Chủ nhật 25/10/2026 13:09
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thi hành án liên quan đến tổ chức tín dụng, ngân hàng - Thực trạng và giải pháp

Trước tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp như hiện nay, nền kinh tế thế giới và khu vực có tốc độ phục hồi chậm, thị trường bất động sản trầm lắng, đó là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình hình nợ xấu của các tổ chức tín dụng tăng lên. Để giải quyết “cục máu đông” này, không chỉ riêng ngành Ngân hàng mà cần phải huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc.

1. Thực trạng thi hành án liên quan đến tổ chức tín dụng, ngân hàng

Trong bối cảnh đó, hoạt động của các cơ quan thi hành án dân sự (THADS) cũng có vai trò quan trọng đối với việc thu hồi nợ cho các tổ chức tín dụng, ngân hàng. Theo số liệu thống kê, trong những năm qua, các vụ việc thi hành án liên quan đến các tổ chức tín dụng, ngân hàng tăng nhanh về việc và về tiền (năm 2020 cao gấp 1,4 lần về việc, gấp 1,5 lần về tiền so với năm 2017). Việc phải tổ chức thi hành án để thu hồi số tiền rất lớn cho các tổ chức tín dụng, ngân hàng cũng tạo ra áp lực rất lớn cho các cơ quan THADS nói chung và các chấp hành viên nói riêng.

Trong những năm qua, pháp luật về THADS và pháp luật có liên quan ngày càng được quan tâm sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện, góp phần giải quyết được nhiều khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn. Nhờ đó, kết quả thi hành án liên quan đến tín dụng, ngân hàng năm sau cao hơn năm trước, bảo đảm thực chất và ngày càng bền vững, cơ bản đạt chỉ tiêu, nhiệm vụ do Quốc hội, Chính phủ, Bộ Tư pháp giao. Năm 2020, thi hành xong 4.760 việc, thu được số tiền là 32.669 tỷ 964 triệu 154 nghìn đồng (đạt tỷ lệ 24,24% về việc, 31,72% về tiền)[1]; 06 tháng đầu năm 2021, thi hành xong 2.144 việc, thu được số tiền là 11.851 tỷ 760 triệu 169 nghìn đồng (đạt tỷ lệ 10,51% về việc, 17,23% về tiền).

Tuy nhiên, bên cạnh những điều kiện thuận lợi cũng xuất hiện nhiều vướng mắc, bất cập trong quá trình tổ chức thi hành án liên quan đến tín dụng, ngân hàng như: Số lượng việc và tiền phải thi hành ngày càng cao; nhiều vụ việc có tính chất phức tạp, khó thi hành; một số quy định của pháp luật còn chồng chéo; việc bán đấu giá tài sản không thành khá phổ biến dẫn đến quá trình tổ chức thi hành án kéo dài; ý thức chấp hành pháp luật của công dân, tổ chức chưa cao; công tác phối hợp trong thi hành án chưa thực sự hiệu quả; số vụ việc xử lý tài sản bảo đảm nhưng không thu đủ số tiền phải thi hành án cho các tổ chức tín dụng còn nhiều.

Điểm đặc trưng của việc thi hành án cho các tổ chức tín dụng, ngân hàng là có tài sản bảo đảm cho nghĩa vụ thi hành án. Đây là thuận lợi đối với cơ quan THADS do không phải xác minh, tìm kiếm tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án giống như các loại việc thi hành án khác. Tuy nhiên, thực tế việc thi hành án các vụ việc loại này cũng gặp nhiều khó khăn do nhiều trường hợp tài sản nằm ở nhiều nơi, chịu sự điều chỉnh của nhiều quy định từ pháp luật về thi hành án, pháp luật dân sự, pháp luật đất đai, pháp luật hôn nhân và gia đình, pháp luật doanh nghiệp… Do đó, trong quá trình tổ chức thi hành án, chấp hành viên, cơ quan THADS cũng gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc, cụ thể như:

Thứ nhất, liên quan đến việc xét xử của Tòa án

Một số trường hợp bản án, quyết định của Tòa án tuyên chưa cụ thể nghĩa vụ bảo đảm của tài sản thế chấp của bên thứ ba trong hợp đồng tín dụng; không đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng và chậm giải thích bản án, quyết định đã tuyên; chưa phân định rõ được phần quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung, không xác minh kiểm tra thực tế tài sản mà xét xử căn cứ hợp đồng thế chấp tài sản dẫn đến khó khăn trong quá trình thi hành án.

Ví dụ: Khi tổ chức tín dụng nhận tài sản thế chấp là động sản (ô tô, mô tô, máy móc, thiết bị, tàu thuyền, xà lan…) chỉ giữ giấy tờ, không giữ tài sản dẫn đến bên có tài sản đã cất giấu tài sản. Khi xét xử, Tòa án chỉ căn cứ vào nội dung của hợp đồng thế chấp để giải quyết. Đến giai đoạn thi hành án, cơ quan THADS gặp khó khăn trong việc xử lý tài sản do không truy tìm được tài sản hoặc chậm có kết quả. Có trường hợp, thực tế trên diện tích đất có 17 hộ dân vẫn sinh sống từ xưa đến nay, nhưng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ đứng tên Công ty A. Khi Công ty A bị Tòa án tuyên trả cho ngân hàng 20 tỷ đồng, nếu không trả nợ thì xử lý tài sản thế chấp, trong khi 17 hộ dân vẫn sinh sống trên mảnh đất đó. Khi xét xử, Tòa án chỉ căn cứ hợp đồng thế chấp để xét xử mà không xác minh kiểm tra thực tế, đến giai đoạn thi hành án, xác minh tài sản thì diện tích đất thực tế lớn hơn so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khi thế chấp chỉ có nhà cấp 4 hoặc 01 tầng, 02 tầng nhưng đến thời điểm xử lý tài sản bảo đảm thi hành án đã xây thêm 04 hoặc 05 tầng. Do vậy, cơ quan THADS khó thi hành[2].

Thứ hai, việc hoãn thi hành án trong trường hợp Tòa án thụ lý tranh chấp liên quan đến tài sản bảo đảm đã được bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực thi hành tuyên kê biên, xử lý để bảo đảm thu hồi khoản nợ cho tổ chức tín dụng

Việc xử lý tài sản bảo đảm được các cơ quan THADS thực hiện theo đúng nội dung bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, để kéo dài và trốn tránh nghĩa vụ thi hành án, nhiều đương sự khởi kiện ra Tòa án yêu cầu giải quyết tranh chấp liên quan đến tài sản thế chấp và yêu cầu cơ quan THADS hoãn thi hành án theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 48 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (sau đây gọi là Luật Thi hành án dân sự), làm cho việc thi hành án bị kéo dài.

Ví dụ: Bản án tuyên: Công ty SMK có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng số tiền 16,4 tỷ đồng, nếu Công ty SMK không trả được nợ thì Ngân hàng có quyền phát mại tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại số 47 quận X, thành phố Y của ông H để thu hồi nợ cho Ngân hàng theo quy định của pháp luật (sau khi cấn trừ giá trị tài sản bà T là vợ ông H đóng góp). Trong khi đó, tài sản thế chấp là tài sản riêng của ông H trước khi kết hôn với bà T. Tuy nhiên, nhiều lần bà T khởi kiện tranh chấp chia tài sản với ông H, dẫn đến cơ quan THADS phải nhiều lần hoãn thi hành án. Trên thực tế, việc Tòa án giải quyết các tranh chấp đó cũng không làm thay đổi kết quả xét xử của các bản án, quyết định (liên quan đến xử lý tài sản thế chấp) đang có hiệu lực thi hành án. Tuy nhiên, khi nhận được thông báo thụ lý, nếu cơ quan THADS không ban hành quyết định hoãn thi hành án theo điểm d khoản 1 Điều 48 Luật Thi hành án dân sự sẽ đối diện với khiếu nại của đương sự hoặc kháng nghị của Viện kiểm sát.

Khó khăn trên cũng xuất phát từ việc pháp luật THADS chưa có quy định cụ thể về việc hoãn thi hành án hoặc tiếp tục xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp này.

Thứ ba, về việc lập hồ sơ cho vay của các tổ chức tín dụng, ngân hàng

Việc thẩm định giá trị tài sản thế chấp ban đầu của tổ chức tín dụng chưa đúng thực tế (diện tích chênh lệch, giá trị tài sản thấp hơn so với nghĩa vụ bảo đảm), khi cho vay không kiểm tra hiện trạng tài sản, chỉ căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho người có tài sản. Điều này gây khó khăn cho cơ quan THADS trong việc xử lý tài sản (đo vẽ, xác định vị trí, tài sản bảo đảm giảm giá nhiều lần không có người mua...); kéo dài thời gian tổ chức thi hành vụ việc như chấp hành viên phải cho đương sự thỏa thuận việc xử lý diện tích thực tế hoặc diện tích không bị chồng lấn, mới tiến hành kê biên, xử lý tài sản hoặc yêu cầu Tòa án đã ra bản án, quyết định giải thích hoặc đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét lại nội dung bản án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm...

Thứ tư, về xác định quyền xử lý tài sản thế chấp bảo lãnh khoản vay cho bên thứ ba

- Theo quy định tại Điều 299 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì tài sản bảo đảm được xử lý trong trường hợp đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Tuy nhiên, khi cơ quan THADS tổ chức thi hành án có nhiều ý kiến cho rằng phải xử lý hết tài sản của người phải thi hành án mới xử lý tài sản thế chấp (tài sản bảo đảm) của bên thứ ba dẫn đến chấp hành viên lúng túng trong việc xử lý tài sản thế chấp của bên thứ ba.

Ví dụ: Bản án của Tòa án nhân dân quận C tuyên Công ty TNHH A phải trả ngân hàng số tiền nợ gốc 05 tỷ đồng và 625 triệu đồng tiền lãi, nếu Công ty TNHH A không trả tiền thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan THADS có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản là quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất của ông H tại phường 12 quận C theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 18/2015 (bảo lãnh khoản vay 05 tỷ đồng của Công ty). Sau khi bản án có hiệu lực, ngân hàng làm đơn yêu cầu thi hành án. Ngày 14/02/2017, cơ quan THADS quận C đã ra quyết định thi hành án và thông báo về việc sẽ kê biên xử lý tài sản của ông H. Ông H (người bảo lãnh) cho rằng, cơ quan THADS phải xử lý tài sản của Công ty TNHH A, vì Công ty TNHH A vẫn có tài sản, nếu không đủ thì mới được xử lý tài sản của ông H. Cơ quan THADS cho rằng, nếu hết thời gian tự nguyện thi hành án mà Công ty TNHH A không thi hành án thì cơ quan THADS quận C có quyền kê biên, xử lý tài sản của ông H để thu hồi nợ cho ngân hàng mà không phụ thuộc vào việc Công ty TNHH A có điều kiện thi hành án hay không. Sau khi thực hiện xong nghĩa vụ bảo lãnh, ông H có quyền yêu cầu Công ty TNHH A thực hiện nghĩa vụ đối với mình trong phạm vi nghĩa vụ bảo lãnh mà ông H đã thực hiện theo quy định tại Điều 340 Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Bên cạnh đó, chưa có quy định rõ ràng trong việc xác định tư cách của người thứ ba thế chấp tài sản (là người có nghĩa vụ liên quan hay người phải thi hành án) cũng dẫn đến khó khăn cho cơ quan THADS khi xử lý tài sản của người thứ ba cầm cố, thế chấp tài sản. Đặc biệt là, trong trường hợp cơ quan THADS nhận được quyết định mở thủ tục phá sản đối với người thứ ba cầm cố, thế chấp tài sản, có quan điểm cho rằng tư cách pháp lý của họ là người phải thi hành án thì phải áp dụng điểm g khoản 1 Điều 50 Luật Thi hành án dân sự để ra quyết định đình chỉ thi hành án, như vậy sẽ không xử lý được tài sản. Do hiện nay chưa có quy định cụ thể trong trường hợp này nên còn nhiều quan điểm, cách hiểu khác nhau.

Thứ năm, xác định giá tài sản bảo đảm

Theo quy định tại Điều 36, Điều 98 Luật Thi hành án dân sự, chấp hành viên sẽ ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có tài sản kê biên nhằm hạn chế phát sinh chi phí của ngân hàng và các bên đương sự. Trong khi đó, Điều 28, Điều 29 Luật Giá năm 2012 không quy định giới hạn về phạm vi hoạt động thẩm định giá của tổ chức, doanh nghiệp thẩm định giá. Như vậy, việc giới hạn tổ chức thẩm định giá phải nằm trên địa bàn tỉnh, thành phố đã làm hạn chế cơ hội lựa chọn được tổ chức định giá có đủ uy tín, năng lực để thực hiện định giá tài sản. Nhiều địa phương còn thiếu tổ chức thẩm định giá hoặc năng lực của tổ chức thẩm định giá còn yếu, dẫn đến chất lượng thẩm định giá chưa cao, nhất là đối với tài sản đặc thù như dây chuyền sản xuất…

Ngoài ra, liên quan đến chi phí xác minh, xử lý tài sản, mặc dù ngân sách nhà nước tạm ứng tiền chi phí cưỡng chế cho cơ quan THADS nhưng có những đơn vị đủ tạm ứng cho một vụ việc giá trị lớn, thiếu kinh phí tổ chức thi hành án, cưỡng chế dẫn đến hiệu quả thi hành án chưa cao.

Thứ sáu, về thanh toán khoản thuế, phí khi xử lý tài sản bảo đảm

Khi xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu sẽ phát sinh các nghĩa vụ về thuế. Liên quan đến vấn đề này, Bộ Tài chính đã có Công văn số 5477/BTC-TCT ngày 14/5/2019 hướng dẫn về thu thuế thu nhập cá nhân theo Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng (Nghị quyết số 42/2017/QH14), theo đó, tổ chức tín dụng thỏa thuận đối với các bên liên quan về cách thức thanh toán các khoản thuế thu nhập cá nhân phát sinh trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm theo nội dung Thông báo số 106/TB-VPCP ngày 22/3/2019 của Văn phòng Chính phủ[3]. Tuy nhiên, trên thực tế, xảy ra một số trường hợp cụ thể như khi số tiền bán tài sản bảo đảm không đủ thu hồi nợ cho tổ chức tín dụng, không còn để thanh toán nghĩa vụ thuế; cơ quan THADS mặc dù đã xử lý xong tài sản bảo đảm nhưng không kết thúc được hồ sơ, hiệu quả từ việc bán tài sản thi hành án để thu hồi nợ giảm sút; nếu ngân hàng phải nộp thuế làm giảm số tiền thu hồi nợ của tổ chức tín dụng, bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm còn gặp những khó nhăn nhất định. Nguyên nhân một phần là do quy định tại Điều 12 và Điều 15 Nghị quyết số 42/2017/QH14[4] còn chưa rõ dẫn đến việc hướng dẫn chưa rõ ràng, thống nhất.

2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành án tín dụng, ngân hàng

Để nâng cao hiệu quả THADS nói chung và THADS liên quan đến tổ chức tín dụng, ngân hàng nói riêng, đồng thời khắc phục khó khăn, vướng mắc nêu trên, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó, cần tập trung một số giải pháp như sau:

2.1. Giải pháp trước mắt

Việc hoàn thiện thể chế cần có lộ trình để thực hiện, do đó, để công tác thi hành án cho các tổ chức tín dụng, ngân hàng trong thời gian tới đạt hiệu quả, trước mắt cần tiếp tục thực hiện một số giải pháp sau:

- Đối với Tổng cục Thi hành án dân sự: Cần tiếp tục chỉ đạo các cơ quan THADS nghiêm túc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Tư pháp và Tổng cục Thi hành án dân sự; tập trung, quyết liệt giải quyết dứt điểm các vụ việc thi hành án liên quan đến tín dụng, ngân hàng. Bên cạnh đó, phối hợp với các cơ quan liên quan giải quyết khó khăn, vướng mắc để kịp thời chỉ đạo hướng dẫn cơ quan THADS giải quyết kịp thời, bảo đảm các bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án phải được tổ chức thi hành theo đúng quy định pháp luật như: Tham mưu cho Lãnh đạo Bộ Tư pháp trao đổi, thống nhất với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các cơ quan hữu quan đối với những trường hợp pháp luật quy định chưa rõ, còn nhiều quan điểm áp dụng khác nhau; phối hợp với Bộ Tài chính trong việc tháo gỡ khó khăn, vướng mắc liên quan đến các khoản thuế, phí còn nợ của bên bảo đảm trong việc chuyển nhượng tài sản khi áp dụng Nghị quyết số 42/2017/QH14[5] hay phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Hội sở các ngân hàng lớn để tổ chức các đoàn kiểm tra, phúc tra việc thi hành án liên quan đến tín dụng, ngân hàng tại những địa phương có lượng án tín dụng, ngân hàng lớn, khó khăn, vướng mắc khi cần thiết để kịp thời hướng dẫn, đôn đốc thi hành...

- Đối với thủ trưởng các cơ quan THADS: Tiếp tục chỉ đạo chấp hành viên, cơ quan THADS bám sát hồ sơ, xây dựng kế hoạch chi tiết để giải quyết các vụ việc, nhất là các vụ việc còn tồn đọng, kéo dài. Mặt khác, chủ động phối hợp với các tổ chức tín dụng, ngân hàng, ban, ngành có liên quan tại địa phương, báo cáo Ban chỉ đạo THADS để kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để giải quyết dứt điểm các vụ việc.

- Đối với các chấp hành viên: Để từng hồ sơ thi hành án tín dụng, ngân hàng được giải quyết triệt để, chặt chẽ, chấp hành viên cần phải nghiên cứu hồ sơ, các quy định pháp luật; xây dựng kế hoạch chi tiết từ khâu xác minh điều kiện thi hành án, đến việc lựa chọn và ký hợp đồng dịch vụ thẩm định giá, bán đấu giá tài sản… Đồng thời, phối hợp với chính quyền địa phương, tổ chức tín dụng trong việc kê biên, xử lý tài sản bảo đảm một cách hiệu quả. Kịp thời báo cáo những khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thi hành án để lãnh đạo đơn vị biết và chỉ đạo giải quyết.

- Đối với các tổ chức tín dụng, ngân hàng: Phát huy vai trò trách nhiệm trong việc phối hợp với các cơ quan THADS trong việc xác minh tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án; hỗ trợ cơ quan THADS trong việc tiếp nhận trông coi, bảo quản tài sản sau khi kê biên, tìm và giới thiệu khách hàng mua tài sản để đẩy nhanh tiến độ bán đấu giá; chủ động phối hợp cùng cơ quan THADS và chấp hành viên tìm biện pháp giải quyết cụ thể đối với từng hồ sơ thi hành án. Đối với những trường hợp đương sự đã thi hành được phần lớn nghĩa vụ thi hành án theo án tuyên, cần có chính sách miễn, giảm một phần lãi để có hướng giải quyết xong vụ việc.

2.2. Giải pháp lâu dài

Tiếp tục tập trung hoàn thiện thể chế, tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho việc tổ chức thi hành án đạt hiệu quả, cụ thể: Đề xuất Chính phủ giao Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành có liên quan nghiên cứu, sửa đổi Luật Thi hành án dân sự theo hướng rút gọn các thủ tục về thi hành án dân sự, phù hợp với các nội dung quy định tại Nghị quyết số 42/2017/QH14 và pháp luật liên quan, bảo đảm tính tổng thể, đồng bộ để thực hiện hiệu quả cao nhất việc thu hồi nợ xấu cho các tổ chức tín dụng trong THADS. Đồng thời, nghiên cứu sửa đổi, hoàn thiện Luật Đất đai, Luật Nhà ở, đẩy nhanh tiến độ xây dựng và ban hành Luật Đăng ký tài sản, nghị định về giao dịch bảo đảm...

Bộ Tài chính cần ban hành hướng dẫn cụ thể để thực hiện việc thu thuế thu nhập doanh nghiệp, thu nhập cá nhân trong trường hợp chuyển nhượng tài sản bảo đảm để thu hồi nợ xấu, bảo đảm quyền lợi của bên mua tài sản bảo đảm. Bên cạnh đó, kiến nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường cần ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể về thủ tục chuyển nhượng tài sản, xử lý tài sản khi tài sản bảo đảm là các dự án bất động sản có tài sản hình thành trong tương lai.

Nguyễn Thu Hiền
Tổng cục Thi hành án dân sự



[1]. Tỷ lệ = Số tiền đã thi hành xong/(số tiền đã thi hành của chưa có điều kiện + số tiền có điều kiện).

[2]. Thông báo số 106/TB-VPCP ngày 23/3/2019 của Văn phòng Chính phủ nêu ý kiến kết luận của Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình: Đối với vấn đề thuế thu nhập cá nhân, Ngân hàng Nhà nước quán triệt các tổ chức tín dụng thỏa thuận với các bên liên quan về cách thức thanh toán các khoản thuế, phí liên quan trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm.

[3]. Điều 12 Nghị quyết số 42/2017/QH14 quy định: Số tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu, sau khi trừ chi phí bảo quản, thu giữ và chi phí xử lý tài sản bảo đảm được ưu tiên thanh toán cho nghĩa vụ nợ được bảo đảm cho tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu trước khi thực hiện nghĩa vụ thuế, nghĩa vụ khác không có bảo đảm của bên bảo đảm; Điều 15 Nghị quyết số 42/2017/QH14 quy định nghĩa vụ thuế khi chuyển nhượng tổ chức tín dụng là thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế.

[4]. Trong việc xử lý đối với trường hợp tài sản bảo đảm không đủ thanh toán các nghĩa vụ bảo đảm cho các tổ chức tín dụng thì các cơ quan thuế cân nhắc không thu các khoản thuế liên quan đến chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản như thuế thu nhập cá nhân, lệ phí chuyển nhượng...

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: