Thứ ba 28/07/2026 01:07
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thẩm quyền giải quyết tranh chấp liên quan đến hợp đồng nhượng quyền thương mại từ thực tiễn xét xử tại Tòa án

Thẩm quyền giải quyết tranh chấp liên quan đến hợp đồng nhượng quyền thương mại từ thực tiễn xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Tranh chấp liên quan đến hợp đồng nhượng quyền thương mại là những tranh chấp phức tạp, phải áp dụng nhiều quy định pháp luật khác nhau để giải quyết. Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về xác định thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, dẫn đến sự không thống nhất về đường lối xét xử, có thể dẫn đến tranh chấp thẩm quyền hoặc bản án, quyết định bị hủy sửa do xác định sai thẩm quyền thụ lý giải quyết.

Abstract: Disputes related to franchise contracts are complex disputes that must be resolved by many different legal provisions. Currently, there are many different views on determining the jurisdiction of the court to settle disputes in accordance with the civil procedure law, leading to inconsistency in adjudication policy, which may lead to conflicts of jurisdiction or the judgment or decision is annulled, corrected due to misidentification of jurisdiction.

1. Quy định pháp luật về thẩm quyền giải quyết của Tòa án liên quan hợp đồng nhượng quyền thương mại

Trong hoạt động nhượng quyền thương mại (NQTM), đối tượng hợp đồng không chỉ là các tài sản, công việc phải thực hiện (hoạt động tư vấn, đào tạo, hướng dẫn của bên nhượng quyền đối với bên nhận quyền), bản chất hoạt động NQTM là các bên cùng kinh doanh một sản phẩm với phương thức, cách thức giống nhau, sử dụng chung thương hiệu hay đối tượng hợp đồng là các quyền thương mại bao gồm nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo.

1.1. Thẩm quyền theo vụ việc

Các tranh chấp liên quan đến hợp đồng NQTM có đối tượng thực hiện hợp đồng là quyền sở hữu trí tuệ, mà cụ thể là chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp; hợp đồng chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.

Căn cứ khoản 2 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận là những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Như vậy, khi giải quyết tranh chấp, Tòa án có thể buộc bên vi phạm phải chấm dứt hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, buộc các bên thực hiện cam kết trong hợp đồng chuyển giao công nghệ, hủy bỏ hợp đồng hoặc chịu các chế tài thương mại khác theo thỏa thuận của các bên và theo quy định của pháp luật.

1.2. Thẩm quyền của Tòa án các cấp

Theo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, hệ thống Tòa án được tổ chức theo các đơn vị hành chính lãnh thổ. Trong đó, Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án nhân dân cấp tỉnh là hai cấp Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm đối với các vụ việc dân sự (Điều 37, Điều 44). Việc phân định thẩm quyền giữa các cấp Tòa án phụ thuộc vào tính chất phức tạp của từng loại vụ việc, hệ thống tổ chức Tòa án, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ thực tế của đội ngũ cán bộ Tòa án, điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật, hiệu quả kinh tế của việc giải quyết vụ việc trên cơ sở bảo đảm thuận lợi cho việc tham gia tố tụng của đương sự, cũng như hiệu quả thực tế của việc bảo vệ quyền lợi của họ.

Tòa án nhân dân cấp tỉnh thường phải giải quyết những vụ việc mà sự vận dụng pháp luật, chính sách có nhiều khó khăn, phức tạp, việc thu thập tài liệu, chứng cứ có nhiều khó khăn hoặc phải giám định kỹ thuật phức tạp… Vì vậy, đối với các tranh chấp liên quan đến NQTM là trường hợp thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo khoản 2 Điều 30 và điểm a khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

1.3. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

Sự phân định thẩm quyền theo lãnh thổ là sự phân định thẩm quyền giải quyết sơ thẩm vụ việc dân sự giữa các Tòa án cùng cấp với nhau. Về nguyên tắc, sự phân định này phải được thực hiện nhằm giải quyết nhanh chóng, đúng đắn, bảo đảm việc bảo vệ lợi ích của Nhà nước; quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; tạo thuận lợi cho các đương sự tham gia tố tụng; tránh chồng chéo trong việc thực hiện thẩm quyền của các Tòa án cùng cấp.

Tranh chấp về NQTM là các tranh chấp không có đối tượng tranh chấp là bất động sản nên Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi bị đơn, người bị yêu cầu là cá nhân cư trú, làm việc hoặc Tòa án nơi bị đơn, người bị yêu cầu có trụ sở nếu họ là cơ quan, tổ chức. Quy định Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nơi cư trú, làm việc, có trụ sở của bị đơn, người bị yêu cầu sẽ tạo điều kiện thuận lợi để bị đơn, người bị yêu cầu, người đại diện hợp pháp của họ tham gia tố tụng.

2. Thực tiễn xác định thẩm quyền của Tòa án liên quan hợp đồng nhượng quyền thương mại

Để xác định chính xác thẩm quyền, Tòa án đang thụ lý, giải quyết phải xác định chính xác quan hệ tranh chấp, đối tượng tranh chấp, thỏa thuận các bên trong giải quyết tranh chấp và địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn.

Về quan hệ tranh chấp, do hợp đồng NQTM xác lập nhiều quan hệ dân sự giữa các bên nên hợp đồng NQTM lại dễ bị nhầm lẫn thành các loại hợp đồng khác, dẫn đến việc xác định sai quan hệ tranh chấp. Ví dụ như: Theo Hợp đồng chuyển giao quyền kinh doanh ký kết ngày 01/8/2017 giữa bà Võ Hồng H và ông Nguyễn Thành L, bà H là bên nhượng quyền và ông L là bên nhận quyền kinh doanh. Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định hợp đồng giữa hai bên là hợp đồng nhượng quyền nên xác định tranh chấp là tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền kinh doanh[1]. Tuy nhiên, việc xác định quan hệ tranh chấp để xác định thẩm quyền theo vụ việc như trường hợp trên là không chính xác, vì điều kiện có hiệu lực của hợp đồng NQTM là các bên phải là tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh (khoản 1, khoản 2 Điều 3 Nghị định số 35/2006/NĐ-CP ngày 31/3/2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động NQTM (Nghị định số 35/2006/NĐ-CP) và khoản 1 Điều 6 Luật Thương mại năm 2005) nhưng ông L và bà H không có đăng ký kinh doanh nên phải xác định tranh chấp trên là tranh chấp hợp đồng hợp tác kinh doanh.

Việc xác định không chính xác quan hệ tranh chấp có thể dẫn đến hậu quả bản án bị hủy. Thực tiễn xét xử cho thấy, cùng một quan hệ tranh chấp về NQTM nhưng giữa các Tòa án cũng có quan điểm khác nhau về xác định thẩm quyền. Theo tác giả, bản chất của quan hệ NQTM là các bên cùng kinh doanh dưới một nhãn hiệu hoặc tên thương mại, hoặc có liên quan đến việc chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh và những yếu tố khác nên phải xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp là tranh chấp kinh doanh, thương mại liên quan quyền sở hữu trí tuệ nên thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh.

Về đối tượng tranh chấp, mặc dù đối tượng thực hiện hợp đồng NQTM chủ yếu liên quan đến sự chuyển giao về quyền sở hữu trí tuệ nhưng không phải mọi trường hợp các bên đều tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ mà có thể tranh chấp liên quan đến những vấn đề khác.

Ví dụ thứ nhất: Công ty H và Công ty A ký kết với nhau Hợp đồng li-xăng và phí bản quyền thương hiệu ngày 01/01/2010. Công ty H đã chuyển giao quyền sử dụng thương hiệu Ana Mandara Resort cho Công ty A. Trong thời gian chuyển giao quyền sử dụng thương hiệu, Công ty H và Công ty A ký kết với nhau nhiều hợp đồng để vận hành Khu nghỉ mát Ana Mandara Resort như: Hợp đồng quản lý, phụ lục hợp đồng quản lý, hợp đồng tư vấn, cùng nhiều văn bản về việc gia hạn hợp đồng quản lý. Công ty A khai thác và đưa vào sử dụng thương hiệu trên, nhưng không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Công ty H. Công ty H đã nhiều lần gửi văn bản yêu cầu hai bên gặp nhau để thống nhất lộ trình thanh toán nợ nhưng Công ty A vẫn không thanh toán cho Công ty H. Do đó, Công ty H đã khởi kiện Công ty A để yêu cầu thanh toán giá trị hợp đồng[2].

Đối với vụ việc trên, đối tượng tranh chấp là tiền hay cụ thể là khoản tiền còn nợ giữa Công ty A và Công ty H mà không phải là tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ. Vậy, quan hệ tranh chấp trên là “tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận” (theo khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) hay là “tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận” (theo khoản 2 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015)? Nếu Tòa án xác định quan hệ tranh chấp theo khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp là của Tòa án cấp huyện (theo điểm b khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015); nếu Tòa án xác định quan hệ tranh chấp theo khoản 2 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp là của Tòa án cấp tỉnh (theo điểm a khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015).

Ví dụ thứ hai: Ngày 25/6/2010, Công ty N, tiền thân là công ty thành viên của Công ty C và Công ty C ký Hợp đồng số 626/HĐNQ về việc nhượng quyền sử dụng thương hiệu. Theo hợp đồng, Công ty N phải trả Công ty C phí sử dụng thương hiệu là 4.800.000.000 đồng. Công ty N được tạm giữ 10% nên phải thanh toán 4.320.000.000 đồng. Công ty N thanh toán được 1.500.000.000 đồng và còn nợ số tiền là 2.820.000.000 đồng. Sau khi Công ty N được cổ phần hóa, Công ty C là cổ đông của Công ty N, đến năm 2016, thì Công ty C thoái toàn bộ vốn tại Công ty N. Theo các nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông Công ty N, tổng số tiền cổ tức Công ty C được hưởng từ năm 2010 đến 2013 là 6.090.000.000 đồng. Công ty N đã chi trả 3.730.000.000 đồng. Công ty C yêu cầu Tòa án buộc Công ty N phải trả cho Công ty C số tiền 4.896.289.000 đồng, trong đó, nợ tiền gốc là 1.500.000.000 đồng, nợ tiền lãi chậm thanh toán tính đến ngày xét xử 10/7/2019 là 3.396.289.000 đồng[3].

Đối tượng tranh chấp trong vụ án trên vừa liên quan đến việc thanh toán tiền nợ giữa hai bên, vừa liên quan đến tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, vừa liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ. Tương tự như ví dụ thứ nhất, việc xác định quan hệ tranh chấp trong các trường hợp trên sẽ dẫn đến việc xác định chính xác thẩm quyền giải quyết tranh chấp là của Tòa án cấp huyện hay Tòa án cấp tỉnh.

3. Một số đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật về thẩm quyền giải quyết của Tòa án đối với tranh chấp liên quan đến hoạt động nhượng quyền thương mại

Thứ nhất, việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ được hướng dẫn chi tiết trong Thông tư liên tịch số 02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT&DL-BKH&CN-BTP ngày 03/4/2008 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ tại Toà án nhân dân (Thông tư liên tịch số 02). Mục I về xác định quan hệ tranh chấp và Mục III về điều kiện khởi kiện vụ án dân sự về quyền sở hữu trí tuệ đã xác định cụ thể những quan hệ tranh chấp có đối tượng tranh chấp chính là quyền sở hữu trí tuệ hoặc tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp; hợp đồng chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp thì được xác định là tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận. Áp dụng quy định của Thông tư liên tịch số 02 sẽ giải quyết được việc xác định thẩm quyền giữa Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp huyện đối với các ví dụ đã nêu ở phần trên. Tuy nhiên, Thông tư liên tịch số 02 lại căn cứ vào Bộ luật Dân sự năm 2005 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) nên theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) thì Thông tư liên tịch số 02 đã hết hiệu lực pháp luật. Về pháp luật thực định, thẩm phán có thể tham khảo theo tinh thần hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 02 để giải quyết vụ án cụ thể nhưng không thể áp dụng trực tiếp những quy định này trong quá trình giải quyết vụ án. Vì vậy, những quy định trong Thông tư liên tịch số 02 cần phải được thay thế bằng văn bản quy phạm pháp luật mới để có thể tiếp tục áp dụng trong quá trình giải quyết vụ án.

Thứ hai, Luật Thương mại năm 2005 quy định về hoạt động NQTM, tuy nhiên thực tiễn xét xử cho thấy, NQTM thường được hiểu là nhượng quyền thương hiệu. Về bản chất, hoạt động NQTM có phạm vi rộng hơn hoạt động nhượng quyền thương hiệu. Hoạt động NQTM còn được điều chỉnh bởi Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Cạnh tranh, Luật Quảng cáo và nhiều luật chuyên ngành khác. Tuy nhiên, Điều 284 Luật Thương mại năm 2005 quy định: NQTM là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau đây: Việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền... Như vậy, giữa hoạt động NQTM, hoạt động li-xăng và hoạt động chuyển giao công nghệ thì hoạt động NQTM có đặc điểm khác biệt rõ nhất trong nội hàm khái niệm là “tiến hành theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định” nhưng như thế nào là cách thức tổ chức kinh doanh thì chưa được Luật Thương mại năm 2005 và Nghị định số 35/2006/NĐ-CP, Nghị định số 08/2018/NĐ-CP ngày 15/01/2018 của Chính phủ sửa đổi một số nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Công Thương hướng dẫn về hoạt động NQTM quy định chi tiết. Vì vậy, khái niệm “cách thức tổ chức kinh doanh” cần được xác định rõ nội hàm, ngoại diên trong Luật Thương mại năm 2005 hoặc các văn bản hướng dẫn thi hành. Đồng thời, tranh chấp về hoạt động NQTM cần quy định rõ trong Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vì hoạt động NQTM phức tạp liên quan đến nhiều ngành luật khác nhau nên Tòa án cấp tỉnh giải quyết thì phù hợp với thực tiễn xét xử hơn.

Thứ ba, hoạt động NQTM chỉ quy định về nhượng quyền kinh doanh liên quan đến “nhãn hiệu hàng hóa” nhưng không quy định về “nhãn hiệu dịch vụ”. Thực tiễn áp dụng pháp luật hiện nay cho thấy, việc nhượng quyền kinh doanh liên quan đến “nhãn hiệu dịch vụ” khá phổ biến. Vì vậy, khi có tranh chấp liên quan đến việc nhượng quyền “nhãn hiệu dịch vụ” mà có đặc điểm là “cách thức tổ chức kinh doanh” do bên nhượng quyền quy định thì mặc dù vẫn có thể xác định đây là tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận và thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh nhưng không thể xác định trường hợp này là “tranh chấp trong hoạt động NQTM”. Vì vậy, cần bổ sung quy định về chuyển nhượng “nhãn hiệu dịch vụ” hoặc sửa đổi khái niệm về quyền thương mại trong pháp luật thương mại và các văn bản hướng dẫn thi hành để tạo ra sự thống nhất với pháp luật sở hữu trí tuệ.

Trong năm 2022, Tòa án các cấp đã thụ lý 444.402 vụ việc; đã giải quyết, xét xử được 386.944 vụ việc; đạt tỷ lệ 87,07%, vượt 2,07% so với chỉ tiêu Tòa án đề ra. Tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy là 0,61% (do nguyên nhân chủ quan 0,4%); bị sửa là 1,2%[4]. Trong đó, hủy án do xác định sai thẩm quyền giải quyết được xác định là hủy án do nguyên nhân chủ quan của thẩm phán và hội đồng xét xử[5]. Do đó, xác định đúng thẩm quyền giải quyết của Tòa án có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết án, bảo đảm việc giải quyết vụ án nhanh chóng, chính xác và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.

ThS. Nguyễn Đức Vũ

Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

[1]. Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 51/2019/KDTM-ST ngày 07/10/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh B.

[2]. Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2019/DS-ST ngày 24/9/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh T.

[3]. Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 06/2019/KDTM-ST ngày 10/7/2019 của Tòa án nhân dân Thành phố Đ.

[4]. https://tapchitoaan.vn/nam-2022-so-luong-chat-luong-giai-quyet-xet-xu-cac-loai-vu-viec-dat-va-vuot-cac-chi-tieu-yeu-cau-de-ra7749.html.

[5]. http://vca.edu.vn/portal/page/portal/tandtc/baiviet?p_page_id=1754190&p_cateid=1751909&article_details=1&item_id =1752897.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 382), tháng 6/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

Ngày 23/3/2026, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đã ban hành Chỉ thị số 09-CT/TU về nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi công vụ; siết chặt kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm của cán bộ, nhất là người đứng đầu trong giai đoạn phát triển mới của Thủ đô Hà Nội (Chỉ thị số 09-CT/TU). Theo đó, Thành phố xác định rõ việc định vị hình ảnh và giá trị cốt lõi của Thủ đô với 09 đặc trưng "Thủ đô văn hiến - kết nối toàn cầu - thanh lịch, hào hoa - phát triển hài hòa - thanh bình, thịnh vượng - chính quyền phục vụ - doanh nghiệp cống hiến - xã hội niềm tin - người dân hạnh phúc", lấy "Văn hiến - bản sắc - sáng tạo" làm trục giá trị xuyên suốt.
Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng gắn với kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động giám sát, góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 được thông qua trên cơ sở kế thừa, bổ sung nhiều quy định mới về nguyên tắc định hướng, chủ thể giám sát, nội dung và quy trình để hoạt động giám sát đạt hiệu quả, chất lượng. Việc gắn kết giữa hoạt động giám sát với việc hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương có tính chất tương hỗ để hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Việc Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội thông qua cơ chế đặc thù về đầu tư, phát triển nhà ở cho thuê được xem là bước đi mới trong thực hiện Luật Thủ đô năm 2026. Với nhiều ưu đãi về đất đai, thủ tục đầu tư và cơ chế khai thác dự án, chính sách này không chỉ tạo động lực thu hút doanh nghiệp tham gia phát triển nhà ở cho thuê mà còn góp phần mở rộng nguồn cung nhà ở, bảo đảm an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển đô thị bền vững.
Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Trong những năm gần đây, chủ trương về chuyển đổi số đã trở thành một trong những định hướng chiến lược quan trọng của Đảng và Nhà nước. Với tinh thần chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu khách quan (Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị) tới Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”.
Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ tiền lương làm thêm giờ đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong chính sách thuế theo hướng hỗ trợ người lao động (NLĐ) và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đây không chỉ là giải pháp nhằm tăng thu nhập thực nhận mà còn thể hiện sự kết nối giữa pháp luật thuế với pháp luật lao động. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến quản lý thuế, bảo hiểm xã hội và quan hệ lao động, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả của chính sách.
Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Ngày 19/6/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1111/QĐ-TTg (Quyết định số 1111/QĐ-TTg) về việc ban hành Kế hoạch tổ chức “Ngày Văn hóa Việt Nam” giai đoạn 2026 - 2030. Đây không chỉ là một văn bản hành chính thuần túy, mà là một lời hiệu triệu, một chiến lược toàn diện nhằm đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo đà cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Thực hiện Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15 về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và Nghị quyết số 2093/NQ-UBTVQH15 về việc thành lập Ban Chỉ đạo tổng rà soát, Bộ Tư pháp với vai trò là Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo đang tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được giao. Trong tuần từ ngày 06/7/2026 đến hết ngày 12/7/2026, công tác rà soát đã bước vào giai đoạn then chốt với sự tham gia đồng bộ của các bộ, ngành và địa phương trên cả nước, tập trung vào việc đánh giá thực chất và đảm bảo chất lượng báo cáo.
Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: