Thứ sáu 16/01/2026 01:31
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thể chế tổ chức thi hành pháp luật ở Việt Nam

Tổ chức thi hành pháp luật là công việc tương đối phức tạp, với nhiều nội dung phong phú, từ việc chuẩn bị, lên kế hoạch đến cuối cùng là kiểm tra, giám sát, giải quyết khiếu nại, tố cáo… Chính vì vậy, thể chế tổ chức thi hành pháp luật cũng khá phức tạp, bao gồm rất nhiều quy định, được chứa đựng ở nhiều văn bản khác nhau, điều chỉnh nhiều hoạt động, liên quan đến nhiều cá nhân, cơ quan, tổ chức khác nhau.

1. Khái quát về thể chế tổ chức thi hành pháp luật

Thể chế là một thuật ngữ Hán Việt, gần nghĩa với thể lệ, trong đó, “thể” là cái làm thành bản chất của sự vật, hiện tượng, “chế” là phép tắc, “thể chế” là biểu hiện của bản chất thành luật lệ, phép tắc, quy tắc, quy định[1]. Từ điển tiếng Việt định nghĩa thể chế là “những quy định, luật lệ của một chế độ xã hội, buộc mọi người phải tuân theo”[2]. Như vậy, trong lĩnh vực pháp lý, thuật ngữ thể chế có thể được hiểu và sử dụng tương đồng với thuật ngữ pháp luật. Pháp luật của một quốc gia lại được chia thành từng lĩnh vực khác nhau, tương ứng với các lĩnh vực của đời sống, như pháp luật khiếu nại, tố cáo; pháp luật giao thông; pháp luật xây dựng… Tương ứng, chúng ta có cách nói thể chế khiếu nại, tố cáo, thể chế giao thông, thể chế xây dựng, thể chế tổ chức thi hành pháp luật, thể chế theo dõi thi hành pháp luật…

Thể chế tổ chức thi hành pháp luật là một bộ phận trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bao gồm toàn bộ các quy định của pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội trong việc tổ chức thi hành pháp luật, đưa pháp luật vào đời sống. Tổ chức thi hành pháp luật là công việc tương đối phức tạp, với nhiều nội dung phong phú, từ việc chuẩn bị, lên kế hoạch đến cuối cùng là kiểm tra, giám sát, giải quyết khiếu nại, tố cáo… Chính vì vậy, thể chế tổ chức thi hành pháp luật cũng khá phức tạp, bao gồm rất nhiều quy định, được chứa đựng ở nhiều văn bản khác nhau, điều chỉnh nhiều hoạt động, liên quan đến nhiều cá nhân, cơ quan, tổ chức khác nhau.

Đối tượng điều chỉnh của thể chế tổ chức thi hành pháp luật là các quan hệ xã hội nảy sinh trong quá trình đưa pháp luật vào đời sống. Đó là những quan hệ xã hội giữa các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước với nhau, quan hệ giữa cơ quan nhà nước, nhà chức trách có thẩm quyền với cá nhân, tổ chức trong xã hội. Tổ chức thi hành pháp luật là trách nhiệm của cả bộ máy nhà nước cũng như mọi cá nhân, tổ chức có thẩm quyền, trong đó trước tiên là Nhà nước. Trong bộ máy nhà nước, trách nhiệm tổ chức thi hành pháp luật chủ yếu và trước hết thuộc về cơ quan hành pháp: Chính phủ, các bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp. Do vậy, các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức thi hành pháp luật cũng chủ yếu nảy sinh giữa các cơ quan hành pháp với nhau, giữa cơ quan hành pháp với các cá nhân, tổ chức trong xã hội. Đó có thể là quan hệ giữa các chủ thể có quan hệ lệ thuộc về mặt tổ chức, cũng có thể là quan hệ giữa các chủ thể không có mối quan hệ phụ thuộc, ràng buộc về mặt tổ chức.

2. Quá trình phát triển của thể chế về tổ chức thi hành pháp luật ở Việt Nam

2.1. Thể chế về chủ thể tổ chức thi hành pháp luật

Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 đã quy định trách nhiệm tổ chức thi hành pháp luật với tính chất là một nhiệm vụ riêng biệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, chính quyền địa phương các cấp. Có thể nói, đây là lần đầu tiên pháp luật quy định rõ trách nhiệm tổ chức thi hành pháp luật của hệ thống cơ quan hành pháp.

Hiến pháp năm 2013 không quy định nhiệm vụ tổ chức thi hành pháp luật đối với Quốc hội, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan bầu cử, cơ quan kiểm toán nhà nước. Trong phạm vi hoạt động, Quốc hội, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan bầu cử, cơ quan kiểm toán nhà nước vẫn phải thực hiện nhiệm vụ tổ chức thi hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Tuy nhiên, các cơ quan này không phải là cơ quan chuyên trách tổ chức thực hiện pháp luật, việc tổ chức thực hiện pháp luật không phải là một nhiệm vụ, quyền hạn riêng biệt, độc lập của nó[3].

Như vậy có thể nói, pháp luật đã xác định khá rõ các chủ thể có chức năng, nhiệm vụ trong công tác tổ chức thi hành pháp luật. Tuy nhiên, thẩm quyền cụ thể trong hoạt động tổ chức thi hành pháp luật thì nhìn chung chưa được pháp luật quy định, chưa quy định một cơ quan đầu mối chính giúp Chính phủ trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước thống nhất đối với công tác tổ chức thực hiện pháp luật[4]. Chính vì vậy, các chủ thể hữu quan chưa xác định được một cách rõ ràng những nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm cụ thể của họ trong tổ chức thi hành pháp luật.

2.2. Thể chế về nội dung tổ chức thi hành pháp luật

2.2.1. Thể chế về rà soát hệ thống pháp luật

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 là văn bản đầu tiên quy định về rà soát hệ thống pháp luật nhưng cũng chỉ quy định chung chung, khái quát về chủ thể thực hiện rà soát, nội dung rà soát, phạm vi rà soát và xử lý kết quả rà soát. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004 kế thừa quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996, lần đầu tiên cụ thể hóa một số khía cạnh của hoạt động rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương. Có thể nói, thời kỳ này chưa có khung thể chế đầy đủ, vì vậy, chưa làm nổi bật vai trò của rà soát hệ thống pháp luật đối với hoạt động xây dựng cũng như tổ chức thi hành pháp luật.

Rà soát hệ thống pháp luật được quan tâm mạnh mẽ hơn sau sự ra đời của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008. Cụ thể hóa Luật này, ngày 06/02/2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 16/2013/NĐ-CP về rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật; tiếp theo đó, ngày 15/6/2013, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 09/2013/TT-BTP quy định chi tiết thi hành Nghị định số 16/2013/NĐ-CP ngày 06/02/2013 của Chính phủ về rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật.

Về cơ bản, thể chế rà soát hệ thống pháp luật đã tương đối đầy đủ, tuy nhiên, cần phải tiếp tục hoàn thiện theo hướng xác định rõ hơn trách nhiệm rà soát hệ thống pháp luật của cơ quan ban hành văn bản; cùng với việc ban hành văn bản mới phải đồng thời sửa đổi, bổ sung hoặc kiến nghị sửa đổi, bổ sung những văn bản hiện hành nếu thấy cần thiết, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, nhất quán của hệ thống pháp luật, có như vậy công tác tổ chức thi hành pháp luật mới có thể diễn ra một cách dễ dàng, thuận lợi.

2.2.2. Thể chế về quy định chi tiết văn bản của cấp trên, quy định biện pháp để tổ chức thi hành văn bản của cấp trên, quy định biện pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước

Hoạt động quy định chi tiết văn bản của cấp trên lần đầu tiên được điều chỉnh trong Hiến pháp năm 1992 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996, trong đó, xác định rõ khi nào được ban hành văn bản quy định chi tiết, chủ thể có thẩm quyền ban hành và hình thức văn bản quy định chi tiết. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 gần như giữ nguyên các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 về hoạt động ban hành văn bản quy định chi tiết văn bản của cấp trên. Với sự ra đời của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, nhiều khía cạnh mới đã được đề cập để củng cố thể chế quy định chi tiết văn bản của cấp trên. Luật này đã quy định cụ thể thẩm quyền quy định chi tiết, các trường hợp được quy định chi tiết, nội dung quy định chi tiết… Tuy nhiên, vấn đề thẩm quyền, các trường hợp, nội dung, biện pháp cụ thể để tổ chức thi hành văn bản của cấp trên cũng như biện pháp để thực hiện chức năng quản lý nhà nước của các cơ quan quản lý nhà nước vẫn chưa được pháp luật quy định đầy đủ, rõ ràng, dễ tạo ra tình trạng lạm quyền, mỗi nơi làm một kiểu… Chính vì vậy, thực tiễn đòi hỏi phải sớm bổ sung, hoàn thiện các quy định liên quan đến việc ban hành văn bản để quy định các biện pháp tổ chức thi hành văn bản của cấp trên; biện pháp để thực hiện các vấn đề thuộc thẩm quyền quản lý, điều hành của cơ quan nhà nước, tạo thuận lợi cho các chủ thể công quyền nhưng đồng thời cũng phải bảo đảm phục vụ người dân, doanh nghiệp một cách tốt nhất.

2.2.3. Thể chế về phổ biến, giáo dục pháp luật

Trước năm 2012, thể chế về hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật chỉ có quy định mang tính nguyên tắc trong Hiến pháp về trách nhiệm tổ chức và lãnh đạo công tác tuyên truyền, giáo dục Hiến pháp, pháp luật. Đáp ứng nhu cầu của thực tiễn, năm 2012, Quốc hội thông qua Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật, cùng với đó, các cơ quan có thẩm quyền cũng ban hành nhiều văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật. Đến nay, có nhiều văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, tạo thành thể chế phổ biến, giáo dục pháp luật tương đối toàn diện. Gần mười năm qua, kể từ khi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật được ban hành, đời sống xã hội có nhiều thay đổi đáng kể, những quy định trong Luật này vì thế đã bộc lộ những điểm bất cập, đòi hỏi phải có sự sửa đổi, bổ sung, cập nhật kịp thời. Trong đó, hướng tiếp cận quan trọng đó là cần phải coi phổ biến, giáo dục pháp luật như một loại hình dịch vụ mà các cá nhân, tổ chức có thể cung ứng cho xã hội. Ở đó, các cơ quan có thẩm quyền chỉ đóng vai trò là người tổ chức cho các cá nhân, tổ chức thực hiện cung ứng dịch vụ có chất lượng cho xã hội.

2.2.4. Thể chế về tạo lập bộ máy, nhân sự và các nguồn lực bảo đảm cho công tác thi hành pháp luật, chỉ đạo điều hành, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình thi hành pháp luật

- Về tạo lập bộ máy cho công tác thi hành pháp luật: Đây là nhóm quy định hình thành rất sớm trong hệ thống pháp luật. Hiến pháp, các luật về tổ chức bộ máy nhà nước chỉ dừng lại ở những thiết chế cơ bản, còn lại các thiết chế khác được điều chỉnh bởi văn bản dưới luật, trong đó chủ yếu là nghị định, quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng… Trên cơ sở Hiến pháp, các luật về tổ chức bộ máy nhà nước, các cơ quan có thẩm quyền ban hành các văn bản cụ thể quy định về cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các thiết chế có trách nhiệm thi hành pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật; đồng thời quy định về tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình tuyển dụng, bổ nhiệm… Có thể thấy rằng, mặc dù liên tục được hoàn thiện nhưng các quy định trong nhóm này vẫn còn nhiều hạn chế mà biểu hiện dễ nhận thấy là những hiện tượng bộ máy cồng kềnh, thiếu thống nhất, quy trình thiếu chặt chẽ…

- Về tạo lập và sử dụng các nguồn kinh phí bảo đảm cho công tác thi hành pháp luật: Ở Việt Nam, pháp luật về ngân sách nhà nước hình thành từ khá sớm. Ngay từ Hiến pháp năm 1946 đã có các quy định về thẩm quyền của Nghị viện nhân dân trong việc quyết định ngân sách nhà nước, đặt ra, sửa đổi, bãi bỏ các loại thuế. Các bản Hiến pháp sau này đều tiếp tục quy định điều đó. Năm 1996, Luật Ngân sách nhà nước ra đời, đánh dấu bước phát triển mới cho pháp luật về ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, Luật Ngân sách nhà nước, các văn bản hướng dẫn thi hành cũng như các văn bản quy phạm pháp luật khác đều không quy định cụ thể về các khoản chi cho từng hoạt động cụ thể trong quá trình tổ chức thi hành pháp luật. Bởi vậy, trên thực tế, kinh phí cho từng hoạt động cụ thể trong quá trình tổ chức thực hiện pháp luật được xác định trong các đề án về các hoạt động cụ thể được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

- Về chỉ đạo, điều hành, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực thi pháp luật: Có thể nói, chỉ đạo, điều hành, đôn đốc, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc là những hoạt động thường xuyên, hàng ngày của công tác tổ chức thi hành pháp luật. Tuy nhiên, đây là những hoạt động hết sức đa dạng, phức tạp, vì thế, khó có thể chế nào có thể quy định một cách cụ thể. Thực tế cho thấy, pháp luật thường chỉ quy định một cách chung nhất về thẩm quyền của cơ quan, nhà chức trách, về ý thức trách nhiệm, tinh thần, thái độ làm việc của họ.

2.2.5. Thể chế áp dụng pháp luật

Một là, các quy định về áp dụng pháp luật trong quản lý hành chính nhà nước

Có thể nói, các quy định về áp dụng pháp luật trong quản lý hành chính nhà nước được hình thành rất sớm. Xuất phát từ tư duy, pháp luật là công cụ để Nhà nước quản lý xã hội, cho nên, ngay từ những văn bản pháp luật đầu tiên, Nhà nước đã quy định về các trường hợp cũng như thẩm quyền áp dụng pháp luật trong hoạt động quản lý, điều hành của các cơ quan quản lý nhà nước. Cùng với sự phát triển, hoàn thiện của hệ thống pháp luật nói chung, các quy định về điều kiện, trình tự, thủ tục, quy trình áp dụng pháp luật từng bước được hoàn thiện.

Năm 1994 đánh dấu sự phát triển của thể chế áp dụng pháp luật trong quản lý hành chính, đó là sự ra đời của văn bản về cải cách thủ tục hành chính, cụ thể là Nghị quyết số 38-CP ngày 04/5/1994 của Chính phủ về cải cách một bước thủ tục hành chính trong việc giải quyết công việc của công dân và tổ chức. Từ đó đến nay, Nhà nước luôn chú trọng việc cải cách thủ tục hành chính. Theo quy định tại Điều 14 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, ngoài văn bản của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các văn bản quy phạm pháp luật khác không được quy định thủ tục hành chính. Ngay cả những văn bản quy phạm pháp luật được phép quy định thủ tục hành chính thì nội dung này cũng phải hết sức thận trọng và luôn được thẩm định một cách kỹ lưỡng về sự cần thiết, tính hợp lý và chi phí tuân thủ các thủ tục hành chính trong dự thảo văn bản. Tuy nhiên, vẫn phải thừa nhận rằng, thủ tục hành chính nhìn chung vẫn phức tạp, rườm rà, gây không ít khó khăn cho người dân, doanh nghiệp trong quá trình thi hành pháp luật.

Hai là, các quy định về áp dụng pháp luật trong hoạt động tư pháp

Đây là hoạt động áp dụng pháp luật gắn liền với Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan điều tra…

Trong lĩnh vực hình sự, ngay khi vừa ra đời, Nhà nước đã ban hành những văn bản pháp luật đầu tiên về trừng trị các tội phản cách mạng, đồng thời thành lập các Tòa án đặc biệt để xét xử các hành vi phạm tội. Tiếp đó, Nhà nước từng bước hoàn thiện hệ thống thể chế về hoạt động áp dụng pháp luật để xử lý các hành vi phạm tội.

Trong lĩnh vực dân sự, thương mại, lao động, các quy định về áp dụng pháp luật giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực này cũng từng bước phát triển hoàn thiện. Dấu mốc quan trọng trong sự phát triển của nhóm quy định này phải kể đến sự ra đời của 03 pháp lệnh: Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 và Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996. Lần đầu tiên, việc áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật thuộc lĩnh vực luật tư được quy định tập trung và thống nhất trong một văn bản cụ thể. Đây là tiền đề cho sự ra đời của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Đặc biệt, với sự ra đời của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996, lần đầu tiên ở Việt Nam, tranh chấp giữa cơ quan hành chính với người dân được giải quyết bằng con đường Tòa án. Năm 2010, pháp lệnh này được thay thế bởi Luật Tố tụng hành chính. Đến năm 2015, Quốc hội khóa XIII ban hành luật mới thay thế Luật Tố tụng hành chính năm 2010.

2.2.6. Thể chế về kiểm tra, giám sát, theo dõi thi hành pháp luật

Các quy định về theo dõi việc thi hành pháp luật xuất hiện khá muộn trong hệ thống pháp luật Việt Nam, với sự ra đời của Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23/7/2012 của Chính phủ về theo dõi tình hình thi hành pháp luật (được sửa đổi, bổ sung năm 2020, bằng Nghị định số 32/2020/NĐ-CP ngày 05/3/2020 của Chính phủ). Tuy nhiên, nếu hiểu theo dõi thi hành pháp luật theo nghĩa rộng, bao gồm cả kiểm tra, thanh tra, giám sát… thì thể chế về lĩnh vực này cũng đã được hình thành từ lâu với sự ra đời của các văn bản như Luật Thanh tra, Luật Tố cáo, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, Luật Kiểm toán…

Pháp luật hiện hành không coi công tác theo dõi phòng, chống tham nhũng, giám sát, thanh tra… là hoạt động theo dõi thi hành pháp luật; chưa gắn kết việc theo dõi thi hành pháp luật với việc tố cáo của cá nhân, tổ chức; chưa coi trọng theo dõi thi hành pháp luật trong việc tổ chức thi hành pháp luật của cơ quan có thẩm quyền; chưa gắn kết theo dõi thi hành pháp luật với kiểm soát quyền lực nhà nước; vấn đề bảo đảm, bảo vệ quyền con người trong theo dõi thi hành pháp luật không được đặt ra… Theo tác giả, đây là những bất cập rất đáng kể trong pháp luật hiện hành về theo dõi thi hành pháp luật.

2.2.7. Thể chế về ứng phó sự cố, thảm họa

Sự cố, thảm họa xảy ra trong đời sống khá đa dạng và phức tạp, khó lường. Hoạt động ứng phó sự cố, thảm họa phải được coi là một nội dung quan trọng của công tác tổ chức thi hành pháp luật. Hiện nay, trong hệ thống pháp luật Việt Nam, thể chế về ứng phó sự cố, thảm họa chủ yếu bao gồm các quy định liên quan đến các tình huống sự cố, thảm họa, đó là chiến tranh, thiên tai và dịch bệnh, trong đó chủ yếu là các quy định về ứng phó sự cố, thảm họa thiên tai, dịch bệnh. Các quy định về phòng, chống thiên tai, dịch bệnh ra đời từ khá sớm, có thể kể đến như: Pháp lệnh Phòng, chống lụt bão năm 1993 (năm 2013 được thay thế bằng Luật Phòng, chống thiên tai), Pháp lệnh Tình trạng khẩn cấp năm 2000, Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007, Luật Đê điều năm 2006, Luật Tài nguyên nước năm 2012…

2.2.8. Thể chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quá trình tổ chức thi hành pháp luật

Hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quá trình tổ chức thi hành pháp luật được quan tâm từ rất sớm. Đặc biệt, năm 1998, Quốc hội đã thông qua Luật Khiếu nại, tố cáo, đây là văn bản luật đầu tiên quy định tương đối đầy đủ, có hệ thống về khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo. Đến năm 2011, Quốc hội lần lượt ban hành hai văn bản luật mới là Luật Tố cáo và Luật Khiếu nại thay thế cho Luật Khiếu nại, tố cáo đã điều chỉnh một cách cụ thể, chi tiết hơn các quan hệ xã hội về khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo, tuy nhiên, nhiều quy định vẫn còn mang tính nguyên tắc, chưa cụ thể, thiếu thống nhất, dẫn đến làm giảm hiệu quả của công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo nói chung.

2.3. Thể chế về kiểm soát việc thực hiện chức trách trong tổ chức thi hành pháp luật

Các quy định về kiểm soát việc thực hiện trách nhiệm trong tổ chức thi hành pháp luật xuất hiện khá sớm. Trước đây, Viện kiểm sát nhân dân có vai trò kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan nhà nước địa phương, các nhân viên cơ quan nhà nước và công dân[5] (kiểm sát chung). Đến ngày 25/12/2001, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 51/2001/QH10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, theo đó, hệ thống Viện kiểm sát nhân dân không còn chức năng kiểm sát chung như trước đây.

Cùng với các quy định trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác, Luật Thanh tra quy định rõ việc kiểm soát việc thực hiện chức trách trong tổ chức thi hành pháp luật. Luật quy định rõ nguyên tắc thanh tra, xác định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thanh tra, cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành, đặc biệt, Luật quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra từng cấp, tạo cơ sở để kiểm soát việc thực thi quyền lực nhà nước trong lĩnh vực này. Cụ thể hóa Luật Thanh tra, Thông tư số 01/2013/TT-TTCP ngày 12/3/2013 của Thanh tra Chính phủ quy định về hoạt động theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra cũng tạo cơ sở pháp lý vững chắc hơn nữa để tăng cường kiểm soát việc thực hiện chức trách trong tổ chức thi hành pháp luật nếu phát hiện sai phạm. Bên cạnh đó, việc kiểm soát việc thực hiện chức trách trong tổ chức thi hành pháp luật còn được quy định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

3. Đề xuất hoàn thiện thể chế tổ chức thi hành pháp luật ở Việt Nam

Có thể nói, hoạt động tổ chức thi hành pháp luật ở nước ta hiện nay còn có những hạn chế, yếu kém nhất định[6]. Điều đó bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, một trong những nguyên nhân đó là thể chế tổ chức thi hành pháp luật. Do vậy, để hoạt động tổ chức thi hành pháp luật được tiến hành một cách có hiệu quả, cần khẩn trương hoàn thiện hệ thống thể chế về tổ chức thi hành pháp luật. Đây là công việc “khổng lồ” và hết sức phức tạp, đòi hỏi phải làm từng bước, có chất lượng.

Trước hết, cần xác định thật rõ nội dung của công tác tổ chức thi hành pháp luật, bởi lẽ, chỉ có trên cơ sở xác định rõ nội dung của công tác này mới có cơ sở để rà soát, hệ thống hóa, xây dựng và hoàn thiện thể chế về tổ chức thi hành pháp luật. Theo đó, cần hoàn thiện nhóm thể chế về thẩm quyền của các cơ quan, nhà chức trách trong tổ chức thi hành pháp luật, xác định rõ những nhiệm vụ phải làm để đưa pháp luật vào cuộc sống. Tiếp theo đó, hoàn thiện thể chế về rà soát hệ thống pháp luật, thể chế phổ biến, giáo dục pháp luật; thể chế kiểm tra, giám sát, theo dõi việc thi hành pháp luật; thể chế về ứng phó sự cố, thảm họa; thể chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quá trình tổ chức thi hành pháp luật; thể chế về kiểm soát việc thực hiện chức trách trong tổ chức thi hành pháp luật.

Về lâu dài, cần nghiên cứu xây dựng, ban hành Luật Tổ chức thi hành pháp luật. Luật này cần quy định rõ ràng, đầy đủ nghĩa vụ, quyền hạn của các chủ thể trong tổ chức thi hành pháp luật, quy định rõ vai trò, trách nhiệm của từng cơ quan, cá nhân công chức trong việc tổ chức thi hành pháp luật; xác định rõ nội dung của tổ chức thi hành pháp luật; xác định rõ hình thức, biện pháp, cơ chế thực thi cụ thể từng nội dung tổ chức thi hành pháp luật, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức trong tổ chức thi hành pháp luật; nội dung các biện pháp để tổ chức thi hành văn bản của cơ quan cấp trên; hiệu lực pháp lý của các văn bản trả lời cấp dưới, trong đó, có nội dung giải thích, hướng dẫn thi hành quy định cụ thể trong văn bản của cấp trên; những phương tiện, biện pháp có thể sử dụng; trách nhiệm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc; các biện pháp ứng phó, xử lý tình huống trong quá trình tổ chức thi hành pháp luật; các biện pháp ngăn chặn vi phạm pháp luật có thể xảy ra hoặc tiếp tục tái diễn…; xác định rõ cơ chế kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động tổ chức thi hành pháp luật… Đặc biệt, các quy định về trách nhiệm của các cơ quan, công chức nhà nước, kỷ luật công vụ trong việc tổ chức thi hành pháp luật phải hết sức rõ ràng, cần phải lượng hóa trách nhiệm và kỷ luật công vụ, xác định rõ hành vi vi phạm trong quá trình thực thi công vụ và biện pháp xử lý đối với hành vi đó, tránh tình trạng quy kết theo kiểu “thiếu tinh thần trách nhiệm”; “trách nhiệm chưa cao”; qua đó, có cơ sở để quy định đầy đủ, rõ ràng chế tài đối với hành vi lơ là, thiếu trách nhiệm hoặc lạm quyền trong tổ chức thi hành pháp luật…

TS. Nguyễn Văn Năm
Đại học Luật Hà Nội




[1]. Phan Ngọc, Mẹo giải nghĩa từ Hán Việt và chữa lỗi chính tả, Nxb. Thanh Niên, H. 2000, tr. 338.

[2]. Viện ngôn ngữ học (Trung tâm từ điển học), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà nẵng, 1997, tr. 900.

[3]. Trần Ngọc Đường, Tổ chức thi hành pháp luật theo Hiến pháp năm 2013 - nhân tố đảm bảo thực hiện nguyên tắc pháp quyền trong đời sống nhà nước và xã hội, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 9/2018.

[4]. Trần Ngọc Đường, sđd.

[5]. Điều 105 Hiến pháp năm 1959.

[6]. Xem: Chính phủ, Báo cáo tổng kết công tác thi hành pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật năm 2020.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: