Thứ hai 21/09/2026 18:19
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế giữa nhà đầu tư nước ngoài và quốc gia tiếp nhận đầu tư

Bài viết này sẽ làm rõ những đặc trưng cơ bản của tranh chấp đầu tư quốc tế giữa nhà đầu tư nước ngoài và quốc gia tiếp nhận đầu tư (ISDS) và thẩm quyền giải quyết tranh chấp ISDS trong sự phân tích các tranh chấp cụ thể.

1. Nhận diện tranh chấp đầu tư quốc tế giữa nhà đầu tư nước ngoài và quốc gia tiếp nhận đầu tư

Tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và quốc gia tiếp nhận đầu tư (ISDS) là những mâu thuẫn, bất đồng về quyền và nghĩa vụ giữa nhà đầu tư nước ngoài và Chính phủ nước tiếp nhận đầu tư, phát sinh từ các hiệp định có liên quan đến đầu tư quốc tế, hiệp định bảo hộ đầu tư hoặc hợp đồng, thỏa thuận đầu tư. Trong lĩnh vực đầu tư quốc tế, tranh chấp ISDS được coi là dạng tranh chấp đặc biệt và khác biệt so với các tranh chấp thương mại quốc tế nói chung và các tranh chấp đầu tư quốc tế khác nói riêng.

Thứ nhất, bên khởi kiện: Trong tranh chấp ISDS, bên khởi kiện luôn là nhà đầu tư nước ngoài (thể nhân hoặc pháp nhân). Nhà đầu tư có thể khiếu nại nhân danh “khoản đầu tư” hoặc nhân danh chính bản thân với tư cách bị thiệt hại[1]. Theo Hội nghị Liên Hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD), thuật ngữ “nhà đầu tư nước ngoài” được hiểu và giải thích một cách rộng rãi là các cá nhân, tổ chức mang quốc tịch của một nước, tiến hành các hoạt động đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp ở một nước khác khi giữa các nước này có những cam kết về hợp tác đầu tư kinh doanh với nhau[2]. Tuy nhiên, không phải mọi cá nhân hay tổ chức nước ngoài đều được gọi là nhà đầu tư nước ngoài. Pháp luật Việt Nam quy định: “Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam”[3]. Để được tiến hành các hoạt động đầu tư, nhà đầu tư nước ngoài còn phải đáp ứng các điều kiện theo pháp luật của quốc gia tiếp nhận đầu tư[4].

Đối với nhà đầu tư là thể nhân, các hiệp định đầu tư quốc tế (IIA) thường quy định mối liên hệ cần thiết giữa một cá nhân với một bên ký kết chủ yếu trên cơ sở quốc tịch hoặc rộng hơn là nơi thường trú. Tuy nhiên, việc xác định quốc tịch của nhà đầu tư nước ngoài không hề dễ dàng trong trường hợp pháp luật quốc gia cho phép nhà đầu tư có nhiều hơn một quốc tịch hoặc trường hợp một trong số các quốc tịch của nhà đầu tư trùng với quốc tịch của quốc gia tiếp nhận đầu tư. Hiện nay, các hiệp định đầu tư song phương (BIT) có xu hướng điều chỉnh về vấn đề này, ví dụ như Điều 9.1 Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) quy định: “Trường hợp nhà đầu tư là thể nhân thường trú tại một bên và có quốc tịch của bên khác, thể nhân đó không được trình khiếu kiện ra trọng tài đối với bên mà thể nhân mang quốc tịch”. Các hội đồng trọng tài (HĐTT) của Trung tâm quốc tế về giải quyết tranh chấp đầu tư (ICSID) đã áp dụng điều khoản này để từ chối thẩm quyền xét xử khi nhà đầu tư mang quốc tịch của quốc gia tiếp nhận đầu tư[5].

Đối với nhà đầu tư là pháp nhân, việc xác định quốc tịch của nhà đầu tư là pháp nhân phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Trụ sở, nơi thành lập, các yếu tố về vốn, nơi quản lý điều hành… hoặc được xác định theo pháp luật của bên ký kết. Một số IIA còn định nghĩa nhà đầu tư bao gồm pháp nhân hoạt động ở quốc gia thứ ba hoặc ở quốc gia tiếp nhận đầu tư, được sở hữu và kiểm soát bởi công dân của quốc gia mà nhà đầu tư mang quốc tịch[6]. Để một pháp nhân được hiệp định đầu tư bảo hộ, hầu hết hiệp định đầu tư đều quy định pháp nhân phải đáp ứng một trong ba điều kiện: (i) Là pháp nhân của nước bên ký kết; (ii) Có trụ sở chính, hoạt động kinh doanh chính ở nước ký kết; (iii) Được kiểm soát hoặc sở hữu bởi công dân nước ký kết[7].

Thứ hai, bên bị kiện: Về bị đơn, bên bị kiện là nhà nước (Chính phủ) tiếp nhận đầu tư hoặc cơ quan nhà nước có liên quan. Chính phủ nước tiếp nhận đầu tư trong tranh chấp chính là các cơ quan được nhà nước giao quyền, chức năng và nhiệm vụ để thay mặt Chính phủ quản lý hoạt động đầu tư nước ngoài khi họ đầu tư vào nước mình. Trong pháp luật quốc tế, quốc gia luôn được coi là một chủ thể đặc biệt bởi quyền miễn trừ tư pháp. Khi quốc gia tiếp nhận đầu tư từ bỏ quyền miễn trừ tư pháp, quốc gia đó có thể bị khởi kiện và xét xử tại cơ quan tài phán có thẩm quyền, nếu có vi phạm, gây thiệt hại cho nhà đầu tư nước ngoài, quốc gia sẽ phải bồi thường theo phán quyết của cơ quan tài phán đó.

Theo cơ chế ISDS, các quốc gia tiếp nhận đầu tư luôn là bị đơn và các nhà đầu tư nước ngoài luôn là nguyên đơn trong các vụ kiện. Nguyên nhân xuất phát từ đặc điểm các quốc gia tiếp nhận đầu tư đều đã xây dựng hệ thống quy định pháp luật trong nước và các nguyên tắc cơ bản để các nhà đầu tư nước ngoài khi tiến hành đầu tư phải tuân thủ. Bên cạnh đó, quốc gia tiếp nhận đầu tư đã xây dựng những quy định về việc khởi kiện ra Tòa án, biện pháp xử lý hành chính… Đây là công cụ để quốc gia đối phó với những trường hợp nhà đầu tư vi phạm hợp đồng đầu tư, chính sách của quốc gia sở tại. Cơ chế ISDS ra đời để bảo vệ nhà đầu tư nước ngoài khi quốc gia tiếp nhận đầu tư không thực hiện theo đúng các cam kết đã đề ra.

Thực tế cho thấy, trong quá trình tiến hành đầu tư và vận hành khoản đầu tư tại quốc gia sở tại, nhà đầu tư có thể làm phương hại đến lợi ích của quốc gia tiếp nhận đầu tư, chẳng hạn như xâm phạm lợi ích công cộng, vấn đề bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khỏe cộng đồng, bảo vệ quyền con người, bảo vệ di sản văn hóa… Các nhà đầu tư nước ngoài không phải là chủ thể ký kết các IIA, do vậy, trong trường hợp này, quốc gia tiếp nhận đầu tư có quyền phản tố ngược lại đối với nhà đầu tư nước ngoài. Trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp ISDS, quyền phản tố được ghi nhận như một quyền tố tụng trong các bộ quy tắc trọng tài[8]. Trường hợp nhà đầu tư kiện Chính phủ nước tiếp nhận đầu tư ra trọng tài, quyền phản tố của nhà nước chính là quyền của Chính phủ nước tiếp nhận đầu tư đưa ra yêu cầu phản tố đối với nhà đầu tư trong cùng quy trình tố tụng.

Thứ ba, cơ sở phát sinh tranh chấp: So với các tranh chấp thương mại quốc tế (tranh chấp phát sinh giữa thương nhân nước ngoài và quốc gia) khi cơ sở pháp lý của tranh chấp được căn cứ theo hợp đồng thương mại quốc tế được ký kết giữa các bên, các tranh chấp ISDS thường nảy sinh khi có sự mâu thuẫn, bất đồng giữa các bên liên quan đến khoản đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài tại quốc gia tiếp nhận đầu tư theo quy định của: (i) Pháp luật đầu tư của quốc gia tiếp nhận đầu tư; (ii) Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư hoặc chương về đầu tư trong các hiệp định thương mại song phương và khu vực; (iii) Hợp đồng giữa nhà nước hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền ký với nhà đầu tư.

Hiện nay, trong khi các cơ chế giải quyết tranh chấp khác đều dựa trên mô hình hiệp ước nhất định thì cơ sở pháp lý của ISDS được đánh giá là phức tạp và đa dạng hơn khi được quy định trong các điều khoản tại hơn 3.000 điều ước về đầu tư[9], trong các điều ước quốc tế (Công ước về giải quyết tranh chấp đầu tư giữa các quốc gia và các công dân quốc gia khác (Công ước ICSID) và Công ước New York năm 1958 về công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài) và các quy tắc trọng tài. Trên thực tế, việc xác định yêu cầu khởi kiện được căn cứ theo hợp đồng hay các hiệp định liên quan đến “điều khoản bao trùm”. “Điều khoản bao trùm” thường được tìm thấy ở cuối một số điều ước quốc tế về đầu tư, trong đó quy định rằng, các điều khoản và đặc quyền được các bên thỏa thuận trong hợp đồng đầu tư sẽ được điều ước quốc tế về đầu tư bảo vệ[10].

Thứ tư, nội dung tranh chấp: Khi nhà đầu tư nước ngoài khởi kiện quốc gia tiếp nhận đầu tư, nhà đầu tư sẽ phải chỉ ra các biện pháp cấu thành vi phạm của quốc gia tiếp nhận đầu tư. Để bảo vệ nhà đầu tư nước ngoài và tài sản của họ khỏi ảnh hưởng của những rủi ro chính trị từ quốc gia tiếp nhận đầu tư, các hiệp định (chương) đầu tư thường quy định các nghĩa vụ “đối xử” hay nói cách khác là các nguyên tắc đối xử với nhà đầu tư nước ngoài mà quốc gia tiếp nhận đầu tư cần phải bảo đảm thực hiện. Từ đó, nội dung của tranh chấp ISDS thường liên quan đến các nghĩa vụ của quốc gia tiếp nhận đầu tư theo IIA, BIT và các hiệp định thương mại tự do (FTA) bao gồm một số nguyên tắc cơ bản như: (i) Bảo hộ an toàn và an ninh đầy đủ; (ii) Đối xử công bằng và thỏa đáng; (iii) Không phân biệt đối xử; (iv) Bảo đảm chuyển dịch tiền tự do; (v) Tước quyền sở hữu (tịch thu tài sản).

2. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế giữa nhà đầu tư nước ngoài và quốc gia tiếp nhận đầu tư

2.1. Thẩm quyền về phạm vi, nội dung tranh chấp

Để xác định thẩm quyền đối với các tranh chấp ISDS, trên thực tế, các cơ quan tài phán thường xác định liệu khoản đầu tư và nhà đầu tư trong tranh chấp có thuộc phạm vi điều chỉnh của hiệp định đầu tư được viện dẫn hay không. Theo quy định tại Điều 25.1 Công ước ICSID: “Thẩm quyền của trung tâm ICSID sẽ giải quyết bất kỳ tranh chấp pháp lý nào phát sinh trực tiếp từ một khoản đầu tư…”. Các văn bản của Công ước ICSID không đưa ra định nghĩa cụ thể về thuật ngữ “tranh chấp pháp lý”. Trong hầu hết các IIA thường đưa ra khái niệm “khoản đầu tư” là tất cả các loại tài sản[11]. Theo án lệ của Trung tâm ICSID, đặc điểm của các khoản đầu tư bao gồm: Các cam kết về vốn hoặc các nguồn khác, khoảng thời gian nhất định, các rủi ro tiềm ẩn, có thể đóng góp vào sự phát triển kinh tế của quốc gia sở tại[12] và có thể thực hiện theo luật của quốc gia sở tại[13].

Như vậy, không phải tất cả các tranh chấp phát sinh giữa nhà đầu tư nước ngoài và quốc gia tiếp nhận đầu tư đều giải quyết theo cơ chế ISDS được quy định trong các BIT. Trong các hợp đồng, thỏa thuận đầu tư được ký kết giữa nhà đầu tư nước ngoài và Chính phủ nước tiếp nhận đầu tư cũng có thể giải thích thuật ngữ “đầu tư” để áp dụng riêng cho hợp đồng, thỏa thuận đó[14]. Các điều kiện để nhà đầu tư có thể sử dụng cơ chế ISDS có thể bao gồm việc vi phạm các cam kết trong BIT, vi phạm các nghĩa vụ cụ thể thuộc phạm vi giải quyết tranh chấp của cơ chế ISDS, vi phạm các thỏa thuận trong hợp đồng giữa Chính phủ nước tiếp nhận đầu tư với nhà đầu tư nước ngoài hoặc ủy thác đầu tư[15]. Thông thường, thẩm quyền giải quyết tranh chấp ISDS của các cơ quan tài phán sẽ được xác định dựa trên các yếu tố như: (i) Tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực đầu tư quốc tế; (ii) Là tranh chấp pháp lý; (iii) Tranh chấp thuộc phạm vi về khoản đầu tư[16] theo các BIT, FTA, IIA và theo các cơ chế ISDS mà các bên lựa chọn; (iv) Tranh chấp liên quan (trực tiếp hoặc gián tiếp) đến các bên.

Tuy nhiên, chỉ căn cứ vào khái niệm về đầu tư để xác định tranh chấp đầu tư trong ISDS là chưa đủ bởi một số BIT, IIA hoặc các chương đầu tư trong các FTA giới hạn phạm vi tranh chấp đầu tư để giải quyết mà không mở rộng ra tất cả các tranh chấp đầu tư phát sinh giữa nhà đầu tư nước ngoài và Chính phủ nước tiếp nhận đầu tư. Điều 8.1 BIT Vương quốc Anh - Cộng hòa Séc quy định, phạm vi đệ trình tranh chấp ISDS lên trọng tài quốc tế chỉ liên quan đến các nghĩa vụ được quy định tại Điều 2.3 (giải quyết các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng được ký kết giữa nhà đầu tư và quốc gia sở tại), Điều 4 (bồi thường thiệt hại từ xung đột vũ trang, tình trạng khẩn cấp quốc gia hoặc rối loạn dân sự), Điều 5 (quốc hữu hóa tài sản) và Điều 6 (tự do chuyển nhượng đầu tư và lợi nhuận). Do đó, trong vụ tranh chấp A11Y LTD. v. Czech Republic, HĐTT đã phân tích phạm vi này và chỉ rõ, thẩm quyền của trọng tài sẽ không phát sinh từ việc vi phạm nghĩa vụ khác trong BIT ngoài 04 nghĩa vụ nêu trên; HĐTT không có thẩm quyền đối với các yêu cầu bồi thường của nguyên đơn theo Điều 2.2, Điều 3 BIT[17].

2.2. Thẩm quyền về mặt thời gian

Hầu hết, các BIT đều quy định cơ quan giải quyết tranh chấp chỉ có thẩm quyền đối với các tranh chấp ISDS phát sinh từ khi BIT có hiệu lực[18]. Theo thông lệ quốc tế, các quy định này được xây dựng trên nguyên tắc của tính không hồi tố[19]. Nguyên tắc không hồi tố có nghĩa là một điều ước, chẳng hạn như BIT có thể không ràng buộc một quốc gia thành viên liên quan đến bất kỳ hành động hoặc sự kiện nào đã diễn ra hoặc không còn tồn tại trước ngày BIT đó có hiệu lực (trừ khi BIT có quy định khác)[20]. Trong trường hợp các BIT được áp dụng tạm thời trước khi BIT đó có hiệu lực, nguyên tắc của tính không hồi tố tương tự sẽ được áp dụng: Một quốc gia thành viên không bị ràng buộc về bất kỳ hành động nào đã diễn ra hoặc chấm dứt trước ngày BIT được áp dụng tạm thời, nhưng bị ràng buộc ngay sau đó[21].

Trong một số trường hợp, nguyên tắc của tính không hồi tố yêu cầu xác định thời điểm nguyên nhân của hành động xảy ra, HĐTT chỉ xác lập thẩm quyền với các nguyên nhân của các hành động xảy ra sau khi BIT có hiệu lực, mặc dù, hiệp định đó áp dụng rõ ràng cho các khoản đầu tư được thực hiện trước khi hiệp định có hiệu lực[22]. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, các sự kiện hoặc hành vi của quốc gia tiếp nhận đầu tư xảy ra trước khi BIT có hiệu lực cũng có thể bị xem xét nếu hành vi đó được thực hiện với mục đích thiết lập các vi phạm xảy ra sau đó. Trong vụ Mondev International Ltd v. United States of America, HĐTT cho rằng, các sự kiện hoặc hành vi trước khi nghĩa vụ có hiệu lực đối với quốc gia bị đơn có thể liên quan đến việc xác định liệu quốc gia đó sau đó có vi phạm nghĩa vụ hay không, nhưng vẫn có thể chỉ ra hành vi của quốc gia sau ngày đó mà bản thân nó là một hành vi vi phạm[23].

Mặt khác, sau khi BIT có hiệu lực, nghĩa vụ của quốc gia tiếp nhận đầu tư đối với bất kỳ nhà đầu tư cụ thể nào chỉ phát sinh sau ngày đầu tư của nhà đầu tư đủ điều kiện. Trong vụ ST-AD GmbH v Republic of Bulgaria, HĐTT kết luận rằng, BIT không thể được áp dụng cho các hành vi do một quốc gia thực hiện trước khi nguyên đơn đầu tư vào nước sở tại[24]. Tuy nhiên, trên thực tế, vẫn có một số trường hợp ngoại lệ, khi cơ quan xét xử công nhận nguyên tắc hồi tố trong các BIT. Trong vụ Hrvatska Elektroprivreda d.d. v. Republic of Slovenia, đa số thành viên của HĐTT xem xét BIT Croatia và Slovenia liên quan đến các thỏa thuận tài chính phức tạp để sản xuất năng lượng tại một nhà máy điện hạt nhân, điều này ngầm thiết lập quyền cho các nhà đầu tư có hiệu lực vào năm 2002, trước khi BIT có hiệu lực vào năm 2003[25]. Trong một số trường hợp khác, HĐTT cho rằng, cần phải so sánh “ngày đầu tư” của nhà đầu tư nước ngoài với “ngày quan trọng” mà quốc gia áp dụng các biện pháp vi phạm BIT[26]. Nếu nhà đầu tư tiến hành đầu tư sau “ngày quan trọng”, HĐTT sẽ không có thẩm quyền xét xử. HĐTT trong vụ tranh chấp Philip Morris v. Australia làm rõ rằng, ngày áp dụng biện pháp vi phạm BIT không nhất thiết phải là ngày tranh chấp phát sinh, trong một số trường hợp, tranh chấp có thể phát sinh muộn hơn[27].

Trong trường hợp nhà đầu tư tiến hành đầu tư trước ngày quốc gia tiếp nhận đầu tư áp dụng các biện pháp đang tranh chấp nhưng khoản đầu tư đó không còn tồn tại kể từ ngày này thì cơ quan xét xử cũng không có thẩm quyền xét xử tạm thời[28]. Hơn nữa, nguyên đơn phải đủ tiêu chuẩn là “nhà đầu tư nước ngoài” theo BIT trước ngày quốc gia tiếp nhận đầu tư áp dụng các biện pháp vi phạm BIT. Trong vụ tranh chấp Pac Rim v. El Salvador, HĐTT nhận thấy rằng, theo Hiệp định Thương mại tự do Trung Mỹ - Cộng hòa Dominica - Hoa Kỳ, nhà đầu tư không cần phải đáp ứng yêu cầu về quốc tịch trước khi tiến hành đầu tư nhưng cần phải đáp ứng yêu cầu này trước khi xảy ra hành vi vi phạm bị cáo buộc[29].

2.3. Thẩm quyền về mặt lãnh thổ

Trong nhiều IIA, điều khoản lãnh thổ được xác định là một phần của định nghĩa về đầu tư. Mặt khác, trong một số IIA, yêu cầu về lãnh thổ là một yếu tố để xác định các khoản đầu tư có thuộc phạm vi điều chỉnh của IIA hay không[30]. Hiện nay, nhiều IIA yêu cầu các khoản đầu tư phải được thực hiện trong lãnh thổ của quốc gia tiếp nhận đầu tư để đủ điều kiện được bảo đảm theo IIA. Đối với các khoản đầu tư là tài sản hữu hình (nhà máy, bất động sản…), yêu cầu về lãnh thổ dễ xác định hơn đối với các tài sản vô hình (các công cụ tài chính, các quyền theo hợp đồng…)[31]. Tính lãnh thổ của khoản đầu tư được coi là một yêu cầu cơ bản của Điều 25 Công ước ICSID[32]. Hầu hết, các IIA đều yêu cầu sự tồn tại của mối liên hệ lãnh thổ cụ thể giữa khoản đầu tư và quốc gia sở tại. Theo đó, khoản đầu tư được thực hiện trong lãnh thổ của quốc gia sở tại hoặc ít nhất phải có mối liên hệ về mặt tài chính với quốc gia đó. Trong vụ Ambiente Ufficio and others v. Argentina, HĐTT nhận thấy rằng, Argentina là thực thể được hưởng lợi cuối cùng từ khoản đầu tư bởi các hoạt động phát hành trái phiếu, lưu hành các quyền bảo đảm trên thị trường cũng là dự định của chính Argentina nhằm mục đích để gây quỹ quốc gia. Do đó, khoản đầu tư này được điều chỉnh theo BIT Argentina – Ý[33]. Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử, một số phán quyết của cơ quan tài phán xác định các khoản đầu tư vô hình không thuộc phạm vi bảo hộ theo các BIT và IIA liên quan. Trong vụ SGS v. Philipines, HĐTT cho rằng, theo các nguyên tắc giải thích hiệp định thông thường, các khoản đầu tư được thực hiện bên ngoài lãnh thổ của quốc gia bị đơn, dù có đem lại lợi ích cho quốc gia đó, sẽ không được BIT điều chỉnh[34].

Việc xác định một nhà đầu tư nước ngoài có thực hiện đầu tư trong lãnh thổ của quốc gia sở tại hay không sẽ phụ thuộc vào ranh giới của lãnh thổ quốc gia đó, điều này đặc biệt quan trọng trong các tranh chấp đầu tư liên quan đến vấn đề kế thừa và sáp nhập quốc gia. Trong tranh chấp giữa Ukraine và Nga, các nhà đầu tư là công dân Ukraine có liên doanh kinh doanh ở Crimea trước năm 2014. Các khoản đầu tư là trong nước và do đó không được bảo vệ bởi bất kỳ BIT nào. Sau năm 2014, bán đảo Crimea bị Nga sáp nhập, các công dân Ukraine đã đệ đơn kiện Nga lên trọng tài với cáo buộc rằng, Nga đã không bảo vệ các khoản đầu tư (nay là nước ngoài) của họ ở Crimea và như vậy đã vi phạm BIT Ukraine - Nga. Năm 2018, Tòa án Liên bang Thụy Sỹ đã đưa ra quan điểm: Thuật ngữ “lãnh thổ” trong BIT Ukraine - Nga đề cập đến các lãnh thổ mà quốc gia có quyền tài phán theo các nguyên tắc của luật pháp quốc tế[35]./.

Ngô Quỳnh Liên

Vụ Tổ chức cán bộ, Bộ Tư pháp

[1]. Điều 1116, Điều 1117 Chương 11 Hiệp định Mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA).

[2]. UNTAD (2007), Definitions and Sources, , tr. 245, truy cập ngày 08/12/2023.

[3]. Khoản 19 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2020.

[4]. Khoản 1, khoản 2 Điều 1 BIT Việt Nam - Trung Quốc; khoản a, khoản c Điều 1 BIT Việt Nam - Lào.

[5]. Trong vụ tranh chấp Champion Trading Company, Ameritrade International, Inc. v. Arab Republic of Egypt (ICSID Case No. ARB/02/9), nguyên đơn là ba nhà đầu tư mang hai quốc tịch Hoa Kỳ và Ai Cập, do Công ước ICSID loại trừ rõ ràng người có quốc tịch của quốc gia tiếp nhận đầu tư nên ba nguyên đơn này không được khởi kiện theo Công ước ICSID và HĐTT không có thẩm quyền xem xét các khiếu kiện của họ.

[6]. Trong vụ Tokios Tokelės v. Ukraine (ICSID Case No. ARB/02/18), Tokios là doanh nghiệp được thành lập theo luật của Lithuania. Công ty con của Tokios là Taki Spravy - công ty quảng cáo và xuất bản của Ukraine hoạt động tại Ukraine. Thực tế, 99% cổ phần trong Tokios do công dân Ukraine sở hữu, kiểm soát và nắm giữ 2/3 quyền quản lý. Theo đó, Tokios Tokelės lập luận rằng, hoạt động của nhà chức trách Ukraina liên quan đến Taki Spravy là vi phạm BIT Lithuania và Ukraina.

[7]. Lại Thị Vân Anh (2023), Pháp luật đầu tư quốc tế và thực tiễn áp dụng trong giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, Trang thông tin điện tử Pháp luật quốc tế, , truy cập ngày 10/12/2023.

[8]. Mục 1.2 Quy tắc Trọng tài của UNCITRAL năm 1976, Điều 46 Công ước ICSID năm 1965.

[9]. Theo thống kê của UNCTAD Investment Policy Hub, tính đến tháng 01/2024, trong tổng số 2.828 hiệp định đầu tư song phương (BIT) và 451 điều ước quốc tế có quy định về đầu tư (TIP), có 2.219 BIT và 371 TIP đang có hiệu lực.

[10]. Ví dụ, Điều 8.3 Hiệp định EVFTA.

[11]. Điều 8.28(a) Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh kinh tế Á - Âu (EAEU).

[12]. Salini et al v. Morocco, ICSID Case No. ARB/00/4, Decision on Jurisdiction, 152 (Jul. 23, 2001).

[13]. Phoenix v. Czech Republic (ICSID Case No. ARB/06/5), Award, 15 April 2009.

[14]. Nguyễn Thị Anh Thơ (2019), “Cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế trong các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mà Việt Nam là thành viên”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, 21(397).

[15]. Khoản a Điều 15.5 FTA Singapore - Hoa Kỳ 2003 quy định về đệ trình khiếu kiện ra trọng tài: Nguyên đơn, nhân danh chính mình, có thể đệ trình lên trọng tài theo Mục này một khiếu nại rằng: (i) Bị đơn đã vi phạm (A) nghĩa vụ theo mục B, (B) giấy phép đầu tư hoặc (C) đầu tư thỏa thuận; (ii) Nguyên đơn đã phải gánh chịu tổn thất hoặc thiệt hại do lý do hoặc phát sinh từ vi phạm đó.

[16]. Trong án lệ Oko Pankki Oyj, VTB Bank (Deutschland) AG and Sampo Bank Plc v. The Republic of Estonia (ICSID Case No. ARB/04/6), HĐTT đã xác định “khoản vay là động sản và bất kỳ quyền tài sản nào khác như thế chấp hoặc cầm cố và quyền sở hữu hoặc yêu cầu về tiền hoặc quyền đối với bất kỳ hoạt động nào có giá trị kinh tế là khoản đầu tư theo Hiệp định bảo hộ đầu tư song phương Estonia - Phần Lan”.

[17]. A11Y LTD. v. Czech Republic (ICSID Case No. UNCT/15/1).

[18]. Điều 29 Hiệp định ACIA, Điều 9.2 Hiệp định CPTPP.

[19]. Sean D Murphy (2022), “Temporal Issues Relating to BIT Dispute Resolution”, ICSID Review - Foreign Investment Law Journal, Volume 37, Issue 1-2, tr. 55.

[20]. Ví dụ, Hiệp định Thương mại tự do Cộng hòa Dominica - Trung Mỹ (CAFTA) có hiệu lực từ ngày 01/3/2006 quy định tại Điều 10.1.3: “Để rõ ràng hơn, Chương này không ràng buộc bất kỳ Bên nào liên quan đến bất kỳ hành động nào hoặc sự việc đã xảy ra hoặc bất kỳ tình huống nào đã không còn tồn tại trước ngày Hiệp định này có hiệu lực”.

[21]. Ioannis Kardassopoulos v Georgia, ICSID Case No ARB/05/18, Decision on Jurisdiction (6 July 2007), đoạn 205, 223, 247.

[22]. Tradex Hellas S.A. v. Republic of Albania (ICSID Case No. ARB/94/2).

[23]. Mondev International Ltd v. United States of America (ICSID Case No. ARB(AF)/99/2), đoạn 70.

[24]. ST-AD GmbH v Republic of Bulgaria (UNCITRAL, PCA Case No 2011-06), đoạn 300.

[25]. Hrvatska Elektroprivreda d.d. v. Republic of Slovenia (ICSID Case No ARB/05/2), đoạn 62.

[26]. Renée Rose Levy and Gremcitel SA v. Republic of Peru, ICSID Case No ARB/11/17, Award (9 January 2015), đoạn 149: “Theo quan điểm của HĐTT, ngày quan trọng là ngày mà quốc gia tiếp nhận đầu tư áp dụng biện pháp đang tranh chấp, ngay cả khi biện pháp đó thể hiện đỉnh điểm của một quá trình hoặc chuỗi sự kiện có thể đã bắt đầu từ nhiều năm trước đó. Không có gì lạ khi những khác biệt hoặc bất đồng phát triển trong một khoảng thời gian trước khi cuối cùng chúng “kết tinh” thành một biện pháp thực tế ảnh hưởng đến các quyền theo hiệp định của nhà đầu tư” .

[27]. Philip Morris Asia Limited v. The Commonwealth of Australia, UNCITRAL, PCA Case No 2012-12, Award on Jurisdiction and Admissibility (17 December 2015), đoạn 530 - 533.

[28]. Peter Franz Vocklinghaus v. Czech Republic, UNCITRAL, Final Award (19 September 2011), đoạn 165.

[29]. Pac Rim Cayman LLC v. Republic of El Salvador, ICSID Case No ARB/09/12, Decision on the Respondent’s Jurisdictional Objections (1 June 2012), đoạn 3.32 - 3.34.

[30]. Điểm b khoản 1 Điều 1101 Hiệp định NAFTA, Điều 9.1 Hiệp định CPTPP.

[31]. Trong vụ Alemanni and others v. Argentina (ICSID Case No. ARB/07/8), HĐTT xác định “các công cụ tài chính như trái phiếu, quyền bảo đảm không phải là khoản đầu tư hữu hình, do đó cần có các tiêu chí khác nhau để bản địa hóa chúng” (đoạn 372).

[32]. Reinisch A. (2016), Investment Disputes and Their Boundaries, The Law of International Borders - Journées franco-allemandes, Société française pour le droit international, đoạn 208 - 210.

[33]. Ambiente Ufficio and others v. Argentina (ICSID Case No. ARB/08/9), đoạn 377 - 378.

[34]. SGS v. Philipines (ICSID Case No. ARB/02/6), đoạn 99.

[35]. Dumberry, P. (2018), “Requiem for Crimea: Why Tribunals Should Have Declined Jurisdiction over the Claims of Ukrainian Investors against Russian under the Ukraine–Russia BIT”, Journal of International Dispute Settlement, tr. 529.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 401), tháng 3/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: