạc hậu.

Hai là, khi phát hiện các trường hợp tảo hôn chính quyền địa phương phối hợp chặt chẽ với các tổ chức, đoàn thể tiến hành giải thích, vận động, lập biên bản đình chỉ, xử phạt vi phạm hành chính theo quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì lập hồ sơ đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật hình sự. Tiến hành vận động xóa bỏ các phong tục tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình. Nâng cao trình độ, tinh thần trách nhiệm cho cán bộ công tác ở các cấp chính quyền địa phương trong hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, đăng ký hộ tịch, hộ khẩu, nếu có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng thì có thể kiên quyết xử lý những cán bộ vi phạm theo các quy định của pháp luật hành chính và hình sự. Trong những trường hợp xét thấy các chủ thể vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, đăng ký hộ tịch, hộ khẩu tuy đã bị xử phạt nhưng vẫn cố tình tiếp tục vi phạm hoặc không chấm dứt hành vi vi phạm mà có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm tảo hôn và tổ chức tảo hôn thì kiên quyết xử lý về mặt hình sự nhằm răn đe, giáo dục đối với người vi phạm và những người khác.

Ba là, tuyên truyền, vận động, thuyết phục theo kiểu “mưa dầm thấm lâu” đến từng người dân, cần chỉ rõ cho họ nhận thấy lợi ích về chế độ, chính sách, các quyền và nghĩa vụ có liên quan trong việc đăng ký khai sinh, khai tử đúng hạn và đăng ký kết hôn đúng độ tuổi, đúng quy định. Đây vẫn được xem là giải pháp đầu tiên được đề cập và được xác định là giải pháp tốt nhất, có khả năng đem lại hiệu quả cao nhất và bền vững nhất. Công tác vận động, thuyết phục được làm tốt sẽ góp phần tích cực giảm thiểu số vụ việc vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân - gia đình và hộ tịch, hộ khẩu, giúp kiểm soát tốt sự biến động dân số và ổn định về an ninh trật tự của địa phương. Bên cạnh đó, thực tiễn cũng đã chỉ ra rằng, để có thể thực hiện tốt công việc này, ngoài những lực lượng chuyên trách thuộc về Ủy ban dân số, gia đình và trẻ em cũng như lực lượng công an các cấp thì các già làng, trưởng bản, những người có uy tín trong cộng đồng và cha xứ đóng vai trò hết sức quan trọng. Bởi vì, trong công tác tuyên truyền, thuyết phục đồng bào các dân tộc thiểu số chấp hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân - gia đình, đăng ký hộ tịch, các già làng, trưởng bản, người có uy tín và cha xứ chính là những người gần gũi và có uy tín nhất đối với những người dân khi mà giữa họ không gặp phải bất kỳ rào cản nào về ngôn ngữ, phong tục và tập quán. Đối với công tác tuyên truyền, chính quyền các cấp, các đoàn thể, tổ chức xã hội cần chú trọng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đến mọi tầng lớp nhân dân, trọng tâm là pháp luật về hôn nhân và gia đình. Tuyên truyền linh hoạt bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú, phù hợp với thực tế địa phương để người dân nắm rõ các quy định của pháp luật về dân số, hôn nhân và gia đình, những tác hại của việc tảo hôn. Bên cạnh đó, việc tuyên truyền có thể được lồng ghép phù hợp vào các môn học tại nhà trường để thanh, thiếu niên, học sinh hiểu rõ trách nhiệm của mình và có ý thức đúng đắn trong việc thực hiện chính sách dân số, hôn nhân, gia đình. Quá trình tuyên truyền phải tiến hành từ cấp cơ sở, phát huy cao vai trò của các hội, các đoàn thể, người cao tuổi, người có uy tín như già làng, tổ trưởng dân phố... và nhất là vai trò nòng cốt của công chức hộ tịch cấp xã.

Tóm lại, tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống đang là một thực trạng gây nhức nhối không chỉ trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng mà cả khu vực Tây Nguyên. Để ngăn chặn và hướng đến loại bỏ tình trạng này, cần có sự kiên quyết và đồng bộ của các cấp, các ngành, toàn thể nhân dân trên địa bàn; cần điều tra nắm vững tình hình, chọn lọc các “điểm nóng” về tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống để tập trung giải quyết một cách triệt để, sau đó tiến hành đánh giá, rút kinh nghiệm để triển khai trên quy mô toàn tỉnh. Có như vậy, chúng ta mới từng bước loại bỏ tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống, đưa miền núi tiến kịp với miền xuôi được.

ThS. Nguyễn Thị Vân Anh

Khoa Luật, Đại học Đà Lạt

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.

Theo dõi chúng tôi trên: