Thứ năm 15/01/2026 06:22
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài của Tòa án Việt Nam dưới góc nhìn so sánh

Tóm tắt: Trong bài viết này, tác giả phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, đối chiếu, so sánh với quy định của pháp luật Nhật Bản từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

Tóm tắt: Trong bài viết này, tác giả phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, đối chiếu, so sánh với quy định của pháp luật Nhật Bản từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

Abstract: In this paper, the author analyzes legal provisions of Vietnam on jurisdiction for civil cases involving foreign elements, in comparision with Japanese legal provisions, hence, draws experience for Vietnam.

1. Quy định của pháp luật Việt Nam về thẩm quyền xét xử các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài

Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam năm 2015, tại Phần thứ Tám, Chương XXXVIII quy định về thủ tục giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài từ Điều 464 đến Điều 481. Theo đó, một vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài có thể thuộc thẩm quyền xét xử chung hoặc thẩm quyền xét xử riêng biệt của Tòa án Việt Nam.

Vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam nghĩa là pháp luật Việt Nam quy định Tòa án Việt Nam có thẩm quyền xét xử, tuy nhiên nếu Tòa án nước ngoài xét xử vụ việc đó thì bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài có thể được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam. Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định những trường hợp thuộc thẩm quyền chung của Toà án Việt Nam, cụ thể: Vụ việc dân sự nếu bị đơn là cá nhân cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam. Trong trường hợp bị đơn là cơ quan tổ chức thì có trụ sở tại Việt Nam được xem là căn cứ để xác định thẩm quyền của Tòa án Việt Nam; vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài mà bị đơn có tài sản ở Việt Nam; vụ việc ly hôn mà nguyên đơn hoặc bị đơn là công dân Việt Nam hoặc các đương sự là người nước ngoài cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam. Đặc biệt, đối với vụ việc ly hôn thì chỉ cần một trong các bên là công dân Việt Nam thì Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết, ở đây dấu hiệu quốc tịch là căn cứ xác định thẩm quyền.

Ngoài các dấu hiệu về quốc tịch, nơi cư trú, nơi có trụ sở nêu trên thì dấu hiệu sự kiện pháp lý làm xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ hoặc dấu hiệu nơi có tài sản là đối tượng của quan hệ cũng được ghi nhận. Cụ thể, nếu có sự kiện pháp lý xảy ra ở Việt Nam và từ sự kiện đó quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được xác lập, thay đổi, chấm dứt thì vụ việc về quan hệ đó do Tòa án Việt Nam giải quyết.

Trường hợp khác là quan hệ liên quan đến tài sản mà tài sản lại đang tồn tại trên lãnh thổ Việt Nam hoặc công việc được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam thì Tòa án Việt Nam cũng có thẩm quyền. Nếu sự kiện pháp lý xảy ra ở nước ngoài nhưng các cá nhân, cơ quan, tổ chức Việt Nam có liên quan về quyền và nghĩa vụ hoặc các cá nhân này cư trú ở Việt Nam, các cơ quan tổ chức này có trụ sở ở Việt Nam thì Tòa án Việt Nam cũng có thẩm quyền giải quyết[1].

Khoản 2 Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cũng quy định: Sau khi xác định thẩm quyền của Tòa án Việt Nam theo quy định của Chương này, Tòa án áp dụng các quy định tại Chương III của Bộ luật này để xác định thẩm quyền của Tòa án cụ thể giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài.

Về thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam trong giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài được quy định tại Điều 470 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Theo đó, nếu thuộc trường hợp được quy định tại Điều 470 thì chỉ có Tòa án Việt Nam mới có thẩm quyền giải quyết, nếu Tòa án nước ngoài, Trọng tài nước ngoài, Trọng tài Việt Nam giải quyết thì bản án, quyết định đó sẽ không có giá trị pháp lý tại Việt Nam.

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cũng quy định những trường hợp Tòa án Việt Nam phải trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu hoặc đình chỉ giải quyết vụ án tại Điều 472 của Bộ luật. Theo đó, Toà án Việt Nam sẽ phải trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu hoặc đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài trong trường hợp đã có thỏa thuận trọng tài, thỏa thuận lựa chọn Tòa án nước ngoài hoặc đã có Tòa án nước ngoài, Trọng tài hoặc cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài giải quyết hoặc đương sự được hưởng quyền miễn trừ tư pháp.

2. Quy định của pháp luật Nhật Bản về thẩm quyền xét xử các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài

Năm 1996, Nhật Bản ban hành Bộ luật Tố tụng dân sự, tuy nhiên, Bộ luật này không quy định về xác định thẩm quyền dân sự quốc tế của Nhật Bản mà chỉ có quy định về thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự trong nước. Để xác định thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, Tòa án Nhật Bản căn cứ vào các án lệ của Tòa án tối cao và các quy định suy ra từ thẩm quyền trong nước của Tòa án. Đến năm 2011, Luật Sửa đổi, bổ sung một số phần của Bộ luật Tố tụng dân sự và biện pháp khắc phục hậu quả tạm thời của Luật Dân sự (số 36) được ban hành ngày 02/5/2011 và có hiệu lực vào ngày 01/4/2012[2] (sau đây gọi là Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011), những quy định về thẩm quyền xét xử các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài mới được ghi nhận cụ thể trong Bộ luật này.

Về cơ bản, các quy tắc mới trong Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011 tuân theo những tiền lệ được thiết lập bởi Tòa án tối cao. Việc xác định thẩm quyền xét xử các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài tương tự như việc xác định thẩm quyền xét xử các vụ việc trong nước. Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011 còn chứa đựng các quy định liên quan đến việc xác định thẩm quyền xét xử đặc biệt đối với các trường hợp liên quan đến hợp đồng tiêu dùng và quan hệ lao động, được thiết kế để bảo vệ người tiêu dùng và người lao động trong mối quan hệ với các thực thể kinh doanh và người sử dụng lao động. Tòa án của Nhật Bản sẽ có thẩm quyền xét xử chung đối với vụ việc nếu bị đơn là tự nhiên nhân có nơi cư trú tại Nhật Bản, hoặc là một pháp nhân có trụ sở chính tại Nhật Bản[3].

Theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011 thì khi Tòa án Nhật Bản không có thẩm quyền xét xử chung với một vụ việc nhưng nếu trong vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài xuất hiện những cơ sở sau đây Tòa án Nhật Bản có thể thực hiện thẩm quyền xét xử đặc biệt (thẩm quyền xét xử hạn chế).

Thứ nhất, đối với các yêu cầu khởi kiện liên quan đến nghĩa vụ theo hợp đồng, nếu địa điểm thực hiện nghĩa vụ là tại Nhật Bản.

Thứ hai, đối với các yêu cầu thanh toán bằng tiền mặt của hóa đơn hoặc séc, Toà án Nhật Bản cũng có thẩm quyền giải quyết khi địa điểm thanh toán hóa đơn hoặc séc ở Nhật Bản.

Thứ ba, đối với các yêu cầu khởi kiện liên quan đến quyền sở hữu, nếu tài sản có thể tịch thu được của bị đơn được đặt tại Nhật Bản, các Tòa án Nhật Bản có thể thực hiện thẩm quyền xét xử đối với các vụ kiện có yêu cầu khởi kiện như vậy trừ khi giá trị tài sản có thể tịch thu được là rất thấp.

Thứ tư, khi pháp nhân nước ngoài có văn phòng kinh doanh ở Nhật Bản, các Tòa án Nhật Bản có thể thực hiện thẩm quyền xét xử đối với các vụ kiện liên quan đến hoạt động kinh doanh của văn phòng kinh doanh này. Nếu như văn phòng này đặt tại Nhật Bản tiến hành hoạt động kinh doanh ở nước ngoài, một yêu cầu khởi kiện liên quan đến hoạt động kinh doanh ở nước ngoài của văn phòng này cũng sẽ được xét xử tại một Tòa án Nhật Bản.

Thứ năm, thẩm quyền xét xử đối với một hoạt động kinh doanh. Ngay cả khi một thực thể nước ngoài không có một văn phòng kinh doanh ở Nhật Bản, một Tòa án Nhật Bản có thể thực hiện thẩm quyền trong trường hợp có đơn kiện chống lại thực thể đó liên quan đến hoạt động kinh doanh của nó tại Nhật Bản.

Thứ sáu, nếu một hành vi vi phạm diễn ra ở Nhật Bản hoặc kết quả của hành vi gây ra thiệt hại ở Nhật Bản, các Tòa án Nhật Bản có thể thực hiện thẩm quyền đối với các vụ kiện đòi bồi thường liên quan đến các hành vi vi phạm đó (ngoại trừ trường hợp không thể lường trước được hành vi vi phạm tiến hành ở nước ngoài đó sẽ được gây ra thiệt hại tại Nhật Bản)[4].

Thứ bảy, một Tòa án Nhật Bản có thể thực hiện thẩm quyền đối với các yêu cầu khởi kiện liên quan đến bất động sản đặt tại Nhật Bản. Đặc biệt, một khiếu nại liên quan đến việc đăng ký bất động sản tại Nhật Bản sẽ thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Nhật Bản[5].

Thứ tám, Tòa án Nhật Bản có thẩm quyền giải quyết đối với các tranh chấp thừa kế nếu người để lại di sản thừa kế có nơi cư trú tại Nhật Bản, nếu không có nơi cư trú hoặc không xác định được nơi cư trú thì chỉ cần trước khi chết người để lại di sản đã từng cư trú tại Nhật Bản.

2.1. Thẩm quyền của Tòa án trong một số trường hợp cụ thể

Một là, thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án Nhật Bản đối với hợp đồng tiêu dùng

Theo đoạn 1 khoản 4 Điều 3 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011 thì một vụ kiện được đưa ra bởi một người tiêu dùng đối với một thương nhân (hợp đồng tiêu dùng) có thể được nộp đơn tại các Tòa án của Nhật Bản nếu tại thời điểm nộp đơn khởi kiện hoặc tại thời điểm ký kết hợp đồng người tiêu dùng có nơi cư trú tại Nhật Bản. Một thương nhân nước ngoài có thể bị kiện không chỉ khi thương nhân đó ký kết hợp đồng với người tiêu dùng sống ở Nhật Bản, mà cả khi ký kết hợp đồng với một người tiêu dùng sống bên ngoài Nhật Bản tại thời điểm ký kết hợp đồng và sau đó chuyển vào Nhật Bản. Vì vậy, thương nhân nước ngoài có thể bị kiện tại Tòa án Nhật Bản một khi thương nhân tiến hành kinh doanh với người tiêu dùng hiện cư trú tại Nhật Bản[6].

Trong khi một thương nhân có thể thỏa thuận trước với người tiêu dùng để hạn chế thẩm quyền xét xử của Tòa án nơi cư trú của người tiêu dùng tại thời điểm ký kết các thỏa thuận, người tiêu dùng vẫn có quyền kiện các thương nhân tại các nước khác. Mặc dù các thỏa thuận về thẩm quyền được coi là hợp lệ về nguyên tắc, các thỏa thuận về thẩm quyền trong hợp đồng tiêu dùng vẫn bị hạn chế hiệu lực[7].

Các vụ kiện được khởi xướng bởi một thương nhân chống lại một người tiêu dùng theo quy định tại đoạn 3 khoản 4 Điều 3. Theo đó, nếu vụ kiện được khởi sướng bởi một thương nhân chống lại người tiêu dùng, thẩm quyền của Toà án chỉ có thể căn cứ vào nơi cư trú của bị đơn để xác định trừ trường hợp có thoả thuận khác giữa các thương nhân và người tiêu dùng (tuy nhiên, như sẽ nêu dưới đây, ngay cả khi người tiêu dùng và các thương nhân đã thoả thuận về thẩm quyền, một điều khoản như vậy sẽ có hiệu lực hạn chế)[8].

Thoả thuận về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đối với hợp đồng tiêu dùng. Theo tiểu tiết (i) điểm 5 khoản 7 Điều 3 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011, ngay cả khi một thương nhân đã ký kết một thỏa thuận với người tiêu dùng về thẩm quyền xét xử riêng biệt của Tòa án mà theo đó vụ kiện chỉ có thể được nộp đơn tới một Tòa án tại quốc gia nơi thương nhân đặt trụ sở, thì thoả thuận này cũng bị hạn chế hiệu lực[9].

Hai là, thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án Nhật Bản đối với hợp đồng lao động

Theo quy định tại đoạn 2 khoản 4 Điều 3 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011, Tòa án Nhật Bản có thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế đối với các trường hợp liên quan đến yêu cầu khởi kiện của người lao động đối với người sử dụng lao động nếu người lao động cung cấp sức lao động tại Nhật Bản[10].

Trong khi người sử dụng lao động có thể, khi chấm dứt hợp đồng lao động, tham gia vào một thỏa thuận với người lao động để hạn chế thẩm quyền xét xử đối với nơi người lao động làm việc vào cuối thời hạn sử dụng lao động, người lao động vẫn có quyền kiện người sử dụng lao động tại Tòa án khác và tất nhiên trong trường hợp này, người sử dụng lao động cũng không thể viện lí do các bên đã có thỏa thuận chọn Toà án trong hợp đồng để phản đối thẩm quyền của Toà án. Trong trường hợp này hiệu lực của quy định về lựa chọn Tòa án trong các hợp đồng lao động bị hạn chế[11], chỉ trừ khi người lao động viện dẫn thoả thuận chọn Toà án hoặc người lao động đã khởi kiện tại Toà án đã thoả thuận trong hợp đồng lao động[12].

Các vụ kiện được khởi xướng bởi người sử dụng lao động chống lại người lao động theo quy định tại đoạn 3 khoản 4 Điều 3, cũng giống như với hợp đồng tiêu dùng, thẩm quyền của Toà án chỉ có thể căn cứ vào nơi cư trú của bị đơn để xác định trừ trường hợp có thỏa thuận khác giữa người sử dụng lao động và người lao động. Người sử dụng lao động, do đó, có thể kiện một người lao động tại Nhật Bản chỉ khi người lao động cư trú tại Nhật Bản tại thời điểm nộp đơn khởi kiện.

Ba là, thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án Nhật Bản đối với các vụ việc về sở hữu trí tuệ

Theo Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011, Tòa án Nhật Bản có thẩm quyền xét xử riêng biệt đối với các vụ việc liên quan đến các yêu cầu về sự tồn tại hoặc giá trị quyền sở hữu trí tuệ phát sinh khi đăng ký theo quy định của pháp luật Nhật Bản[13]. Theo đó, các vấn đề liên quan đến việc đăng ký quyền sở hữu trí tuệ tại Nhật Bản sẽ là thẩm quyền độc quyền của Toà án Nhật Bản[14].

Bốn là, thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án Nhật Bản đối với các yêu cầu khởi kiện tập thể

Theo pháp luật Nhật Bản, trong trường hợp nộp nhiều yêu cầu mà hai hoặc nhiều yêu cầu khởi kiện được cho là có liên quan chặt chẽ với nhau có thể được đưa ra trong một vụ kiện duy nhất trước Tòa án Nhật Bản kể cả khi các Tòa án chỉ có thẩm quyền đối xét xử với một trong số các yêu cầu khởi kiện này[15].

Như vậy, có thể thấy với quy định này phạm vi thẩm quyền của Tòa án Nhật Bản là khá rộng, thẩm quyền xét xử đối với các yêu cầu khởi kiện tập thể như vậy có thể là bất ngờ khi một thực thể nước ngoài không có ý định tham gia vào vụ kiện ở Nhật Bản[16].

2.2. Thẩm quyền của Tòa án Nhật Bản theo sự thoả thuận của các bên

Theo quy định tại khoản 7 Điều 3 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011 thì các bên có quyền thỏa thuận lựa chọn Tòa án của bất kỳ nước nào để giải quyết tranh chấp giữ các bên. Thỏa thuận lựa chọn Tòa án phải được lập thành văn bản (trong trường hợp thông điệp dữ liệu không thể nhận biết được thì không được coi là thỏa thuận bằng văn bản và sẽ không có giá trị pháp lý). Cũng theo quy định này thì nếu như các bên có thỏa thuận lựa chọn Tòa án nước ngoài để giải quyết tranh chấp nhưng Tòa án nước ngoài từ chối thẩm quyền hoặc không thể thực hiện thẩm quyền xét xử thì được coi là Tòa án nước ngoài đó không có thẩm quyền[17].

Như đã phân tích ở trên thẩm quyền của Tòa án do các bên thỏa thuận cũng bị hạn chế trong hợp đồng lao động và hợp đồng tiêu dung[18].

Ngoài ra, đối với các tranh chấp về sở hữu trí tuệ Nhật Bản còn có Tòa án riêng biệt đặt tại Tokyo và Osaka.

3. Kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình sửa đổi, hoàn thiện pháp luật

Từ các phân tích ở trên cho thấy, hệ thống pháp luật Nhật Bản về thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài có nhiều quy định tiến bộ, phù hợp và tương thích với các công ước quốc tế. Theo đó, có thể rút ra một số bài học như sau:

Thứ nhất, Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 1996 (sửa đổi năm 2011) đã có những quy định mới trên cơ sở tham khảo pháp luật của một số quốc gia trên thế giới, cũng như tham khảo các Công ước của Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế. Quy định về xác định thẩm quyền của Tòa án trong hợp đồng đối với người tiêu dùng và người lao động là những quy định tiến bộ nhằm bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, người lao động vốn được coi là “yếu thế” hơn so với những chủ thể khác. Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì việc xác định thẩm quyền xét xử các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài trong hợp đồng tiêu dùng, hợp đồng lao động, sở hữu trí tuệ, các yêu cầu khởi kiện tập thể gần như chỉ căn cứ chủ yếu và tiêu chí nơi cư trú của bị đơn để xác định thẩm quyền của Tòa án mà chưa có những quy định cụ thể như vậy. Do đó, khi sửa đổi Bộ luật Tố tụng dân sự nên có quy định cụ thể xác định thẩm quyền xét xử của Tòa án theo tiêu chí nơi cư trú của người tiêu dùng trong hợp đồng tiêu dùng, người lao động trong hợp đồng lao động như quy định của pháp luật Nhật Bản. Đối với các tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ phải được đăng ký ở Việt Nam cần được quy định thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam.

Thứ hai, về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài, cũng giống như pháp luật Nhật Bản, pháp luật Việt Nam giao cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo nguyên tắc lãnh thổ. Tuy nhiên, pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam cũng nên có những sửa đổi theo hướng, đối với các tranh chấp phức tạp (ví dụ như các tranh chấp về sở hữu trí tuệ; công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài; công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài) cần đến trình độ chuyên môn và kinh nghiệm thì nên giao cho các Tòa án chuyên trách đặt tại các khu vực.

Thứ ba, pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam cũng có quy định về trường hợp thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam nếu các bên có thỏa thuận tại điểm c khoản 1 Điều 470 và trường hợp trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu hoặc đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài trong trường hợp đã có thỏa thuận trọng tài, thỏa thuận lựa chọn Tòa án nước ngoài giải quyết theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 472 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, quy định này còn chưa đề cập đến hình thức của thỏa thuận lựa chọn Tòa án và cũng chưa quy định về hạn chế hiệu lực của thỏa thuận lựa chọn Tòa án trong hợp đồng tiêu dùng và hợp đồng lao động. Theo đó, đối với trường hợp lựa chọn Tòa án, cũng cần quy định cụ thể về hình thức của thỏa thuận lựa chọn Tòa án giữa các bên. Thiết nghĩ, nên quy định thỏa thuận lựa chọn Tòa án để giải quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài phải được lập thành văn bản hoặc các hình thức có giá trị pháp lý tương đương. Cũng cần hạn chế hiệu lực của quy định về lựa chọn Tòa án trong các hợp đồng lao động và hợp đồng tiêu dùng, theo hướng người lao động, người tiêu dùng vẫn có thể khởi kiện người sử dụng lao động, thương nhân bán hàng ra Tòa án của quốc gia khác với Tòa án thỏa thuận trong hợp đồng chỉ trừ trường hợp người tiêu dùng, người lao động viện dẫn thỏa thuận hoặc đã khởi kiện tại Tòa án đã thỏa thuận trong hợp đồng.

ThS. Vũ Thị Hương

Đại học Luật thuộc Đại học Huế





[1]. Xem thêm khoản 1 Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam năm 2015.

[2]. Bộ luật này là luật sửa đổi, bổ sung quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 1996 của Nhật Bản, trong đó bổ sung các quy định về thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài.

[3]. Xem thêm khoản 2 Điều 3 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011.

[4]. Xem thêm khoản 3 Điều 3 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011.

[5]. Koki Yanagisawa and Hiroki Aoki (2012), Amendment of the Code of Civil Procedure: A question of jurisdiction, http://www.iflr.com/Article/3007237/Amendment-of-the-Code-of-CivilProcedure-A-question-of-jurisdiction.html.

[6]. Khoản 4 Điều 3 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011.

[7]. Xem đoạn 5 khoản 7 Điều 3 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011.

[8]. Xem điểm 5 khoản 7 Điều 3 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011.

[9]. Quy định này được dựa trên quan điểm rằng tại thời điểm ký kết hợp đồng tiêu dùng, hầu hết người tiêu dùng không chú ý tới điều khoản về thẩm quyền xét xử tranh chấp phát sinh từ hợp đồng và thậm chí nếu có chú ý, điều khoản này cũng gần như là không thể thương lượng. Vì vậy, có thể sẽ là không công bằng nếu buộc một người tiêu dùng phải nộp đơn khởi kiện tại Tòa án đã nêu trong thoả thuận như vậy (Yoko Maeda (2011), New Law on International Civil Jurisdiction in Japan and its impact on foreign corporations, International Bar Association Legal practice pision).

[10]. Xem thêm đoạn 2 khoản 4 Điều 3 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011.

[11]. Xem đoạn 6 khoản 7 Điều 3 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011.

[12]. Theo tiểu tiết ii điểm 6 khoản 7 Điều 3 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011.

[13]. Xem khoản 5 Điều 3 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011.

[14]. Koki Yanagisawa and Hiroki Aoki (2012), Amendment of the Code of Civil Procedure: A question of jurisdiction, http://www.iflr.com/Article/3007237/Amendment-of-the-Code-of-CivilProcedure-A-question-of-jurisdiction.html.

[15]. Xem khoản 6 Điều 3 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011.

[16]. Koki Yanagisawa and Hiroki Aoki (2012), Amendment of the Code of Civil Procedure: A question of jurisdiction, http://www.iflr.com/Article/3007237/Amendment-of-the-Code-of-CivilProcedure-A-question-of-jurisdiction.html.

[17]. Xem thêm quy định tại đoạn 1, 2, 3, 4 khoản 7 Điều 3 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011.

[18]. Xem thêm quy định tại đoạn 5, 6 khoản 7 Điều 3 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: