Thứ ba 14/07/2026 17:18
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài của Tòa án Việt Nam dưới góc nhìn so sánh

Tóm tắt: Trong bài viết này, tác giả phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, đối chiếu, so sánh với quy định của pháp luật Nhật Bản từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

Tóm tắt: Trong bài viết này, tác giả phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, đối chiếu, so sánh với quy định của pháp luật Nhật Bản từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

Abstract: In this paper, the author analyzes legal provisions of Vietnam on jurisdiction for civil cases involving foreign elements, in comparision with Japanese legal provisions, hence, draws experience for Vietnam.

1. Quy định của pháp luật Việt Nam về thẩm quyền xét xử các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài

Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam năm 2015, tại Phần thứ Tám, Chương XXXVIII quy định về thủ tục giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài từ Điều 464 đến Điều 481. Theo đó, một vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài có thể thuộc thẩm quyền xét xử chung hoặc thẩm quyền xét xử riêng biệt của Tòa án Việt Nam.

Vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam nghĩa là pháp luật Việt Nam quy định Tòa án Việt Nam có thẩm quyền xét xử, tuy nhiên nếu Tòa án nước ngoài xét xử vụ việc đó thì bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài có thể được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam. Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định những trường hợp thuộc thẩm quyền chung của Toà án Việt Nam, cụ thể: Vụ việc dân sự nếu bị đơn là cá nhân cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam. Trong trường hợp bị đơn là cơ quan tổ chức thì có trụ sở tại Việt Nam được xem là căn cứ để xác định thẩm quyền của Tòa án Việt Nam; vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài mà bị đơn có tài sản ở Việt Nam; vụ việc ly hôn mà nguyên đơn hoặc bị đơn là công dân Việt Nam hoặc các đương sự là người nước ngoài cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam. Đặc biệt, đối với vụ việc ly hôn thì chỉ cần một trong các bên là công dân Việt Nam thì Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết, ở đây dấu hiệu quốc tịch là căn cứ xác định thẩm quyền.

Ngoài các dấu hiệu về quốc tịch, nơi cư trú, nơi có trụ sở nêu trên thì dấu hiệu sự kiện pháp lý làm xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ hoặc dấu hiệu nơi có tài sản là đối tượng của quan hệ cũng được ghi nhận. Cụ thể, nếu có sự kiện pháp lý xảy ra ở Việt Nam và từ sự kiện đó quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được xác lập, thay đổi, chấm dứt thì vụ việc về quan hệ đó do Tòa án Việt Nam giải quyết.

Trường hợp khác là quan hệ liên quan đến tài sản mà tài sản lại đang tồn tại trên lãnh thổ Việt Nam hoặc công việc được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam thì Tòa án Việt Nam cũng có thẩm quyền. Nếu sự kiện pháp lý xảy ra ở nước ngoài nhưng các cá nhân, cơ quan, tổ chức Việt Nam có liên quan về quyền và nghĩa vụ hoặc các cá nhân này cư trú ở Việt Nam, các cơ quan tổ chức này có trụ sở ở Việt Nam thì Tòa án Việt Nam cũng có thẩm quyền giải quyết[1].

Khoản 2 Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cũng quy định: Sau khi xác định thẩm quyền của Tòa án Việt Nam theo quy định của Chương này, Tòa án áp dụng các quy định tại Chương III của Bộ luật này để xác định thẩm quyền của Tòa án cụ thể giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài.

Về thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam trong giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài được quy định tại Điều 470 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Theo đó, nếu thuộc trường hợp được quy định tại Điều 470 thì chỉ có Tòa án Việt Nam mới có thẩm quyền giải quyết, nếu Tòa án nước ngoài, Trọng tài nước ngoài, Trọng tài Việt Nam giải quyết thì bản án, quyết định đó sẽ không có giá trị pháp lý tại Việt Nam.

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cũng quy định những trường hợp Tòa án Việt Nam phải trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu hoặc đình chỉ giải quyết vụ án tại Điều 472 của Bộ luật. Theo đó, Toà án Việt Nam sẽ phải trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu hoặc đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài trong trường hợp đã có thỏa thuận trọng tài, thỏa thuận lựa chọn Tòa án nước ngoài hoặc đã có Tòa án nước ngoài, Trọng tài hoặc cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài giải quyết hoặc đương sự được hưởng quyền miễn trừ tư pháp.

2. Quy định của pháp luật Nhật Bản về thẩm quyền xét xử các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài

Năm 1996, Nhật Bản ban hành Bộ luật Tố tụng dân sự, tuy nhiên, Bộ luật này không quy định về xác định thẩm quyền dân sự quốc tế của Nhật Bản mà chỉ có quy định về thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự trong nước. Để xác định thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, Tòa án Nhật Bản căn cứ vào các án lệ của Tòa án tối cao và các quy định suy ra từ thẩm quyền trong nước của Tòa án. Đến năm 2011, Luật Sửa đổi, bổ sung một số phần của Bộ luật Tố tụng dân sự và biện pháp khắc phục hậu quả tạm thời của Luật Dân sự (số 36) được ban hành ngày 02/5/2011 và có hiệu lực vào ngày 01/4/2012[2] (sau đây gọi là Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011), những quy định về thẩm quyền xét xử các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài mới được ghi nhận cụ thể trong Bộ luật này.

Về cơ bản, các quy tắc mới trong Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011 tuân theo những tiền lệ được thiết lập bởi Tòa án tối cao. Việc xác định thẩm quyền xét xử các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài tương tự như việc xác định thẩm quyền xét xử các vụ việc trong nước. Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011 còn chứa đựng các quy định liên quan đến việc xác định thẩm quyền xét xử đặc biệt đối với các trường hợp liên quan đến hợp đồng tiêu dùng và quan hệ lao động, được thiết kế để bảo vệ người tiêu dùng và người lao động trong mối quan hệ với các thực thể kinh doanh và người sử dụng lao động. Tòa án của Nhật Bản sẽ có thẩm quyền xét xử chung đối với vụ việc nếu bị đơn là tự nhiên nhân có nơi cư trú tại Nhật Bản, hoặc là một pháp nhân có trụ sở chính tại Nhật Bản[3].

Theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011 thì khi Tòa án Nhật Bản không có thẩm quyền xét xử chung với một vụ việc nhưng nếu trong vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài xuất hiện những cơ sở sau đây Tòa án Nhật Bản có thể thực hiện thẩm quyền xét xử đặc biệt (thẩm quyền xét xử hạn chế).

Thứ nhất, đối với các yêu cầu khởi kiện liên quan đến nghĩa vụ theo hợp đồng, nếu địa điểm thực hiện nghĩa vụ là tại Nhật Bản.

Thứ hai, đối với các yêu cầu thanh toán bằng tiền mặt của hóa đơn hoặc séc, Toà án Nhật Bản cũng có thẩm quyền giải quyết khi địa điểm thanh toán hóa đơn hoặc séc ở Nhật Bản.

Thứ ba, đối với các yêu cầu khởi kiện liên quan đến quyền sở hữu, nếu tài sản có thể tịch thu được của bị đơn được đặt tại Nhật Bản, các Tòa án Nhật Bản có thể thực hiện thẩm quyền xét xử đối với các vụ kiện có yêu cầu khởi kiện như vậy trừ khi giá trị tài sản có thể tịch thu được là rất thấp.

Thứ tư, khi pháp nhân nước ngoài có văn phòng kinh doanh ở Nhật Bản, các Tòa án Nhật Bản có thể thực hiện thẩm quyền xét xử đối với các vụ kiện liên quan đến hoạt động kinh doanh của văn phòng kinh doanh này. Nếu như văn phòng này đặt tại Nhật Bản tiến hành hoạt động kinh doanh ở nước ngoài, một yêu cầu khởi kiện liên quan đến hoạt động kinh doanh ở nước ngoài của văn phòng này cũng sẽ được xét xử tại một Tòa án Nhật Bản.

Thứ năm, thẩm quyền xét xử đối với một hoạt động kinh doanh. Ngay cả khi một thực thể nước ngoài không có một văn phòng kinh doanh ở Nhật Bản, một Tòa án Nhật Bản có thể thực hiện thẩm quyền trong trường hợp có đơn kiện chống lại thực thể đó liên quan đến hoạt động kinh doanh của nó tại Nhật Bản.

Thứ sáu, nếu một hành vi vi phạm diễn ra ở Nhật Bản hoặc kết quả của hành vi gây ra thiệt hại ở Nhật Bản, các Tòa án Nhật Bản có thể thực hiện thẩm quyền đối với các vụ kiện đòi bồi thường liên quan đến các hành vi vi phạm đó (ngoại trừ trường hợp không thể lường trước được hành vi vi phạm tiến hành ở nước ngoài đó sẽ được gây ra thiệt hại tại Nhật Bản)[4].

Thứ bảy, một Tòa án Nhật Bản có thể thực hiện thẩm quyền đối với các yêu cầu khởi kiện liên quan đến bất động sản đặt tại Nhật Bản. Đặc biệt, một khiếu nại liên quan đến việc đăng ký bất động sản tại Nhật Bản sẽ thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Nhật Bản[5].

Thứ tám, Tòa án Nhật Bản có thẩm quyền giải quyết đối với các tranh chấp thừa kế nếu người để lại di sản thừa kế có nơi cư trú tại Nhật Bản, nếu không có nơi cư trú hoặc không xác định được nơi cư trú thì chỉ cần trước khi chết người để lại di sản đã từng cư trú tại Nhật Bản.

2.1. Thẩm quyền của Tòa án trong một số trường hợp cụ thể

Một là, thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án Nhật Bản đối với hợp đồng tiêu dùng

Theo đoạn 1 khoản 4 Điều 3 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011 thì một vụ kiện được đưa ra bởi một người tiêu dùng đối với một thương nhân (hợp đồng tiêu dùng) có thể được nộp đơn tại các Tòa án của Nhật Bản nếu tại thời điểm nộp đơn khởi kiện hoặc tại thời điểm ký kết hợp đồng người tiêu dùng có nơi cư trú tại Nhật Bản. Một thương nhân nước ngoài có thể bị kiện không chỉ khi thương nhân đó ký kết hợp đồng với người tiêu dùng sống ở Nhật Bản, mà cả khi ký kết hợp đồng với một người tiêu dùng sống bên ngoài Nhật Bản tại thời điểm ký kết hợp đồng và sau đó chuyển vào Nhật Bản. Vì vậy, thương nhân nước ngoài có thể bị kiện tại Tòa án Nhật Bản một khi thương nhân tiến hành kinh doanh với người tiêu dùng hiện cư trú tại Nhật Bản[6].

Trong khi một thương nhân có thể thỏa thuận trước với người tiêu dùng để hạn chế thẩm quyền xét xử của Tòa án nơi cư trú của người tiêu dùng tại thời điểm ký kết các thỏa thuận, người tiêu dùng vẫn có quyền kiện các thương nhân tại các nước khác. Mặc dù các thỏa thuận về thẩm quyền được coi là hợp lệ về nguyên tắc, các thỏa thuận về thẩm quyền trong hợp đồng tiêu dùng vẫn bị hạn chế hiệu lực[7].

Các vụ kiện được khởi xướng bởi một thương nhân chống lại một người tiêu dùng theo quy định tại đoạn 3 khoản 4 Điều 3. Theo đó, nếu vụ kiện được khởi sướng bởi một thương nhân chống lại người tiêu dùng, thẩm quyền của Toà án chỉ có thể căn cứ vào nơi cư trú của bị đơn để xác định trừ trường hợp có thoả thuận khác giữa các thương nhân và người tiêu dùng (tuy nhiên, như sẽ nêu dưới đây, ngay cả khi người tiêu dùng và các thương nhân đã thoả thuận về thẩm quyền, một điều khoản như vậy sẽ có hiệu lực hạn chế)[8].

Thoả thuận về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đối với hợp đồng tiêu dùng. Theo tiểu tiết (i) điểm 5 khoản 7 Điều 3 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011, ngay cả khi một thương nhân đã ký kết một thỏa thuận với người tiêu dùng về thẩm quyền xét xử riêng biệt của Tòa án mà theo đó vụ kiện chỉ có thể được nộp đơn tới một Tòa án tại quốc gia nơi thương nhân đặt trụ sở, thì thoả thuận này cũng bị hạn chế hiệu lực[9].

Hai là, thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án Nhật Bản đối với hợp đồng lao động

Theo quy định tại đoạn 2 khoản 4 Điều 3 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011, Tòa án Nhật Bản có thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế đối với các trường hợp liên quan đến yêu cầu khởi kiện của người lao động đối với người sử dụng lao động nếu người lao động cung cấp sức lao động tại Nhật Bản[10].

Trong khi người sử dụng lao động có thể, khi chấm dứt hợp đồng lao động, tham gia vào một thỏa thuận với người lao động để hạn chế thẩm quyền xét xử đối với nơi người lao động làm việc vào cuối thời hạn sử dụng lao động, người lao động vẫn có quyền kiện người sử dụng lao động tại Tòa án khác và tất nhiên trong trường hợp này, người sử dụng lao động cũng không thể viện lí do các bên đã có thỏa thuận chọn Toà án trong hợp đồng để phản đối thẩm quyền của Toà án. Trong trường hợp này hiệu lực của quy định về lựa chọn Tòa án trong các hợp đồng lao động bị hạn chế[11], chỉ trừ khi người lao động viện dẫn thoả thuận chọn Toà án hoặc người lao động đã khởi kiện tại Toà án đã thoả thuận trong hợp đồng lao động[12].

Các vụ kiện được khởi xướng bởi người sử dụng lao động chống lại người lao động theo quy định tại đoạn 3 khoản 4 Điều 3, cũng giống như với hợp đồng tiêu dùng, thẩm quyền của Toà án chỉ có thể căn cứ vào nơi cư trú của bị đơn để xác định trừ trường hợp có thỏa thuận khác giữa người sử dụng lao động và người lao động. Người sử dụng lao động, do đó, có thể kiện một người lao động tại Nhật Bản chỉ khi người lao động cư trú tại Nhật Bản tại thời điểm nộp đơn khởi kiện.

Ba là, thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án Nhật Bản đối với các vụ việc về sở hữu trí tuệ

Theo Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011, Tòa án Nhật Bản có thẩm quyền xét xử riêng biệt đối với các vụ việc liên quan đến các yêu cầu về sự tồn tại hoặc giá trị quyền sở hữu trí tuệ phát sinh khi đăng ký theo quy định của pháp luật Nhật Bản[13]. Theo đó, các vấn đề liên quan đến việc đăng ký quyền sở hữu trí tuệ tại Nhật Bản sẽ là thẩm quyền độc quyền của Toà án Nhật Bản[14].

Bốn là, thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án Nhật Bản đối với các yêu cầu khởi kiện tập thể

Theo pháp luật Nhật Bản, trong trường hợp nộp nhiều yêu cầu mà hai hoặc nhiều yêu cầu khởi kiện được cho là có liên quan chặt chẽ với nhau có thể được đưa ra trong một vụ kiện duy nhất trước Tòa án Nhật Bản kể cả khi các Tòa án chỉ có thẩm quyền đối xét xử với một trong số các yêu cầu khởi kiện này[15].

Như vậy, có thể thấy với quy định này phạm vi thẩm quyền của Tòa án Nhật Bản là khá rộng, thẩm quyền xét xử đối với các yêu cầu khởi kiện tập thể như vậy có thể là bất ngờ khi một thực thể nước ngoài không có ý định tham gia vào vụ kiện ở Nhật Bản[16].

2.2. Thẩm quyền của Tòa án Nhật Bản theo sự thoả thuận của các bên

Theo quy định tại khoản 7 Điều 3 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011 thì các bên có quyền thỏa thuận lựa chọn Tòa án của bất kỳ nước nào để giải quyết tranh chấp giữ các bên. Thỏa thuận lựa chọn Tòa án phải được lập thành văn bản (trong trường hợp thông điệp dữ liệu không thể nhận biết được thì không được coi là thỏa thuận bằng văn bản và sẽ không có giá trị pháp lý). Cũng theo quy định này thì nếu như các bên có thỏa thuận lựa chọn Tòa án nước ngoài để giải quyết tranh chấp nhưng Tòa án nước ngoài từ chối thẩm quyền hoặc không thể thực hiện thẩm quyền xét xử thì được coi là Tòa án nước ngoài đó không có thẩm quyền[17].

Như đã phân tích ở trên thẩm quyền của Tòa án do các bên thỏa thuận cũng bị hạn chế trong hợp đồng lao động và hợp đồng tiêu dung[18].

Ngoài ra, đối với các tranh chấp về sở hữu trí tuệ Nhật Bản còn có Tòa án riêng biệt đặt tại Tokyo và Osaka.

3. Kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình sửa đổi, hoàn thiện pháp luật

Từ các phân tích ở trên cho thấy, hệ thống pháp luật Nhật Bản về thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài có nhiều quy định tiến bộ, phù hợp và tương thích với các công ước quốc tế. Theo đó, có thể rút ra một số bài học như sau:

Thứ nhất, Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 1996 (sửa đổi năm 2011) đã có những quy định mới trên cơ sở tham khảo pháp luật của một số quốc gia trên thế giới, cũng như tham khảo các Công ước của Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế. Quy định về xác định thẩm quyền của Tòa án trong hợp đồng đối với người tiêu dùng và người lao động là những quy định tiến bộ nhằm bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, người lao động vốn được coi là “yếu thế” hơn so với những chủ thể khác. Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì việc xác định thẩm quyền xét xử các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài trong hợp đồng tiêu dùng, hợp đồng lao động, sở hữu trí tuệ, các yêu cầu khởi kiện tập thể gần như chỉ căn cứ chủ yếu và tiêu chí nơi cư trú của bị đơn để xác định thẩm quyền của Tòa án mà chưa có những quy định cụ thể như vậy. Do đó, khi sửa đổi Bộ luật Tố tụng dân sự nên có quy định cụ thể xác định thẩm quyền xét xử của Tòa án theo tiêu chí nơi cư trú của người tiêu dùng trong hợp đồng tiêu dùng, người lao động trong hợp đồng lao động như quy định của pháp luật Nhật Bản. Đối với các tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ phải được đăng ký ở Việt Nam cần được quy định thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam.

Thứ hai, về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài, cũng giống như pháp luật Nhật Bản, pháp luật Việt Nam giao cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo nguyên tắc lãnh thổ. Tuy nhiên, pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam cũng nên có những sửa đổi theo hướng, đối với các tranh chấp phức tạp (ví dụ như các tranh chấp về sở hữu trí tuệ; công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài; công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài) cần đến trình độ chuyên môn và kinh nghiệm thì nên giao cho các Tòa án chuyên trách đặt tại các khu vực.

Thứ ba, pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam cũng có quy định về trường hợp thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam nếu các bên có thỏa thuận tại điểm c khoản 1 Điều 470 và trường hợp trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu hoặc đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài trong trường hợp đã có thỏa thuận trọng tài, thỏa thuận lựa chọn Tòa án nước ngoài giải quyết theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 472 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, quy định này còn chưa đề cập đến hình thức của thỏa thuận lựa chọn Tòa án và cũng chưa quy định về hạn chế hiệu lực của thỏa thuận lựa chọn Tòa án trong hợp đồng tiêu dùng và hợp đồng lao động. Theo đó, đối với trường hợp lựa chọn Tòa án, cũng cần quy định cụ thể về hình thức của thỏa thuận lựa chọn Tòa án giữa các bên. Thiết nghĩ, nên quy định thỏa thuận lựa chọn Tòa án để giải quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài phải được lập thành văn bản hoặc các hình thức có giá trị pháp lý tương đương. Cũng cần hạn chế hiệu lực của quy định về lựa chọn Tòa án trong các hợp đồng lao động và hợp đồng tiêu dùng, theo hướng người lao động, người tiêu dùng vẫn có thể khởi kiện người sử dụng lao động, thương nhân bán hàng ra Tòa án của quốc gia khác với Tòa án thỏa thuận trong hợp đồng chỉ trừ trường hợp người tiêu dùng, người lao động viện dẫn thỏa thuận hoặc đã khởi kiện tại Tòa án đã thỏa thuận trong hợp đồng.

ThS. Vũ Thị Hương

Đại học Luật thuộc Đại học Huế





[1]. Xem thêm khoản 1 Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam năm 2015.

[2]. Bộ luật này là luật sửa đổi, bổ sung quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 1996 của Nhật Bản, trong đó bổ sung các quy định về thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài.

[3]. Xem thêm khoản 2 Điều 3 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011.

[4]. Xem thêm khoản 3 Điều 3 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011.

[5]. Koki Yanagisawa and Hiroki Aoki (2012), Amendment of the Code of Civil Procedure: A question of jurisdiction, http://www.iflr.com/Article/3007237/Amendment-of-the-Code-of-CivilProcedure-A-question-of-jurisdiction.html.

[6]. Khoản 4 Điều 3 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011.

[7]. Xem đoạn 5 khoản 7 Điều 3 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011.

[8]. Xem điểm 5 khoản 7 Điều 3 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011.

[9]. Quy định này được dựa trên quan điểm rằng tại thời điểm ký kết hợp đồng tiêu dùng, hầu hết người tiêu dùng không chú ý tới điều khoản về thẩm quyền xét xử tranh chấp phát sinh từ hợp đồng và thậm chí nếu có chú ý, điều khoản này cũng gần như là không thể thương lượng. Vì vậy, có thể sẽ là không công bằng nếu buộc một người tiêu dùng phải nộp đơn khởi kiện tại Tòa án đã nêu trong thoả thuận như vậy (Yoko Maeda (2011), New Law on International Civil Jurisdiction in Japan and its impact on foreign corporations, International Bar Association Legal practice pision).

[10]. Xem thêm đoạn 2 khoản 4 Điều 3 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011.

[11]. Xem đoạn 6 khoản 7 Điều 3 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011.

[12]. Theo tiểu tiết ii điểm 6 khoản 7 Điều 3 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011.

[13]. Xem khoản 5 Điều 3 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011.

[14]. Koki Yanagisawa and Hiroki Aoki (2012), Amendment of the Code of Civil Procedure: A question of jurisdiction, http://www.iflr.com/Article/3007237/Amendment-of-the-Code-of-CivilProcedure-A-question-of-jurisdiction.html.

[15]. Xem khoản 6 Điều 3 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011.

[16]. Koki Yanagisawa and Hiroki Aoki (2012), Amendment of the Code of Civil Procedure: A question of jurisdiction, http://www.iflr.com/Article/3007237/Amendment-of-the-Code-of-CivilProcedure-A-question-of-jurisdiction.html.

[17]. Xem thêm quy định tại đoạn 1, 2, 3, 4 khoản 7 Điều 3 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011.

[18]. Xem thêm quy định tại đoạn 5, 6 khoản 7 Điều 3 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.

Theo dõi chúng tôi trên: