Thứ sáu 01/05/2026 15:31
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thẩm quyền xét xử vụ án hành chính theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân

Vấn đề xác định thẩm quyền xét xử vụ án hành chính của Tòa án nhân dân là một vấn đề quan trọng trong tổ chức và hoạt động tư pháp của nước ta hiện nay. Bài viết phân tích, làm rõ một số nội dung về thẩm quyền xét xử hành chính của Tòa án nhân dân ở nước ta hiện nay.

Tóm tắt: Vấn đề xác định thẩm quyền xét xử vụ án hành chính của Tòa án nhân dân là một vấn đề quan trọng trong tổ chức và hoạt động tư pháp của nước ta hiện nay. Bài viết phân tích, làm rõ một số nội dung về thẩm quyền xét xử hành chính của Tòa án nhân dân ở nước ta hiện nay.

Abstract: The issue of determining the jurisdiction of the People's Court to adjudicate administrative cases is an important issue in the organization and judicial activities of our country today. The article analyzes and clarifies some contents about the administrative jurisdiction of the People's Court in our country today.

1. Dẫn nhập
Xác định thẩm quyền xét xử vụ án hành chính của Tòa án nhân dân mà chủ yếu là thẩm quyền theo loại việc và theo lãnh thổ là một vấn đề quan trọng trong tổ chức và hoạt động tư pháp của nước ta hiện nay. Việc pháp luật đề ra những quy định trong phân định thẩm quyền xét xử hành chính theo loại việc và theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân là một tất yếu khách quan, phù hợp với thực tiễn xét xử, nhằm đạt tới mục đích cuối cùng là giải quyết đúng đắn và chính xác các vụ án hành chính, bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, qua đó củng cố niềm tin của nhân dân vào cơ quan tố tụng và Nhà nước.
Luật Tố tụng hành chính năm 2015 (có hiệu lực thi hành ngày 01/7/2016) có nhiều nội dung quan trọng phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013, phù hợp với quy định của Luật Tổ chức Tòa án năm 2014 là một bước tiến đáng kể trong quá trình hoàn thiện và đề cao vai trò xét xử vụ án hành chính của hệ thống Tòa án ở Việt Nam. Kể từ khi Luật Tố tụng hành chính năm 2015 có hiệu lực, hoạt động xét xử các vụ án hành chính của Tòa án nhân dân theo lãnh thổ đã góp phần tích cực trong việc nâng cao chất lượng hoạt động hành chính của chính quyền địa phương; bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân. Mặc dù vậy, vẫn còn những vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu, trao đổi để có được những giải pháp thích hợp góp phần hoàn thiện pháp luật về hoạt động xét xử các vụ án hành chính theo loại việc và theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân.
2. Về khái niệm thẩm quyền xét xử vụ án hành chính theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân
Việc phân định thẩm quyền xét xử vụ án hành chính theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân là một vấn đề quan trọng trong tổ chức và hoạt động tư pháp của nước ta hiện nay. Việc pháp luật đưa những quy định về phân định thẩm quyền xét xử hành chính theo lãnh thổ tại Tòa án nhân dân địa phương là một tất yếu khách quan, phù hợp với thực tiễn xét xử, nhằm đạt tới mục đích cuối cùng là giải quyết đúng đắn và chính xác các vụ án hành chính, bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, qua đó củng cố niềm tin của nhân dân vào cơ quan tố tụng và Nhà nước. Những năm gần đây, Ngành Tòa án nhân dân đã triển khai thực hiện nhiều biện pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giải quyết các vụ án hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về hành chính, đảm bảo đúng quy định, hạn chế số lượng án bị sửa, hủy có trách nhiệm của Tòa án nhân dân. Kể từ khi Luật Tố tụng hành chính năm 2015 có hiệu lực, hoạt động xét xử các vụ án hành chính theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân đã góp phần tích cực trong việc nâng cao chất lượng hoạt động hành chính của chính quyền địa phương; bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân.
Thẩm quyền gắn với quyền và nhiệm vụ được pháp luật giao cho các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan đó để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan. Tùy thuộc vào từng ngành mà thẩm quyền được phân định theo chức năng, nhiệm vụ của ngành đó. Thẩm quyền xét xử hành chính của Tòa án nhân dân là quyền và nghĩa vụ của Tòa án nhân dân trong việc thụ lý và giải quyết các vụ án hành chính. Do đó, khi xem xét thẩm quyền không nên hiểu theo nghĩa hẹp chỉ quyền hạn mà cần hiểu đó là quyền hạn, nhiệm vụ và trách nhiệm trong việc xét xử các vụ án hành chính.
Những bộ phận cấu thành quyền lực nhà nước ở Việt Nam bao gồm: Quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. Mỗi nhánh quyền lực có một vị trí, vai trò nhất định trong bộ máy nhà nước và xã hội. Trong đó, quyền hành pháp là “quyền thi hành pháp luật là cơ sở thực hiện quyền quản lý hành chính nhà nước” và “có nội dung là bảo đảm sự chấp hành luật, pháp luật, nghị quyết của các cơ quan quyền lực nhà nước nhằm tổ chức và chỉ đạo một cách trực tiếp và thường xuyên công cuộc xây dựng kinh tế, văn hóa - xã hội và hành chính - chính trị”[1]. Việc thực thi pháp luật đòi hỏi cơ quan công quyền và công chức có nghĩa vụ chấp hành pháp luật, nhưng lại vừa có quyền điều hành nên khó tránh khỏi hành vi lạm quyền, lộng quyền, vượt quyền. Do đó, để khắc phục những hạn chế đã nêu trên, hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân là một trong những hoạt động của Nhà nước nhằm kiềm chế, đối trọng để có được hiệu quả.
3. Về cơ sở pháp lý xác định thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân
Thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân được quy định tại Điều 31, Điều 32 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.
3.1. Thẩm quyền của Tòa án cấp huyện
Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương (sau đây gọi là Tòa án cấp huyện) là cơ quan Tòa án nhân dân cấp thấp nhất trong hệ thống Tòa án, thực hiện chức năng xét xử theo nhiệm vụ, quyền hạn được pháp luật quy định. Tòa án cấp huyện có thể có Tòa hình sự, Tòa dân sự, Tòa gia đình và người chưa thành niên, Tòa xử lý hành chính. Trong trường hợp cần thiết, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định thành lập Tòa chuyên trách khác theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; bộ máy giúp việc. Tòa án cấp huyện có Chánh án, Phó Chánh án, Chánh tòa, Phó Chánh tòa, thẩm phán, Thư ký Tòa án, thẩm tra viên về thi hành án, công chức khác và người lao động. Theo Điều 31 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Tòa án cấp huyện giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những khiếu kiện: (i) Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước từ cấp huyện trở xuống trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước đó; (ii) Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc của người đứng đầu cơ quan, tổ chức từ cấp huyện trở xuống trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án đối với công chức thuộc quyền quản lý của cơ quan, tổ chức đó; (iii) Khiếu kiện về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân của cơ quan lập danh sách cử tri trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án.
3.2. Thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh
Theo Điều 32 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Toà án cấp tỉnh giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những khiếu kiện cụ thể như: (i) Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán nhà nước, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và quyết định hành chính, hành vi hành chính của người có thẩm quyền trong cơ quan đó mà người khởi kiện có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án; trường hợp người khởi kiện không có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên lãnh thổ Việt Nam thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nơi cơ quan, người có thẩm quyền ra quyết định hành chính, có hành vi hành chính. (ii) Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan thuộc một trong các cơ quan nhà nước nêu trên và quyết định hành chính, hành vi hành chính của người có thẩm quyền trong các cơ quan đó mà người khởi kiện có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án; trường hợp người khởi kiện không có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên lãnh thổ Việt Nam thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nơi cơ quan, người có thẩm quyền ra quyết định hành chính, có hành vi hành chính. (iii) Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước cấp tỉnh trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án và của người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước đó. (iv) Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc của người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp tỉnh, bộ, ngành trung ương mà người khởi kiện có nơi làm việc khi bị kỷ luật trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án; (v) Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh mà người khởi kiện có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án; (vi) Trong trường hợp cần thiết, Toà án cấp tỉnh có thể lấy lên để giải quyết khiếu kiện thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện; (vi) Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan đại diện ngoại giao của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan đó mà người khởi kiện có nơi cư trú trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án. Trường hợp người khởi kiện không có nơi cư trú tại Việt Nam, thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội hoặc Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh…
Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định thẩm quyền giải quyết khiếu kiện đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện thì không thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện mà thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Việc quy định như vậy sẽ bảo đảm tính hiệu quả, khả thi, độc lập và khách quan trong việc giải quyết các khiếu kiện hành chính, tuy nhiên, cần nghiên cứu theo hướng quy định việc giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong việc đi lại khởi kiện cũng như để phù hợp với tiến trình cải cách tư pháp về mở rộng thẩm quyền cho cơ quan tư pháp cấp huyện.
Có thể nói, thẩm quyền xét xử hành chính của Tòa án nhân dân được xác lập trên cơ sở các quan niệm, quan điểm, lý luận chung về chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của hệ thống Tòa án nói chung và thẩm quyền xét xử hành chính nói riêng. Những cơ sở lý luận đó cũng chính là căn cứ quan trọng cho việc xác lập thể chế về tố tụng hành chính - cơ sở pháp lý xác định thẩm quyền xét xử hành chính của Tòa án nhân dân. Việc xác định thiết chế tư pháp về tài phán hành chính và xác định thẩm quyền xét xử hành chính của Tòa án nhân dân ở nước ta hiện nay là một quá trình hoàn thiện bộ máy nhà nước nói chung cũng như hệ thống Tòa án nói riêng, trong đó, việc xác định thẩm quyền xét xử vụ án hành chính theo lãnh thổ có ý nghĩa quan trọng. Qua đó, giúp cho nền tư pháp Việt Nam ngày càng khẳng định rõ vị thế trong mối quan hệ với các cơ quan nhà nước khác, đồng thời, là căn cứ quan trọng tăng cường hiệu lực, hiệu quả xét xử của hệ thống Tòa án nhân dân ở Việt Nam.

Đại úy, ThS. Đỗ Văn Thanh
Học viện Cảnh sát nhân dân, Bộ Công an

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).

Theo dõi chúng tôi trên: