Chủ nhật 11/10/2026 07:09
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Theo dõi thi hành pháp luật - Thành tố của tổ chức thi hành pháp luật

Tổ chức thi hành và theo dõi thi hành pháp luật là chức năng, nhiệm vụ của cơ quan hành chính nhà nước các cấp được quy định trong Hiến pháp năm 2013. Bài viết này nhận diện, phân tích mối quan hệ giữa tổ chức thi hành pháp luật và theo dõi thi hành pháp luật, từ đó, làm rõ khái niệm, nội dung điều chỉnh của pháp luật về theo dõi thi hành pháp luật.


1. Nhận diện mối quan hệ giữa theo dõi thi hành pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật

Tổ chức thi hành pháp luật là hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước các cấp thực hiện để tạo điều kiện, tạo tiền đề và bảo đảm việc hiện thực hóa các yêu cầu của pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống. Đây là hoạt động mang tính hệ thống, tổ chức, sắp xếp các điều kiện cần thiết cho pháp luật được thi hành trên thực tế. Điều 183 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã quy định những hoạt động tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật. Căn cứ vào quy định này, có thể chia thành ba nhóm hoạt động sau:

Thứ nhất, nhóm các hoạt động chuẩn bị các điều kiện cần thiết đưa văn bản, quy định pháp luật vào thi hành trong thực tế, gồm có: Công khai văn bản quy phạm pháp luật; ban hành văn bản hướng dẫn; tuyên truyền, phổ biến pháp luật; kiện toàn tổ chức bộ máy, biên chế, bố trí kinh phí, cơ sở vật chất cho thi hành pháp luật…

Thứ hai, nhóm các hoạt động thi hành pháp luật trên thực tế: Thực hiện chính sách, biện pháp trong văn bản quy phạm pháp luật.

Thứ ba, nhóm các hoạt động theo dõi thi hành pháp luật như: Thu thập thông tin, tiếp nhận phản ánh, kiến nghị về tình hình thi hành pháp luật; kiểm tra, đôn đốc việc thi hành pháp luật và tổng kết, đánh giá việc thi hành pháp luật..

Tổ chức thi hành pháp luật là chức năng, nhiệm vụ của cơ quan hành chính nhà nước được Hiến pháp ghi nhận, thuộc lĩnh vực điều chỉnh của các ngành luật hành chính, luật hiến pháp. Pháp luật về tổ chức thi hành pháp luật bao gồm tổng thể các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức, cá nhân trong việc tổ chức thi hành pháp luật sau khi được Nhà nước ban hành, nhằm hiện thực hóa, đưa quy định của pháp luật trong các văn bản quy phạm pháp luật vào đời sống. Theo dõi thi hành pháp luật là một trong những nội dung quan trọng của quá trình tổ chức thi hành pháp luật, do đó, pháp luật về theo dõi thi hành pháp luật cũng là một bộ phận của pháp luật về tổ chức thi hành pháp luật và là nhóm quy phạm pháp luật thuộc các ngành luật hành chính và ngành luật hiến pháp.

2. Khái niệm pháp luật về theo dõi thi hành pháp luật

Theo dõi thi hành pháp luật là một trong những hoạt động quan trọng của tổ chức thi hành pháp luật mà nội dung chủ yếu của nó là theo dõi, đánh giá quá trình đưa pháp luật vào đời sống của các cơ quan nhà nước, các tổ chức và cá nhân trong xã hội. Đó là việc cơ quan hành chính nhà nước các cấp tổ chức, thực hiện các hoạt động thu thập thông tin, xem xét, đánh giá hoạt động thi hành pháp luật của các chủ thể thi hành pháp luật, qua đó, kiến nghị thực hiện các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật, bảo đảm pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh trong đời sống[1].

Để điều chỉnh hoạt động theo dõi thi hành pháp luật đạt hiệu quả, đáp ứng mục đích đề ra, Nhà nước ban hành quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình theo dõi thi hành pháp luật như: Quan hệ trong nội bộ hệ thống cơ quan hành chính nhà nước (Chính phủ, các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các cấp); quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với các cơ quan nhà nước (Quốc hội, Tòa án, Viện kiểm sát) và các tổ chức, cá nhân trong xã hội. Theo dõi thi hành pháp luật là hoạt động gắn liền với quá trình thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan hành chính nhà nước, do đó, pháp luật về theo dõi thi hành pháp luật về cơ bản được điều chỉnh trong các văn bản quy phạm pháp luật về tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước. Pháp luật về theo dõi thi hành pháp luật có những quy phạm ở mức thiết lập những nguyên tắc pháp lý chung, đồng thời, có những quy phạm cụ thể để điều chỉnh những quan hệ phát sinh giữa chủ thể theo dõi và đối tượng theo dõi thi hành pháp luật, chủ thể theo dõi thi hành pháp luật và các chủ thể phối hợp, tham gia hoạt động theo dõi thi hành pháp luật, thể hiện trong nhiều văn bản khác nhau như: Hiến pháp; các đạo luật về tổ chức bộ máy của các cơ quan nhà nước; các văn bản dưới luật như nghị định, thông tư và văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương về theo dõi thi hành pháp luật; các văn bản liên tịch giữa cơ quan nhà nước và các tổ chức chính trị, chính trị xã hội hay các quy chế phối hợp trong hoạt động theo dõi thi hành pháp luật.

Như vậy, có thể hiểu, pháp luật về theo dõi thi hành pháp luật là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa cơ quan hành chính nhà nước các cấp với các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình thu thập thông tin, xem xét, đánh giá thực trạng thi hành pháp luật và kiến nghị, thực hiện các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, hoàn thiện hệ thống pháp luật.

3. Nội dung điều chỉnh của pháp luật về theo dõi thi hành pháp luật

Pháp luật về theo dõi thi hành pháp luật là tổng thể các quy phạm pháp luật có mối liên hệ chặt chẽ, thống nhất, điều chỉnh các nhóm quan hệ sau:

3.1. Nhóm các quy phạm pháp luật xác định địa vị pháp lý của chủ thể theo dõi và đối tượng theo dõi thi hành pháp luật

Chủ thể theo dõi thi hành pháp luật là cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền thu thập thông tin, xem xét, đánh giá, tác động đến hoạt động thi hành pháp luật của các cơ quan nhà nước, các tổ chức, cá nhân trong xã hội, định hướng cho hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức, cá nhân đi đúng hướng, để pháp luật được tuân thủ trong thực tiễn. Theo Hiến pháp năm 2013, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ được Hiến pháp quy định là chủ thể tổ chức thi hành và theo dõi thi hành pháp luật liên quan đến ngành, lĩnh vực trong phạm vi toàn quốc[2]. Hiến pháp năm 2013 không quy định rõ trách nhiệm theo dõi thi hành pháp luật của của cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương và địa phương như: Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp. Tuy nhiên, từ những quy định của Hiến pháp cho thấy trách nhiệm tổ chức thi hành Hiến pháp, pháp luật là nhiệm vụ chủ yếu của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp thì có thể xác định được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tổ chức theo dõi thi hành pháp luật. Do đó, pháp luật về theo dõi thi hành pháp luật cần cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 về vai trò của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các cấp trong theo dõi thi hành pháp luật. Quy định rõ ràng, cụ thể các chủ thể theo dõi thi hành pháp luật sẽ tạo cơ sở pháp lý cho các chủ thể này tổ chức thực hiện các hoạt động theo dõi thi hành pháp luật đúng thẩm quyền, trách nhiệm.

Đối tượng theo dõi thi hành pháp luật là các chủ thể thi hành pháp luật, bao gồm: Các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền, các tổ chức và cá nhân trong xã hội. Pháp luật về theo dõi thi hành pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ của đối tượng theo dõi tương ứng với quyền và nghĩa vụ của chủ thể theo dõi khi tham gia các quan hệ pháp luật về theo dõi thi hành pháp luật.

3.2. Nhóm các quy phạm xác định phạm vi theo dõi thi hành pháp luật

Việc xác định phạm vi theo dõi có ý nghĩa rất quan trọng vì nếu không xác định rõ phạm vi theo dõi sẽ dẫn đến tình trạng trùng chéo, chồng lấn lên chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước. Pháp luật về theo dõi thi hành pháp luật xác định phạm vi theo dõi thi hành pháp luật phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của cơ quan hành chính nhà nước quy định trong Hiến pháp năm 2013, theo đó cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương theo dõi hoạt động thi hành: Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; lệnh, quyết định của Chủ tịch nước đối với những vấn đề liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và nội dung công việc của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước; theo dõi hoạt động thi hành nghị định của Chính phủ, thông tư quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ. Cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương theo dõi hoạt động thi hành các văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ban hành để hướng dẫn, triển khai thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật thuộc đối tượng theo dõi ở cấp trung ương.

3.3. Nhóm quy phạm pháp luật quy định các phương thức theo dõi theo dõi thi hành pháp luật

Phương thức theo dõi thi hành pháp luật là phương pháp, cách thức để tiến hành các hoạt động theo dõi thi hành pháp luật trên thực tế. Hoạt động theo dõi thi hành pháp luật được thực hiện bởi nhiều chủ thể thông qua các phương pháp, cách thức theo dõi khác nhau, giản đơn hay phức tạp tùy thuộc vào phạm vi theo dõi thi hành pháp luật, được thực hiện bởi hai phương thức là theo dõi trực tiếp và theo dõi gián tiếp.

Theo dõi trực tiếp là việc cơ quan hành chính nhà nước trực tiếp, tự mình thực hiện các hoạt động theo dõi thi hành pháp luật như: (i) Ban hành kế hoạch theo dõi thi hành pháp luật; (ii) Thu thập thông tin từ các báo cáo hành chính; trên các phương tiện thông tin đại chúng, các nguồn thông tin hợp pháp khác; (iii) Kiểm tra, điều tra, khảo sát về hoạt động thi hành pháp luật; (iv) Đánh giá, xử lý kết quả theo dõi thi hành pháp luật; (v) Báo cáo kết quả theo dõi thi hành pháp luật. Phương thức theo dõi thi hành pháp luật trực tiếp do cơ quan hành chính nhà nước tiến hành với đối tượng theo dõi thi hành pháp luật thuộc phạm vi quản lý nhà nước, chẳng hạn như Ủy ban nhân dân cấp tỉnh kiểm tra, điều tra, khảo sát về hoạt động thi hành pháp luật của Ủy ban nhân dân cấp huyện. Xuất phát từ đặc điểm của hoạt động theo dõi thi hành pháp luật mang tính quyền lực nhà nước trong quan hệ hành chính nhà nước là tính chấp hành - điều hành nên phương thức theo dõi thi hành pháp luật trực tiếp sử dụng phương pháp quyền uy - phục tùng. Pháp luật về theo dõi thi hành pháp luật quy định phương pháp này do chủ thể là cơ quan hành chính nhà nước thực hiện theo dõi thi hành pháp luật. Tuy nhiên, cơ quan hành chính nhà nước có thể huy động sự tham gia, phối hợp của các cơ quan nhà nước, các tổ chức, cá nhân khác tham gia để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

Theo dõi gián tiếp là việc cơ quan hành chính nhà nước thực hiện các hoạt động thu thập thông tin, xem xét, đánh giá, kiến nghị về hoạt động thi hành pháp luật của các chủ thể xã hội trên cơ sở thông tin do các tổ chức, cá nhân cung cấp. Phương thức này thể hiện đặc điểm mang tính xã hội của hoạt động theo dõi thi hành pháp luật nên pháp luật về theo dõi thi hành pháp luật sử dụng phương pháp khuyến khích, thỏa thuận nhằm tạo cơ chế để cơ quan hành chính nhà nước có thể huy động sự tham gia đông đảo của các tổ chức, cá nhân trong xã hội vào việc xem xét, đánh giá, kiến nghị về hoạt động thi hành pháp luật và gửi thông tin theo dõi thi hành pháp luật về cơ quan hành chính nhà nước để tổng hợp, phân tích, xử lý.

3.4. Nhóm quy phạm pháp luật quy định về trình tự, thủ tục theo dõi thi hành pháp luật

Trình tự, thủ tục thực hiện theo dõi thi hành pháp luật là cách thức, biện pháp cụ thể tiến hành hoạt động theo dõi được sắp xếp theo trật tự do pháp luật quy định, nhằm bảo đảm hiệu quả hoạt động theo dõi thi hành pháp luật. Trình tự, thủ tục thực hiện các hoạt động theo dõi thi hành pháp luật đa dạng và có nhiều cấp độ khác nhau, phụ thuộc vào phương thức theo dõi thi hành pháp luật nên pháp luật về theo dõi thi hành pháp luật cần có những quy phạm phù hợp với phương thức theo dõi để quy định trình tự, thủ tục phù hợp. Đối với phương thức theo dõi thi hành pháp luật trực tiếp, pháp luật về theo dõi thi hành pháp luật cần có quy định về trình tự, thủ tục rõ ràng cũng như quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ theo dõi thi hành pháp luật, nhất là các quy phạm điều chỉnh trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành kế hoạch và báo cáo theo dõi thi hành pháp luật; kiểm tra, điều tra, khảo sát về hoạt động thi hành pháp luật; xử lý kết quả theo dõi thi hành pháp luật. Đối với phương thức theo dõi gián tiếp, pháp luật về theo dõi thi hành pháp luật cần có quy phạm quy định về trình tự, thủ tục tiếp nhận, xử lý thông tin theo dõi thi hành pháp luật do các tổ chức, cá nhân trong xã hội cung cấp cho cơ quan hành chính nhà nước.

3.5. Nhóm các quy phạm pháp luật quy định về tiêu chí theo dõi thi hành pháp luật

Hoạt động thi hành pháp luật được coi là có hiệu quả khi kết quả thi hành pháp luật trên thực tế phù hợp với những mục đích, yêu cầu cần đạt được của pháp luật với mức chi phí thấp. Theo dõi thi hành pháp luật không đánh giá sự phù hợp của hành vi của các chủ thể với quy định của pháp luật mà chỉ đánh giá hiệu quả điều chỉnh pháp luật, nói một cách khác là xem pháp luật đi vào cuộc sống như thế nào[3]. Việc xác định nội dung đánh giá này sẽ phản ánh đúng bản chất của hoạt động theo dõi thi hành pháp luật là thu thập thông tin, xem xét, đánh giá và kiến nghị, thực hiện các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Điều này cũng giúp cho hoạt động theo dõi thi hành pháp luật không trùng lặp với các hoạt động thanh tra, kiểm tra của cơ quan hành chính nhà nước. Mặc dù, trong theo dõi thi hành pháp luật cũng có hoạt động kiểm tra nhưng đó không phải là kiểm tra việc chấp hành pháp luật (kiểm tra hành vi xử sự đúng hay không đúng với quy định của pháp luật) mà là kiểm tra hoạt động thi hành pháp luật để nắm bắt tình hình, phát hiện ra những sai sót, vướng mắc, bất cập trong quá trình tổ chức thi hành pháp luật, trong áp dụng pháp luật của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền và trong việc tuân thủ pháp luật của tổ chức, cá nhân. Do đó, pháp luật về theo dõi thi hành pháp luật quy định về các tiêu chí theo dõi cụ thể về mức độ hoàn thiện của pháp luật; mức độ đáp ứng các điều kiện bảo đảm cho thi hành pháp luật; mức độ tuân thủ pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xã hội.

3.6. Nhóm quy phạm pháp luật quy định về xử lý kết quả theo dõi thi hành pháp luật

Thông tin về hoạt động thi hành pháp luật tự sẽ không có giá trị nếu chỉ dừng ở mức độ thu thập mà không thực hiện quy trình xem xét, đánh giá, xử lý để kiến nghị thực hiện các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Xử lý kết quả theo dõi thi hành pháp luật là hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền thực hiện các biện pháp chủ yếu mang tính tổ chức, quản lý, điều hành để giải quyết các vướng mắc, bất cập trong quá trình đưa pháp luật vào cuộc sống. Tuy nhiên, trong quá trình theo dõi thi hành pháp luật nếu phát hiện vi phạm pháp luật thì căn cứ thẩm quyền, cơ quan theo dõi thi hành pháp luật thực hiện việc xử lý vi phạm hoặc kiến nghị xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật.

Pháp luật về theo dõi thi hành pháp luật quy định về các biện pháp xử lý kết quả theo dõi thi hành pháp luật và thẩm quyền xử lý để tạo cơ sở cho các chủ thể theo dõi thực hiện xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý. Các biện pháp xử lý kết quả theo dõi thi hành pháp luật thực hiện theo nguyên lý theo dõi vấn đề nào thì đánh giá, xử lý vấn đề đó. Như vậy, các biện pháp xử lý kết quả theo dõi thi hành pháp luật bao gồm biện pháp về hoàn thiện pháp luật; biện pháp về bảo đảm các điều kiện cho thi hành pháp luật; biện pháp về bảo đảm việc tuân thủ pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

3.7. Nhóm quy phạm pháp luật quy định về trách nhiệm của chủ thể có liên quan trong hoạt động theo dõi thi hành pháp luật

Hoạt động theo dõi thi hành pháp luật có liên quan đến nhiều chủ thể, gồm chủ thể tổ chức thực hiện theo dõi, chủ thể phối hợp, tham gia theo dõi, chủ thể là đối tượng theo dõi… và các chủ thể này phải có trách nhiệm rõ ràng, cụ thể trong hoạt động theo dõi thi hành pháp luật. Do đó, bên cạnh việc quy định rõ ràng thẩm quyền, trách nhiệm của chủ thể theo dõi thi hành pháp luật, pháp luật về theo dõi thi hành pháp luật cần quy định về trách nhiệm của các chủ thể liên quan đến hoạt động theo dõi thi hành pháp luật như: Trách nhiệm của đối tượng theo dõi thi hành pháp luật trong việc cung cấp thông tin, báo cáo, giải trình và tạo điều kiện cho chủ thể theo dõi thực hiện nhiệm vụ; trách nhiệm phối hợp, tham gia theo dõi thi hành pháp luật của các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước; trách nhiệm phối hợp, tham gia theo dõi thi hành pháp luật của các cơ quan nhà nước khác trong bộ máy nhà nước; trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân khi được huy động, tham gia vào hoạt động theo dõi thi hành pháp luật.

ThS. Phạm Ngọc Thắng
Cục Quản lý XLVPHC & TDTHPL, Bộ Tư pháp



[1]. Điều 3 Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23/7/2012 của Chính phủ về theo dõi tình hình thi hành pháp luật quy định: Theo dõi thi hành pháp luật nhằm xem xét, đánh giá thực trạng thi hành pháp luật, kiến nghị thực hiện các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật.

[2]. Điều 99 Hiến pháp năm 2013.

[3]. TS. Lê Thành Long, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về theo dõi thi hành pháp luật, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2011, tr. 95.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: