Thứ ba 10/02/2026 18:14
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thẩm quyền giải quyết tranh chấp liên quan đến hợp đồng nhượng quyền thương mại từ thực tiễn xét xử tại Tòa án

Thẩm quyền giải quyết tranh chấp liên quan đến hợp đồng nhượng quyền thương mại từ thực tiễn xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Tranh chấp liên quan đến hợp đồng nhượng quyền thương mại là những tranh chấp phức tạp, phải áp dụng nhiều quy định pháp luật khác nhau để giải quyết. Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về xác định thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, dẫn đến sự không thống nhất về đường lối xét xử, có thể dẫn đến tranh chấp thẩm quyền hoặc bản án, quyết định bị hủy sửa do xác định sai thẩm quyền thụ lý giải quyết.

Abstract: Disputes related to franchise contracts are complex disputes that must be resolved by many different legal provisions. Currently, there are many different views on determining the jurisdiction of the court to settle disputes in accordance with the civil procedure law, leading to inconsistency in adjudication policy, which may lead to conflicts of jurisdiction or the judgment or decision is annulled, corrected due to misidentification of jurisdiction.

1. Quy định pháp luật về thẩm quyền giải quyết của Tòa án liên quan hợp đồng nhượng quyền thương mại

Trong hoạt động nhượng quyền thương mại (NQTM), đối tượng hợp đồng không chỉ là các tài sản, công việc phải thực hiện (hoạt động tư vấn, đào tạo, hướng dẫn của bên nhượng quyền đối với bên nhận quyền), bản chất hoạt động NQTM là các bên cùng kinh doanh một sản phẩm với phương thức, cách thức giống nhau, sử dụng chung thương hiệu hay đối tượng hợp đồng là các quyền thương mại bao gồm nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo.

1.1. Thẩm quyền theo vụ việc

Các tranh chấp liên quan đến hợp đồng NQTM có đối tượng thực hiện hợp đồng là quyền sở hữu trí tuệ, mà cụ thể là chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp; hợp đồng chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.

Căn cứ khoản 2 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận là những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Như vậy, khi giải quyết tranh chấp, Tòa án có thể buộc bên vi phạm phải chấm dứt hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, buộc các bên thực hiện cam kết trong hợp đồng chuyển giao công nghệ, hủy bỏ hợp đồng hoặc chịu các chế tài thương mại khác theo thỏa thuận của các bên và theo quy định của pháp luật.

1.2. Thẩm quyền của Tòa án các cấp

Theo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, hệ thống Tòa án được tổ chức theo các đơn vị hành chính lãnh thổ. Trong đó, Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án nhân dân cấp tỉnh là hai cấp Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm đối với các vụ việc dân sự (Điều 37, Điều 44). Việc phân định thẩm quyền giữa các cấp Tòa án phụ thuộc vào tính chất phức tạp của từng loại vụ việc, hệ thống tổ chức Tòa án, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ thực tế của đội ngũ cán bộ Tòa án, điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật, hiệu quả kinh tế của việc giải quyết vụ việc trên cơ sở bảo đảm thuận lợi cho việc tham gia tố tụng của đương sự, cũng như hiệu quả thực tế của việc bảo vệ quyền lợi của họ.

Tòa án nhân dân cấp tỉnh thường phải giải quyết những vụ việc mà sự vận dụng pháp luật, chính sách có nhiều khó khăn, phức tạp, việc thu thập tài liệu, chứng cứ có nhiều khó khăn hoặc phải giám định kỹ thuật phức tạp… Vì vậy, đối với các tranh chấp liên quan đến NQTM là trường hợp thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo khoản 2 Điều 30 và điểm a khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

1.3. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

Sự phân định thẩm quyền theo lãnh thổ là sự phân định thẩm quyền giải quyết sơ thẩm vụ việc dân sự giữa các Tòa án cùng cấp với nhau. Về nguyên tắc, sự phân định này phải được thực hiện nhằm giải quyết nhanh chóng, đúng đắn, bảo đảm việc bảo vệ lợi ích của Nhà nước; quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; tạo thuận lợi cho các đương sự tham gia tố tụng; tránh chồng chéo trong việc thực hiện thẩm quyền của các Tòa án cùng cấp.

Tranh chấp về NQTM là các tranh chấp không có đối tượng tranh chấp là bất động sản nên Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi bị đơn, người bị yêu cầu là cá nhân cư trú, làm việc hoặc Tòa án nơi bị đơn, người bị yêu cầu có trụ sở nếu họ là cơ quan, tổ chức. Quy định Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nơi cư trú, làm việc, có trụ sở của bị đơn, người bị yêu cầu sẽ tạo điều kiện thuận lợi để bị đơn, người bị yêu cầu, người đại diện hợp pháp của họ tham gia tố tụng.

2. Thực tiễn xác định thẩm quyền của Tòa án liên quan hợp đồng nhượng quyền thương mại

Để xác định chính xác thẩm quyền, Tòa án đang thụ lý, giải quyết phải xác định chính xác quan hệ tranh chấp, đối tượng tranh chấp, thỏa thuận các bên trong giải quyết tranh chấp và địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn.

Về quan hệ tranh chấp, do hợp đồng NQTM xác lập nhiều quan hệ dân sự giữa các bên nên hợp đồng NQTM lại dễ bị nhầm lẫn thành các loại hợp đồng khác, dẫn đến việc xác định sai quan hệ tranh chấp. Ví dụ như: Theo Hợp đồng chuyển giao quyền kinh doanh ký kết ngày 01/8/2017 giữa bà Võ Hồng H và ông Nguyễn Thành L, bà H là bên nhượng quyền và ông L là bên nhận quyền kinh doanh. Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định hợp đồng giữa hai bên là hợp đồng nhượng quyền nên xác định tranh chấp là tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền kinh doanh[1]. Tuy nhiên, việc xác định quan hệ tranh chấp để xác định thẩm quyền theo vụ việc như trường hợp trên là không chính xác, vì điều kiện có hiệu lực của hợp đồng NQTM là các bên phải là tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh (khoản 1, khoản 2 Điều 3 Nghị định số 35/2006/NĐ-CP ngày 31/3/2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động NQTM (Nghị định số 35/2006/NĐ-CP) và khoản 1 Điều 6 Luật Thương mại năm 2005) nhưng ông L và bà H không có đăng ký kinh doanh nên phải xác định tranh chấp trên là tranh chấp hợp đồng hợp tác kinh doanh.

Việc xác định không chính xác quan hệ tranh chấp có thể dẫn đến hậu quả bản án bị hủy. Thực tiễn xét xử cho thấy, cùng một quan hệ tranh chấp về NQTM nhưng giữa các Tòa án cũng có quan điểm khác nhau về xác định thẩm quyền. Theo tác giả, bản chất của quan hệ NQTM là các bên cùng kinh doanh dưới một nhãn hiệu hoặc tên thương mại, hoặc có liên quan đến việc chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh và những yếu tố khác nên phải xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp là tranh chấp kinh doanh, thương mại liên quan quyền sở hữu trí tuệ nên thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh.

Về đối tượng tranh chấp, mặc dù đối tượng thực hiện hợp đồng NQTM chủ yếu liên quan đến sự chuyển giao về quyền sở hữu trí tuệ nhưng không phải mọi trường hợp các bên đều tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ mà có thể tranh chấp liên quan đến những vấn đề khác.

Ví dụ thứ nhất: Công ty H và Công ty A ký kết với nhau Hợp đồng li-xăng và phí bản quyền thương hiệu ngày 01/01/2010. Công ty H đã chuyển giao quyền sử dụng thương hiệu Ana Mandara Resort cho Công ty A. Trong thời gian chuyển giao quyền sử dụng thương hiệu, Công ty H và Công ty A ký kết với nhau nhiều hợp đồng để vận hành Khu nghỉ mát Ana Mandara Resort như: Hợp đồng quản lý, phụ lục hợp đồng quản lý, hợp đồng tư vấn, cùng nhiều văn bản về việc gia hạn hợp đồng quản lý. Công ty A khai thác và đưa vào sử dụng thương hiệu trên, nhưng không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Công ty H. Công ty H đã nhiều lần gửi văn bản yêu cầu hai bên gặp nhau để thống nhất lộ trình thanh toán nợ nhưng Công ty A vẫn không thanh toán cho Công ty H. Do đó, Công ty H đã khởi kiện Công ty A để yêu cầu thanh toán giá trị hợp đồng[2].

Đối với vụ việc trên, đối tượng tranh chấp là tiền hay cụ thể là khoản tiền còn nợ giữa Công ty A và Công ty H mà không phải là tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ. Vậy, quan hệ tranh chấp trên là “tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận” (theo khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) hay là “tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận” (theo khoản 2 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015)? Nếu Tòa án xác định quan hệ tranh chấp theo khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp là của Tòa án cấp huyện (theo điểm b khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015); nếu Tòa án xác định quan hệ tranh chấp theo khoản 2 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp là của Tòa án cấp tỉnh (theo điểm a khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015).

Ví dụ thứ hai: Ngày 25/6/2010, Công ty N, tiền thân là công ty thành viên của Công ty C và Công ty C ký Hợp đồng số 626/HĐNQ về việc nhượng quyền sử dụng thương hiệu. Theo hợp đồng, Công ty N phải trả Công ty C phí sử dụng thương hiệu là 4.800.000.000 đồng. Công ty N được tạm giữ 10% nên phải thanh toán 4.320.000.000 đồng. Công ty N thanh toán được 1.500.000.000 đồng và còn nợ số tiền là 2.820.000.000 đồng. Sau khi Công ty N được cổ phần hóa, Công ty C là cổ đông của Công ty N, đến năm 2016, thì Công ty C thoái toàn bộ vốn tại Công ty N. Theo các nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông Công ty N, tổng số tiền cổ tức Công ty C được hưởng từ năm 2010 đến 2013 là 6.090.000.000 đồng. Công ty N đã chi trả 3.730.000.000 đồng. Công ty C yêu cầu Tòa án buộc Công ty N phải trả cho Công ty C số tiền 4.896.289.000 đồng, trong đó, nợ tiền gốc là 1.500.000.000 đồng, nợ tiền lãi chậm thanh toán tính đến ngày xét xử 10/7/2019 là 3.396.289.000 đồng[3].

Đối tượng tranh chấp trong vụ án trên vừa liên quan đến việc thanh toán tiền nợ giữa hai bên, vừa liên quan đến tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, vừa liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ. Tương tự như ví dụ thứ nhất, việc xác định quan hệ tranh chấp trong các trường hợp trên sẽ dẫn đến việc xác định chính xác thẩm quyền giải quyết tranh chấp là của Tòa án cấp huyện hay Tòa án cấp tỉnh.

3. Một số đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật về thẩm quyền giải quyết của Tòa án đối với tranh chấp liên quan đến hoạt động nhượng quyền thương mại

Thứ nhất, việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ được hướng dẫn chi tiết trong Thông tư liên tịch số 02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT&DL-BKH&CN-BTP ngày 03/4/2008 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ tại Toà án nhân dân (Thông tư liên tịch số 02). Mục I về xác định quan hệ tranh chấp và Mục III về điều kiện khởi kiện vụ án dân sự về quyền sở hữu trí tuệ đã xác định cụ thể những quan hệ tranh chấp có đối tượng tranh chấp chính là quyền sở hữu trí tuệ hoặc tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp; hợp đồng chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp thì được xác định là tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận. Áp dụng quy định của Thông tư liên tịch số 02 sẽ giải quyết được việc xác định thẩm quyền giữa Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp huyện đối với các ví dụ đã nêu ở phần trên. Tuy nhiên, Thông tư liên tịch số 02 lại căn cứ vào Bộ luật Dân sự năm 2005 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) nên theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) thì Thông tư liên tịch số 02 đã hết hiệu lực pháp luật. Về pháp luật thực định, thẩm phán có thể tham khảo theo tinh thần hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 02 để giải quyết vụ án cụ thể nhưng không thể áp dụng trực tiếp những quy định này trong quá trình giải quyết vụ án. Vì vậy, những quy định trong Thông tư liên tịch số 02 cần phải được thay thế bằng văn bản quy phạm pháp luật mới để có thể tiếp tục áp dụng trong quá trình giải quyết vụ án.

Thứ hai, Luật Thương mại năm 2005 quy định về hoạt động NQTM, tuy nhiên thực tiễn xét xử cho thấy, NQTM thường được hiểu là nhượng quyền thương hiệu. Về bản chất, hoạt động NQTM có phạm vi rộng hơn hoạt động nhượng quyền thương hiệu. Hoạt động NQTM còn được điều chỉnh bởi Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Cạnh tranh, Luật Quảng cáo và nhiều luật chuyên ngành khác. Tuy nhiên, Điều 284 Luật Thương mại năm 2005 quy định: NQTM là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau đây: Việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền... Như vậy, giữa hoạt động NQTM, hoạt động li-xăng và hoạt động chuyển giao công nghệ thì hoạt động NQTM có đặc điểm khác biệt rõ nhất trong nội hàm khái niệm là “tiến hành theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định” nhưng như thế nào là cách thức tổ chức kinh doanh thì chưa được Luật Thương mại năm 2005 và Nghị định số 35/2006/NĐ-CP, Nghị định số 08/2018/NĐ-CP ngày 15/01/2018 của Chính phủ sửa đổi một số nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Công Thương hướng dẫn về hoạt động NQTM quy định chi tiết. Vì vậy, khái niệm “cách thức tổ chức kinh doanh” cần được xác định rõ nội hàm, ngoại diên trong Luật Thương mại năm 2005 hoặc các văn bản hướng dẫn thi hành. Đồng thời, tranh chấp về hoạt động NQTM cần quy định rõ trong Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vì hoạt động NQTM phức tạp liên quan đến nhiều ngành luật khác nhau nên Tòa án cấp tỉnh giải quyết thì phù hợp với thực tiễn xét xử hơn.

Thứ ba, hoạt động NQTM chỉ quy định về nhượng quyền kinh doanh liên quan đến “nhãn hiệu hàng hóa” nhưng không quy định về “nhãn hiệu dịch vụ”. Thực tiễn áp dụng pháp luật hiện nay cho thấy, việc nhượng quyền kinh doanh liên quan đến “nhãn hiệu dịch vụ” khá phổ biến. Vì vậy, khi có tranh chấp liên quan đến việc nhượng quyền “nhãn hiệu dịch vụ” mà có đặc điểm là “cách thức tổ chức kinh doanh” do bên nhượng quyền quy định thì mặc dù vẫn có thể xác định đây là tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận và thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh nhưng không thể xác định trường hợp này là “tranh chấp trong hoạt động NQTM”. Vì vậy, cần bổ sung quy định về chuyển nhượng “nhãn hiệu dịch vụ” hoặc sửa đổi khái niệm về quyền thương mại trong pháp luật thương mại và các văn bản hướng dẫn thi hành để tạo ra sự thống nhất với pháp luật sở hữu trí tuệ.

Trong năm 2022, Tòa án các cấp đã thụ lý 444.402 vụ việc; đã giải quyết, xét xử được 386.944 vụ việc; đạt tỷ lệ 87,07%, vượt 2,07% so với chỉ tiêu Tòa án đề ra. Tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy là 0,61% (do nguyên nhân chủ quan 0,4%); bị sửa là 1,2%[4]. Trong đó, hủy án do xác định sai thẩm quyền giải quyết được xác định là hủy án do nguyên nhân chủ quan của thẩm phán và hội đồng xét xử[5]. Do đó, xác định đúng thẩm quyền giải quyết của Tòa án có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết án, bảo đảm việc giải quyết vụ án nhanh chóng, chính xác và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.

ThS. Nguyễn Đức Vũ

Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

[1]. Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 51/2019/KDTM-ST ngày 07/10/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh B.

[2]. Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2019/DS-ST ngày 24/9/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh T.

[3]. Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 06/2019/KDTM-ST ngày 10/7/2019 của Tòa án nhân dân Thành phố Đ.

[4]. https://tapchitoaan.vn/nam-2022-so-luong-chat-luong-giai-quyet-xet-xu-cac-loai-vu-viec-dat-va-vuot-cac-chi-tieu-yeu-cau-de-ra7749.html.

[5]. http://vca.edu.vn/portal/page/portal/tandtc/baiviet?p_page_id=1754190&p_cateid=1751909&article_details=1&item_id =1752897.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 382), tháng 6/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:

Theo dõi chúng tôi trên: