Thứ năm 12/03/2026 12:51
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài của Tòa án Việt Nam dưới góc nhìn so sánh

Tóm tắt: Trong bài viết này, tác giả phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, đối chiếu, so sánh với quy định của pháp luật Nhật Bản từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

Tóm tắt: Trong bài viết này, tác giả phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, đối chiếu, so sánh với quy định của pháp luật Nhật Bản từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

Abstract: In this paper, the author analyzes legal provisions of Vietnam on jurisdiction for civil cases involving foreign elements, in comparision with Japanese legal provisions, hence, draws experience for Vietnam.

1. Quy định của pháp luật Việt Nam về thẩm quyền xét xử các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài

Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam năm 2015, tại Phần thứ Tám, Chương XXXVIII quy định về thủ tục giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài từ Điều 464 đến Điều 481. Theo đó, một vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài có thể thuộc thẩm quyền xét xử chung hoặc thẩm quyền xét xử riêng biệt của Tòa án Việt Nam.

Vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam nghĩa là pháp luật Việt Nam quy định Tòa án Việt Nam có thẩm quyền xét xử, tuy nhiên nếu Tòa án nước ngoài xét xử vụ việc đó thì bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài có thể được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam. Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định những trường hợp thuộc thẩm quyền chung của Toà án Việt Nam, cụ thể: Vụ việc dân sự nếu bị đơn là cá nhân cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam. Trong trường hợp bị đơn là cơ quan tổ chức thì có trụ sở tại Việt Nam được xem là căn cứ để xác định thẩm quyền của Tòa án Việt Nam; vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài mà bị đơn có tài sản ở Việt Nam; vụ việc ly hôn mà nguyên đơn hoặc bị đơn là công dân Việt Nam hoặc các đương sự là người nước ngoài cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam. Đặc biệt, đối với vụ việc ly hôn thì chỉ cần một trong các bên là công dân Việt Nam thì Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết, ở đây dấu hiệu quốc tịch là căn cứ xác định thẩm quyền.

Ngoài các dấu hiệu về quốc tịch, nơi cư trú, nơi có trụ sở nêu trên thì dấu hiệu sự kiện pháp lý làm xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ hoặc dấu hiệu nơi có tài sản là đối tượng của quan hệ cũng được ghi nhận. Cụ thể, nếu có sự kiện pháp lý xảy ra ở Việt Nam và từ sự kiện đó quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được xác lập, thay đổi, chấm dứt thì vụ việc về quan hệ đó do Tòa án Việt Nam giải quyết.

Trường hợp khác là quan hệ liên quan đến tài sản mà tài sản lại đang tồn tại trên lãnh thổ Việt Nam hoặc công việc được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam thì Tòa án Việt Nam cũng có thẩm quyền. Nếu sự kiện pháp lý xảy ra ở nước ngoài nhưng các cá nhân, cơ quan, tổ chức Việt Nam có liên quan về quyền và nghĩa vụ hoặc các cá nhân này cư trú ở Việt Nam, các cơ quan tổ chức này có trụ sở ở Việt Nam thì Tòa án Việt Nam cũng có thẩm quyền giải quyết[1].

Khoản 2 Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cũng quy định: Sau khi xác định thẩm quyền của Tòa án Việt Nam theo quy định của Chương này, Tòa án áp dụng các quy định tại Chương III của Bộ luật này để xác định thẩm quyền của Tòa án cụ thể giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài.

Về thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam trong giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài được quy định tại Điều 470 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Theo đó, nếu thuộc trường hợp được quy định tại Điều 470 thì chỉ có Tòa án Việt Nam mới có thẩm quyền giải quyết, nếu Tòa án nước ngoài, Trọng tài nước ngoài, Trọng tài Việt Nam giải quyết thì bản án, quyết định đó sẽ không có giá trị pháp lý tại Việt Nam.

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cũng quy định những trường hợp Tòa án Việt Nam phải trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu hoặc đình chỉ giải quyết vụ án tại Điều 472 của Bộ luật. Theo đó, Toà án Việt Nam sẽ phải trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu hoặc đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài trong trường hợp đã có thỏa thuận trọng tài, thỏa thuận lựa chọn Tòa án nước ngoài hoặc đã có Tòa án nước ngoài, Trọng tài hoặc cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài giải quyết hoặc đương sự được hưởng quyền miễn trừ tư pháp.

2. Quy định của pháp luật Nhật Bản về thẩm quyền xét xử các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài

Năm 1996, Nhật Bản ban hành Bộ luật Tố tụng dân sự, tuy nhiên, Bộ luật này không quy định về xác định thẩm quyền dân sự quốc tế của Nhật Bản mà chỉ có quy định về thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự trong nước. Để xác định thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, Tòa án Nhật Bản căn cứ vào các án lệ của Tòa án tối cao và các quy định suy ra từ thẩm quyền trong nước của Tòa án. Đến năm 2011, Luật Sửa đổi, bổ sung một số phần của Bộ luật Tố tụng dân sự và biện pháp khắc phục hậu quả tạm thời của Luật Dân sự (số 36) được ban hành ngày 02/5/2011 và có hiệu lực vào ngày 01/4/2012[2] (sau đây gọi là Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011), những quy định về thẩm quyền xét xử các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài mới được ghi nhận cụ thể trong Bộ luật này.

Về cơ bản, các quy tắc mới trong Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011 tuân theo những tiền lệ được thiết lập bởi Tòa án tối cao. Việc xác định thẩm quyền xét xử các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài tương tự như việc xác định thẩm quyền xét xử các vụ việc trong nước. Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011 còn chứa đựng các quy định liên quan đến việc xác định thẩm quyền xét xử đặc biệt đối với các trường hợp liên quan đến hợp đồng tiêu dùng và quan hệ lao động, được thiết kế để bảo vệ người tiêu dùng và người lao động trong mối quan hệ với các thực thể kinh doanh và người sử dụng lao động. Tòa án của Nhật Bản sẽ có thẩm quyền xét xử chung đối với vụ việc nếu bị đơn là tự nhiên nhân có nơi cư trú tại Nhật Bản, hoặc là một pháp nhân có trụ sở chính tại Nhật Bản[3].

Theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011 thì khi Tòa án Nhật Bản không có thẩm quyền xét xử chung với một vụ việc nhưng nếu trong vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài xuất hiện những cơ sở sau đây Tòa án Nhật Bản có thể thực hiện thẩm quyền xét xử đặc biệt (thẩm quyền xét xử hạn chế).

Thứ nhất, đối với các yêu cầu khởi kiện liên quan đến nghĩa vụ theo hợp đồng, nếu địa điểm thực hiện nghĩa vụ là tại Nhật Bản.

Thứ hai, đối với các yêu cầu thanh toán bằng tiền mặt của hóa đơn hoặc séc, Toà án Nhật Bản cũng có thẩm quyền giải quyết khi địa điểm thanh toán hóa đơn hoặc séc ở Nhật Bản.

Thứ ba, đối với các yêu cầu khởi kiện liên quan đến quyền sở hữu, nếu tài sản có thể tịch thu được của bị đơn được đặt tại Nhật Bản, các Tòa án Nhật Bản có thể thực hiện thẩm quyền xét xử đối với các vụ kiện có yêu cầu khởi kiện như vậy trừ khi giá trị tài sản có thể tịch thu được là rất thấp.

Thứ tư, khi pháp nhân nước ngoài có văn phòng kinh doanh ở Nhật Bản, các Tòa án Nhật Bản có thể thực hiện thẩm quyền xét xử đối với các vụ kiện liên quan đến hoạt động kinh doanh của văn phòng kinh doanh này. Nếu như văn phòng này đặt tại Nhật Bản tiến hành hoạt động kinh doanh ở nước ngoài, một yêu cầu khởi kiện liên quan đến hoạt động kinh doanh ở nước ngoài của văn phòng này cũng sẽ được xét xử tại một Tòa án Nhật Bản.

Thứ năm, thẩm quyền xét xử đối với một hoạt động kinh doanh. Ngay cả khi một thực thể nước ngoài không có một văn phòng kinh doanh ở Nhật Bản, một Tòa án Nhật Bản có thể thực hiện thẩm quyền trong trường hợp có đơn kiện chống lại thực thể đó liên quan đến hoạt động kinh doanh của nó tại Nhật Bản.

Thứ sáu, nếu một hành vi vi phạm diễn ra ở Nhật Bản hoặc kết quả của hành vi gây ra thiệt hại ở Nhật Bản, các Tòa án Nhật Bản có thể thực hiện thẩm quyền đối với các vụ kiện đòi bồi thường liên quan đến các hành vi vi phạm đó (ngoại trừ trường hợp không thể lường trước được hành vi vi phạm tiến hành ở nước ngoài đó sẽ được gây ra thiệt hại tại Nhật Bản)[4].

Thứ bảy, một Tòa án Nhật Bản có thể thực hiện thẩm quyền đối với các yêu cầu khởi kiện liên quan đến bất động sản đặt tại Nhật Bản. Đặc biệt, một khiếu nại liên quan đến việc đăng ký bất động sản tại Nhật Bản sẽ thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Nhật Bản[5].

Thứ tám, Tòa án Nhật Bản có thẩm quyền giải quyết đối với các tranh chấp thừa kế nếu người để lại di sản thừa kế có nơi cư trú tại Nhật Bản, nếu không có nơi cư trú hoặc không xác định được nơi cư trú thì chỉ cần trước khi chết người để lại di sản đã từng cư trú tại Nhật Bản.

2.1. Thẩm quyền của Tòa án trong một số trường hợp cụ thể

Một là, thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án Nhật Bản đối với hợp đồng tiêu dùng

Theo đoạn 1 khoản 4 Điều 3 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011 thì một vụ kiện được đưa ra bởi một người tiêu dùng đối với một thương nhân (hợp đồng tiêu dùng) có thể được nộp đơn tại các Tòa án của Nhật Bản nếu tại thời điểm nộp đơn khởi kiện hoặc tại thời điểm ký kết hợp đồng người tiêu dùng có nơi cư trú tại Nhật Bản. Một thương nhân nước ngoài có thể bị kiện không chỉ khi thương nhân đó ký kết hợp đồng với người tiêu dùng sống ở Nhật Bản, mà cả khi ký kết hợp đồng với một người tiêu dùng sống bên ngoài Nhật Bản tại thời điểm ký kết hợp đồng và sau đó chuyển vào Nhật Bản. Vì vậy, thương nhân nước ngoài có thể bị kiện tại Tòa án Nhật Bản một khi thương nhân tiến hành kinh doanh với người tiêu dùng hiện cư trú tại Nhật Bản[6].

Trong khi một thương nhân có thể thỏa thuận trước với người tiêu dùng để hạn chế thẩm quyền xét xử của Tòa án nơi cư trú của người tiêu dùng tại thời điểm ký kết các thỏa thuận, người tiêu dùng vẫn có quyền kiện các thương nhân tại các nước khác. Mặc dù các thỏa thuận về thẩm quyền được coi là hợp lệ về nguyên tắc, các thỏa thuận về thẩm quyền trong hợp đồng tiêu dùng vẫn bị hạn chế hiệu lực[7].

Các vụ kiện được khởi xướng bởi một thương nhân chống lại một người tiêu dùng theo quy định tại đoạn 3 khoản 4 Điều 3. Theo đó, nếu vụ kiện được khởi sướng bởi một thương nhân chống lại người tiêu dùng, thẩm quyền của Toà án chỉ có thể căn cứ vào nơi cư trú của bị đơn để xác định trừ trường hợp có thoả thuận khác giữa các thương nhân và người tiêu dùng (tuy nhiên, như sẽ nêu dưới đây, ngay cả khi người tiêu dùng và các thương nhân đã thoả thuận về thẩm quyền, một điều khoản như vậy sẽ có hiệu lực hạn chế)[8].

Thoả thuận về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đối với hợp đồng tiêu dùng. Theo tiểu tiết (i) điểm 5 khoản 7 Điều 3 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011, ngay cả khi một thương nhân đã ký kết một thỏa thuận với người tiêu dùng về thẩm quyền xét xử riêng biệt của Tòa án mà theo đó vụ kiện chỉ có thể được nộp đơn tới một Tòa án tại quốc gia nơi thương nhân đặt trụ sở, thì thoả thuận này cũng bị hạn chế hiệu lực[9].

Hai là, thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án Nhật Bản đối với hợp đồng lao động

Theo quy định tại đoạn 2 khoản 4 Điều 3 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011, Tòa án Nhật Bản có thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế đối với các trường hợp liên quan đến yêu cầu khởi kiện của người lao động đối với người sử dụng lao động nếu người lao động cung cấp sức lao động tại Nhật Bản[10].

Trong khi người sử dụng lao động có thể, khi chấm dứt hợp đồng lao động, tham gia vào một thỏa thuận với người lao động để hạn chế thẩm quyền xét xử đối với nơi người lao động làm việc vào cuối thời hạn sử dụng lao động, người lao động vẫn có quyền kiện người sử dụng lao động tại Tòa án khác và tất nhiên trong trường hợp này, người sử dụng lao động cũng không thể viện lí do các bên đã có thỏa thuận chọn Toà án trong hợp đồng để phản đối thẩm quyền của Toà án. Trong trường hợp này hiệu lực của quy định về lựa chọn Tòa án trong các hợp đồng lao động bị hạn chế[11], chỉ trừ khi người lao động viện dẫn thoả thuận chọn Toà án hoặc người lao động đã khởi kiện tại Toà án đã thoả thuận trong hợp đồng lao động[12].

Các vụ kiện được khởi xướng bởi người sử dụng lao động chống lại người lao động theo quy định tại đoạn 3 khoản 4 Điều 3, cũng giống như với hợp đồng tiêu dùng, thẩm quyền của Toà án chỉ có thể căn cứ vào nơi cư trú của bị đơn để xác định trừ trường hợp có thỏa thuận khác giữa người sử dụng lao động và người lao động. Người sử dụng lao động, do đó, có thể kiện một người lao động tại Nhật Bản chỉ khi người lao động cư trú tại Nhật Bản tại thời điểm nộp đơn khởi kiện.

Ba là, thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án Nhật Bản đối với các vụ việc về sở hữu trí tuệ

Theo Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011, Tòa án Nhật Bản có thẩm quyền xét xử riêng biệt đối với các vụ việc liên quan đến các yêu cầu về sự tồn tại hoặc giá trị quyền sở hữu trí tuệ phát sinh khi đăng ký theo quy định của pháp luật Nhật Bản[13]. Theo đó, các vấn đề liên quan đến việc đăng ký quyền sở hữu trí tuệ tại Nhật Bản sẽ là thẩm quyền độc quyền của Toà án Nhật Bản[14].

Bốn là, thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án Nhật Bản đối với các yêu cầu khởi kiện tập thể

Theo pháp luật Nhật Bản, trong trường hợp nộp nhiều yêu cầu mà hai hoặc nhiều yêu cầu khởi kiện được cho là có liên quan chặt chẽ với nhau có thể được đưa ra trong một vụ kiện duy nhất trước Tòa án Nhật Bản kể cả khi các Tòa án chỉ có thẩm quyền đối xét xử với một trong số các yêu cầu khởi kiện này[15].

Như vậy, có thể thấy với quy định này phạm vi thẩm quyền của Tòa án Nhật Bản là khá rộng, thẩm quyền xét xử đối với các yêu cầu khởi kiện tập thể như vậy có thể là bất ngờ khi một thực thể nước ngoài không có ý định tham gia vào vụ kiện ở Nhật Bản[16].

2.2. Thẩm quyền của Tòa án Nhật Bản theo sự thoả thuận của các bên

Theo quy định tại khoản 7 Điều 3 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011 thì các bên có quyền thỏa thuận lựa chọn Tòa án của bất kỳ nước nào để giải quyết tranh chấp giữ các bên. Thỏa thuận lựa chọn Tòa án phải được lập thành văn bản (trong trường hợp thông điệp dữ liệu không thể nhận biết được thì không được coi là thỏa thuận bằng văn bản và sẽ không có giá trị pháp lý). Cũng theo quy định này thì nếu như các bên có thỏa thuận lựa chọn Tòa án nước ngoài để giải quyết tranh chấp nhưng Tòa án nước ngoài từ chối thẩm quyền hoặc không thể thực hiện thẩm quyền xét xử thì được coi là Tòa án nước ngoài đó không có thẩm quyền[17].

Như đã phân tích ở trên thẩm quyền của Tòa án do các bên thỏa thuận cũng bị hạn chế trong hợp đồng lao động và hợp đồng tiêu dung[18].

Ngoài ra, đối với các tranh chấp về sở hữu trí tuệ Nhật Bản còn có Tòa án riêng biệt đặt tại Tokyo và Osaka.

3. Kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình sửa đổi, hoàn thiện pháp luật

Từ các phân tích ở trên cho thấy, hệ thống pháp luật Nhật Bản về thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài có nhiều quy định tiến bộ, phù hợp và tương thích với các công ước quốc tế. Theo đó, có thể rút ra một số bài học như sau:

Thứ nhất, Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 1996 (sửa đổi năm 2011) đã có những quy định mới trên cơ sở tham khảo pháp luật của một số quốc gia trên thế giới, cũng như tham khảo các Công ước của Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế. Quy định về xác định thẩm quyền của Tòa án trong hợp đồng đối với người tiêu dùng và người lao động là những quy định tiến bộ nhằm bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, người lao động vốn được coi là “yếu thế” hơn so với những chủ thể khác. Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì việc xác định thẩm quyền xét xử các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài trong hợp đồng tiêu dùng, hợp đồng lao động, sở hữu trí tuệ, các yêu cầu khởi kiện tập thể gần như chỉ căn cứ chủ yếu và tiêu chí nơi cư trú của bị đơn để xác định thẩm quyền của Tòa án mà chưa có những quy định cụ thể như vậy. Do đó, khi sửa đổi Bộ luật Tố tụng dân sự nên có quy định cụ thể xác định thẩm quyền xét xử của Tòa án theo tiêu chí nơi cư trú của người tiêu dùng trong hợp đồng tiêu dùng, người lao động trong hợp đồng lao động như quy định của pháp luật Nhật Bản. Đối với các tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ phải được đăng ký ở Việt Nam cần được quy định thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam.

Thứ hai, về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài, cũng giống như pháp luật Nhật Bản, pháp luật Việt Nam giao cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo nguyên tắc lãnh thổ. Tuy nhiên, pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam cũng nên có những sửa đổi theo hướng, đối với các tranh chấp phức tạp (ví dụ như các tranh chấp về sở hữu trí tuệ; công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài; công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài) cần đến trình độ chuyên môn và kinh nghiệm thì nên giao cho các Tòa án chuyên trách đặt tại các khu vực.

Thứ ba, pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam cũng có quy định về trường hợp thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam nếu các bên có thỏa thuận tại điểm c khoản 1 Điều 470 và trường hợp trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu hoặc đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài trong trường hợp đã có thỏa thuận trọng tài, thỏa thuận lựa chọn Tòa án nước ngoài giải quyết theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 472 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, quy định này còn chưa đề cập đến hình thức của thỏa thuận lựa chọn Tòa án và cũng chưa quy định về hạn chế hiệu lực của thỏa thuận lựa chọn Tòa án trong hợp đồng tiêu dùng và hợp đồng lao động. Theo đó, đối với trường hợp lựa chọn Tòa án, cũng cần quy định cụ thể về hình thức của thỏa thuận lựa chọn Tòa án giữa các bên. Thiết nghĩ, nên quy định thỏa thuận lựa chọn Tòa án để giải quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài phải được lập thành văn bản hoặc các hình thức có giá trị pháp lý tương đương. Cũng cần hạn chế hiệu lực của quy định về lựa chọn Tòa án trong các hợp đồng lao động và hợp đồng tiêu dùng, theo hướng người lao động, người tiêu dùng vẫn có thể khởi kiện người sử dụng lao động, thương nhân bán hàng ra Tòa án của quốc gia khác với Tòa án thỏa thuận trong hợp đồng chỉ trừ trường hợp người tiêu dùng, người lao động viện dẫn thỏa thuận hoặc đã khởi kiện tại Tòa án đã thỏa thuận trong hợp đồng.

ThS. Vũ Thị Hương

Đại học Luật thuộc Đại học Huế





[1]. Xem thêm khoản 1 Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam năm 2015.

[2]. Bộ luật này là luật sửa đổi, bổ sung quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 1996 của Nhật Bản, trong đó bổ sung các quy định về thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài.

[3]. Xem thêm khoản 2 Điều 3 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011.

[4]. Xem thêm khoản 3 Điều 3 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011.

[5]. Koki Yanagisawa and Hiroki Aoki (2012), Amendment of the Code of Civil Procedure: A question of jurisdiction, http://www.iflr.com/Article/3007237/Amendment-of-the-Code-of-CivilProcedure-A-question-of-jurisdiction.html.

[6]. Khoản 4 Điều 3 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011.

[7]. Xem đoạn 5 khoản 7 Điều 3 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011.

[8]. Xem điểm 5 khoản 7 Điều 3 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011.

[9]. Quy định này được dựa trên quan điểm rằng tại thời điểm ký kết hợp đồng tiêu dùng, hầu hết người tiêu dùng không chú ý tới điều khoản về thẩm quyền xét xử tranh chấp phát sinh từ hợp đồng và thậm chí nếu có chú ý, điều khoản này cũng gần như là không thể thương lượng. Vì vậy, có thể sẽ là không công bằng nếu buộc một người tiêu dùng phải nộp đơn khởi kiện tại Tòa án đã nêu trong thoả thuận như vậy (Yoko Maeda (2011), New Law on International Civil Jurisdiction in Japan and its impact on foreign corporations, International Bar Association Legal practice pision).

[10]. Xem thêm đoạn 2 khoản 4 Điều 3 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011.

[11]. Xem đoạn 6 khoản 7 Điều 3 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011.

[12]. Theo tiểu tiết ii điểm 6 khoản 7 Điều 3 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011.

[13]. Xem khoản 5 Điều 3 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011.

[14]. Koki Yanagisawa and Hiroki Aoki (2012), Amendment of the Code of Civil Procedure: A question of jurisdiction, http://www.iflr.com/Article/3007237/Amendment-of-the-Code-of-CivilProcedure-A-question-of-jurisdiction.html.

[15]. Xem khoản 6 Điều 3 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011.

[16]. Koki Yanagisawa and Hiroki Aoki (2012), Amendment of the Code of Civil Procedure: A question of jurisdiction, http://www.iflr.com/Article/3007237/Amendment-of-the-Code-of-CivilProcedure-A-question-of-jurisdiction.html.

[17]. Xem thêm quy định tại đoạn 1, 2, 3, 4 khoản 7 Điều 3 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011.

[18]. Xem thêm quy định tại đoạn 5, 6 khoản 7 Điều 3 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 2011.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: