Thứ ba 03/03/2026 21:21
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tập huấn về lồng ghép giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

Ngày 30/11 và ngày 01/12 năm 2012, Bộ Tư pháp đã tổ chức Hội nghị tập huấn Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ và Bộ công cụ lồng ghép giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật tại thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Ngày 30/11 và ngày 01/12 năm 2012, Bộ Tư pháp đã tổ chức Hội nghị tập huấn Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ và Bộ công cụ lồng ghép giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật tại thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Tham dự Hội nghị có đại diện UN Women và các chuyên gia, đại diện các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp, đại diện một số địa phương. Tiến sĩ Trần Văn Quảng – Phó Trưởng ban Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ Ngành Tư pháp, Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ chủ trì Hội nghị.

Trong 02 ngày làm việc, Hội nghị đã tập trung vào những nội dung cơ bản như: (1) Những nội dung cơ bản của Công ước loại bỏ các hình thức phân biệt đối xử của phụ nữ (Cedaw) và việc thực hiện Công ước tại Việt Nam; (2) Giới thiệu Bộ công cụ lồng ghép giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và dự thảo Thông tư hướng dẫn lồng ghép giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; (3) Báo cáo về việc lồng ghép bình đẳng giới trong dự án Luật Hôn nhân và Gia đình (sửa đổi); (4) Việc thực hiện Công ước Cedaw trong Ngành Tư pháp.

1. Những nội dung cơ bản của Công ước Cedaw và việc thực hiện Công ước tại Việt Nam

1.1. Những nội dung cơ bản của Công ước Cedaw

Ngày 18/12/1979, Công ước Cedaw đã được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc phê chuẩn. Ngày 03/9/1981, sau khi nước thứ 20 thông qua, Công ước bắt đầu có hiệu lực. Công ước được chia thành 4 phần chính, cụ thể:

(i) Các cam kết chung về mặt nội dung (Điều 1 – 5 và Điều 24)

Công ước khẳng định tất cả các hình thức phân biệt đối xử đều bị lên án. Các nước tham gia Công ước phải áp dụng mọi biện pháp thích hợp, kể cả biện pháp pháp luật nhằm đảm bảo cho phụ nữ được thực hiện, thụ hưởng các quyền con người và tự do cơ bản trên cơ sở bình đẳng với nam giới.

Phần này cũng bao gồm các quy định áp dụng cho toàn bộ Công ước, đó là khung khái niệm của Công ước với các nội dung chính như: Không phân biệt đối xử; bình đẳng thực chất; nghĩa vụ quốc gia.

- Không phân biệt đối xử: Phải xóa bỏ mọi sự phân biệt đối xử giữa phụ nữ và nam giới, nghiêm cấm phân biệt đối xử với phụ nữ dù là trực tiếp hay gián tiếp.

- Bình đẳng thực chất:

Khuyến nghị chung số 25 của Ủy ban Cedaw đã đưa ra một số hướng dẫn về vấn đề bình đẳng thực chất:

+ Bình đẳng thực chất là bảo đảm bình đẳng về kết quả: Việc bảo đảm bình đẳng không chỉ đơn thuần về cơ hội hay trong tiếp cận, mà yêu cầu phải bình đẳng thực sự về kết quả. Kết quả cuối cùng là phụ nữ được thụ hưởng các quyền của mình trên nhiều lĩnh vực. Khi cần thiết, các nước có thể áp dụng những ưu đãi đối với phụ nữ bằng các biện pháp đặc biệt tạm thời, nhằm thúc đẩy nhanh bình đẳng trên thực tế mà không bị coi là phân biệt đối xử với nam giới, nhưng biện pháp này sẽ phải được chấm dứt ngay khi các mục tiêu bình đẳng đạt được, nhằm tránh sự phân biệt đối xử ngược lại với nam giới.

+ Cần tính đến sự khác biệt giữa giam và nữ: Bình đẳng cần phải xem xét sự khác nhau cả về mặt sinh học (giới tính) và xã hội – văn hóa (giới). Trong những hoàn cảnh nhất định, cần đưa ra cách đối xử không giống nhau giữa nam và nữ nhằm giải quyết sự khác biệt và đạt được bình đẳng thực chất.

+ Sự cần thiết phải tạo môi trường thuận lợi để phụ nữ có thể thực thi và thụ hưởng các quyền của mình.

- Nghĩa vụ quốc gia: Trách nhiệm bảo đảm bình đẳng và xóa bỏ phân biệt đối xử cần phải được cả quốc gia và phi quốc gia tôn trọng, nhưng quốc gia có trách nhiệm trước hết trong việc thực hiện các nghĩa vụ trong Công ước, chịu trách nhiệm giải trình trực tiếp đối với các vi phạm điều ước. Tất cả các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp) không phân biệt cơ quan nhà nước ở trung ương hay ở địa phương đều có nghĩa vụ đối với Công ước Cedaw.

(ii) Các lĩnh vực nội dung cụ thể (Điều 6 – 16): Bao gồm những cam kết riêng cho từng lĩnh vực cụ thể.

(iii) Ủy ban Công ước Cedaw và cơ chế giám sát (Điều 17 – 22): Quy định việc thành lập, thành phần, cơ cấu, số lượng, chức năng cơ chế làm việc của Ủy ban Cedaw; quy trình báo cáo; quy định về cơ sở ban hành các kết luận cuối cùng và khuyến nghị chung.

(iv) Các vấn đề liên quan đến thủ tục hành chính và giải thích Công ước (Điều 23, 25 – 30): Quy định về cách thức để một quốc gia có thể trở thành một quốc gia thành viên của Công ước, cách giải thích Công ước, …

1.2. Việc thực hiện Công ước Cedaw tại Việt Nam

Việt Nam đã tích cực tham gia vào việc xây dựng, thông qua và đã ký Công ước Cedaw vào ngày 29/7/1980, phê chuẩn Công ước Cedaw ngày 17/02/1982. Với tư cách là quốc gia thành viên Cedaw, Việt Nam đã thực hiện nghiêm chỉnh các cam kết quốc tế của mình. Đến nay, hệ thống pháp luật Việt Nam đã tương đối đầy đủ và toàn diện, phù hợp với các nguyên tắc và các quy định của Công ước Cedaw. Đặc biệt, Việt Nam đã có đạo luật riêng nhằm thực hiện những nội dung cốt lõi của Công ước này, đó là Luật Bình đẳng giới năm 2006 và Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007. Đến nay, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội; đạt được những kết quả quan trọng trong sự nghiệp bình đẳng giới trên các bình diện của đời sống xã hội, nâng cao được vị thế của người phụ nữ trong gia đình cũng như trong hoạt động xã hội. Để đạt được các kết quả này, bài học lớn nhất được rút ra trong 6 năm qua đó là sự phối hợp, cộng đồng trách nhiệm giữa các cấp chính quyền, bộ máy vì sự tiến bộ phụ nữ và Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam. Bên cạnh những thành tựu đạt được trong sự nghiệp đấu tranh vì quyền bình đẳng của phụ nữ, vẫn còn nhiều trở ngại trên con đường đi tới, Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức liên quan đến việc thực hiện Công ước Cedaw do Việt Nam là một nước đang phát triển, nguồn lực còn nhiều khó khăn và hạn chế.

* Một số khó khăn, tồn tại khi thực hiện các điều của Công ước Cedaw

Thứ nhất, định kiến giới còn tồn tại khá phổ biến, tư tưởng trọng nam khinh nữ, coi phụ nữ phải gắn với vai trò nội trợ, chăm sóc gia đình dẫn đến thiếu sự chia sẻ trách nhiệm giữa nam giới và nữ giới trong công việc gia đình và hoạt động xã hội; trong cộng đồng một số dân tộc thiểu số còn tồn tại khá nhiều phong tục tập quán lạc hậu (đa thê, kết hôn sớm, tục cướp vợ, tục nối dây…) làm cản trở không nhỏ đến sự tiến bộ của phụ nữ. Để khắc phục tồn tại này, Nhà nước đang tăng cường áp dụng nhiều biện pháp như đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, tổ chức tập huấn về bình đẳng giới; khuyến khích duy trì phong tục, tập quán tốt đẹp, loại bỏ các phong tục, tập quán lạc hậu…

Thứ hai, cán bộ một số cơ quan nhà nước khi xử lý vụ việc còn chưa quan tâm nhiều đến việc áp dụng các quy định của pháp luật bình đẳng giới. Do đó, ngoài việc phổ biến, tuyên truyền, tập huấn thì Nhà nước cũng cần phải tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát tình hình thực hiện pháp luật về bình đẳng giới và vì sự tiến bộ phụ nữ.

Thứ ba, hệ thống quản lý nhà nước về bình đẳng giới ở Việt Nam mới được hình thành sau khi có Nghị định số 186/2007/NĐ-CP, quản lý nhà nước về bình đẳng giới được giao cho Bộ Lao động – Thương bình và Xã hội nên đội ngũ cán bộ làm công tác bình đẳng giới hầu hết còn kiêm nhiệm, còn thiếu về số lượng, hạn chế kiến thức chuyên môn về giới, kỹ năng lồng ghép giới. Do đó, chúng ta cần phải hoàn thiện tổ chức bộ máy làm công tác quản lý nhà nước về bình đẳng giới, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác này để có thể hoàn thành tốt yêu cầu đặt ra.

2. Giới thiệu Bộ công cụ lồng ghép giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và dự thảo Thông tư hướng dẫn lồng ghép giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

2.1. Giới thiệu Bộ công cụ lồng ghép giới

Bộ công cụ lồng ghép giới trong quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) sẽ hướng dẫn kỹ thuật cho những người tham gia trực tiếp vào quá trình xây dựng văn bản QPPL thực hiện việc lồng ghép bình đẳng giới từ khâu lập chương trình đến khâu thông qua dự án, dự thảo.

Bộ công cụ gồm 03 phần cơ bản: Các vấn đề chung về lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng văn bản QPPL; Lồng ghép bình đẳng giới trong quy trình xây dựng văn bản QPPL; Bộ câu hỏi kiểm tra kỹ thuật việc lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng văn bản QPPL.

- Các vấn đề chung về lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng văn bản QPPL

Ở phần vấn đề chung, Hội nghị đã nhấn mạnh một trong những nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới đó là đối với biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới (hay biện pháp đặc biệt tạm thời trong Cedaw) và biện pháp bảo vệ bà mẹ thì mặc dù chỉ áp dụng cho một giới nhưng không bị coi là phân biệt đối xử về giới. Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới được quy định tại khoản 6 Điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006 và cần lưu ý là, biện pháp này chỉ được thực hiện trong một thời gian nhất định và phải chấm dứt khi mục đích bình đẳng giới đã đạt được. Biện pháp bảo vệ bà mẹ được quy định tại một số điều khoản trong Luật Bình đẳng giới.

- Lồng ghép bình đẳng giới trong quy trình xây dựng văn bản QPPL

Việc thực hiện lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện trong các giai đoạn: Lập đề nghị xây dựng văn bản QPPL; Xây dựng dự án, dự thảo văn bản QPPL, bao gồm các công đoạn soạn thảo, thẩm định, thẩm tra dự án, dự thảo văn bản QPPL; Xem xét, thông qua dự án, dự thảo văn bản QPPL.

- Bộ câu hỏi kiểm tra kỹ thuật việc lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng văn bản QPPL

Hội nghị đã được giới thiệu về bộ câu hỏi để giải quyết 3 vấn đề chính là xác định vấn đề giới trong dự án, dự thảo; giải quyết vấn đề giới trong dự án, dự thảo và tổ chức thực hiện. Trong đó những câu hỏi được tập trung tập huấn gồm:

+ Cần xem xét có hay không các quy định pháp luật thể hiện sự phân biệt đối xử về giới (bất bình đẳng pháp lý)?

Vấn đề giới do quy định của pháp luật thì giải quyết bằng con đường pháp lý, phải sửa đổi, bổ sung quy định đó. Nếu vấn đề giới do nguyên nhân khác (do thực hiện pháp luật, do yếu tố tập tục, văn hóa, kinh tế, xã hội…) thì giải quyết bằng các biện pháp phù hợp.

+ Tác động của các quy định đối với 2 giới như thế nào?

Các quy định pháp luật nếu không tác động như nhau đối với 2 giới tức là đã có sự bất bình đẳng trên thực tế. Do đó cần phải tìm nguyên nhân để giải quyết vấn đề này.

+ Có phát sinh vấn đề gì mới về giới hay không?

Có thể do các yếu tố kinh tế, xã hội làm phát sinh vấn đề giới mới.

Ví dụ: Quy định một số ngành nghề cấm hoặc hạn chế sử dụng lao động nữ nhằm bảo vệ bà mẹ, trẻ em, nhưng đến nay do điều kiện kinh tế - xã hội, kỹ thuật… đã được cải thiện, phụ nữ có thể đủ điều kiện thực hiện công việc, khi đó quy định này lại trở thành rào cản cơ hội việc làm của phụ nữ, tạo ra vấn đề bất bình đẳng giới mới.

+ Có hay không quy định bảo vệ quyền bà mẹ, trẻ em?

2.2. Thông tư hướng dẫn lồng ghép giới

Hiện nay, Bộ Tư pháp đang dự thảo Thông tư để hướng dẫn thực hiện lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng văn bản QPPL. Thông tư điều chỉnh về nội dung xem xét, đánh giá về bình đẳng giới trong dự kiến chính sách, dự thảo văn bản và thực hiện lồng ghép bình đẳng giới trong quy trình xây dựng văn bản QPPL.

Đối với thực hiện lồng ghép bình đẳng giới trong quy trình xây dựng văn bản QPPL, nhiều đại diện địa phương lo ngại rằng, ở đây đã có sự phát sinh thêm quy trình mới và việc tách ra nhiều công đoạn nhỏ như vậy sẽ gây khó khăn cho việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở địa phương. Tuy nhiên, theo một số chuyên gia, đây không phải là quy trình mới, mà chỉ là bổ sung đầy đủ thêm nội dung vào quy trình đã có từ trước và khi thực hiện nhuần nhuyễn, chúng ta sẽ thấy một quy trình liền mạch mà không phải ngắt đoạn.

3. Báo cáo về việc lồng ghép bình đẳng giới trong dự án Luật Hôn nhân và Gia đình (sửa đổi)

Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đã đạt được nhiều kết quả tốt về vấn đề bình đẳng giới như góp phần quan trọng vào việc cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng, quy định của Hiến pháp, các luật có liên quan về bình đẳng giới, loại bỏ những hủ tục lạc hậu trong hôn nhân gia đình..; tạo cơ sở pháp lý tương đối đầy đủ và hợp lý về bình đẳng giới, đặc biệt là quyền của phụ nữ, trẻ em… Tuy nhiên, Luật Hôn nhân và Gia đình hiện hành vẫn còn tồn tại một số bất cập, hạn chế đáng chú ý như:

Thứ nhất, một số quy định liên quan đến bình đẳng giới còn mang tính hình thức, không thực chất hoặc không khả thi.

Ví dụ, việc quy định phải ghi tên cả hai vợ chồng trong giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với tài sản chung, về hình thức đã bảo đảm bình đẳng giới về sở hữu, nhưng trên thực tế lại rất khó thực hiện. Tiếng nói của người phụ nữ trong gia đình Việt Nam (đặc biệt là ở nông thôn) thường thấp hơn so với chồng, nên đàn ông thường nắm giữ tài sản lớn trong gia đình và họ sẽ đứng tên sở hữu một mình nếu họ muốn điều đó.

Đối với vấn đề này, có ý kiến cho rằng, luật nên quy định cho vợ, chồng được lựa chọn việc ghi tên trong giấy tờ sở hữu mà không bắt buộc phải ghi tên cả hai người, khi đó dù giấy tờ sở hữu có tên một người thì suy đoán đó vẫn là tài sản chung trừ trường hợp chứng minh được đó là tài sản riêng. Quy định như vậy sẽ bảo vệ được quyền sở hữu của người phụ nữ, đặc biệt là ở nông thôn.

Thứ hai, một số quan hệ liên quan đến hôn nhân và gia đình có nhạy cảm giới chưa được Luật quy định cụ thể, như:

- Giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn chưa được Luật Hôn nhân và Gia đình quy định cụ thể nên vấn đề giới gần như chưa được xem xét đến trong các quan hệ này, đặc biệt đối với phụ nữ và con.

Tình trạng sống chung như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn đã và đang tồn tại tương đối phổ biến trong xã hội, chủ yếu tập trung ở những vùng dân tộc thiểu số, nông thôn, học vấn thấp, lứa tuổi hơn 50.

- Luật chưa quy định cụ thể quyền của vợ chồng được lựa chọn chế độ tài sản trong hôn nhân, nên phụ nữ thường bị thiệt thòi do phụ thuộc vào tập quán… (ví dụ, tỷ lệ chồng đứng tên giấy tờ sở hữu tài sản lớn thường cao hơn nhiều so với vợ).

Thứ ba, Luật chưa bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất với các luật có liên quan (ví dụ, chưa quy định vợ chồng bình đẳng trong các quan hệ xã hội ngoài gia đình trong khi Luật Bình đẳng giới có quy định vấn đề này…).

Vì vậy, trong dự án Luật Hôn nhân và Gia đình (sửa đổi), ngoài việc kế thừa và phát triển các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đã bảo đảm tốt vấn đề giới và bình đẳng giới, chúng ta cần phải sửa đổi, bổ sung để đảm bảo tốt hơn việc thực hiện lồng ghép bình đẳng giới, khắc phục những bất cập, hạn chế nêu trên.

Cũng tại Hội nghị, đã có đại biểu phản ánh tình trạng xảy ra tại địa phương mình như sau: Đứa trẻ sinh ra mà cha mẹ không có đăng ký kết hôn, khi chưa khai sinh cho con thì người mẹ đã bỏ đi biệt tích. Trường hợp này, pháp luật không quy định rõ ràng để có thể áp dụng khai sinh cho trẻ được thuận lợi, nên có khi trẻ sắp đi học mà vẫn chưa có giấy khai sinh. Tại địa phương, cán bộ tư pháp - hộ tịch đã thường phải vận dụng pháp luật (khoản 3 Điều 15 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch: “… Nếu vào thời điểm đăng ký khai sinh có người nhận con, thì Ủy ban nhân dân cấp xã kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh”; khoản 2 Điều 13 Nghị định 158: “Trong trường hợp không xác định được nơi cư trú của người mẹ và người cha, thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi trẻ em đang sinh sống trên thực tế thực hiện việc đăng ký khai sinh”…) thì mới giải quyết khai sinh cho những trẻ em đó được. Do đó, người cha rất bức xúc, họ có thể cho rằng điều đó là không bình đẳng, vì nếu người mẹ đi khai sinh cho con dù không xác định được cha cũng được quy định cụ thể (khoản 3 Điều 15 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP), tạo thuận lợi, tại sao đối với người cha đi khai sinh cho con trong trường hợp này lại gặp khó khăn, rắc rối. Vì vậy, trước mắt thì cán bộ tư pháp – hộ tịch vẫn tiếp tục vận dụng pháp luật để giải quyết những trường hợp tương tự, nhưng việc sửa đổi, bổ sung pháp luật cho phù hợp với thực tiễn cũng cần được đặt ra.

4. Việc thực hiện Công ước Cedaw trong Ngành Tư pháp

Trong bài phát biểu về việc thực hiện Công ước Cedaw trong Ngành Tư pháp, Tiến sĩ Trần Văn Quảng cho biết, hiện nay cán bộ, công chức, viên chức nữ trong Ngành đã có nhiều cố gắng, đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Lãnh đạo cấp vụ, cấp phòng là nữ chiếm tỷ lệ cao và thực hiện tốt vai trò lãnh đạo, điều hành không kém nam giới. Đặc biệt, nhiều cán bộ nữ còn khá trẻ, nhưng khi được bổ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý đã khẳng định được năng lực của bản thân. Tuy nhiên, so với tỷ lệ nữ trong Ngành, thì tỷ lệ lãnh đạo là nữ vẫn còn khiêm tốn. Do đó, Tiến sĩ hy vọng rằng các nữ cán bộ của Ngành tiếp tục cố gắng hơn nữa, tự tin và giúp đỡ hỗ trợ nhau cùng phát triển.

Cũng tại Hội nghị tập huấn, Tiến sĩ Trần Văn Quảng đã nhấn mạnh vai trò của các cơ quan tư pháp trong việc bảo đảm bình đẳng giới khi thực hiện nhiệm vụ xây dựng và thẩm định văn bản QPPL. Tiến sĩ khẳng định Bộ công cụ lồng ghép giới sẽ còn tiếp tục được hoàn thiện hơn, góp phần quan trọng vào việc thực hiện Công ước Cedaw tại Việt Nam nói chung và trong Ngành Tư pháp nói riêng.

Ngô Huyền

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: