Thứ sáu 13/03/2026 12:56
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thi hành án liên quan đến tổ chức tín dụng, ngân hàng - Thực trạng và giải pháp

Trước tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp như hiện nay, nền kinh tế thế giới và khu vực có tốc độ phục hồi chậm, thị trường bất động sản trầm lắng, đó là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình hình nợ xấu của các tổ chức tín dụng tăng lên. Để giải quyết “cục máu đông” này, không chỉ riêng ngành Ngân hàng mà cần phải huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc.

1. Thực trạng thi hành án liên quan đến tổ chức tín dụng, ngân hàng

Trong bối cảnh đó, hoạt động của các cơ quan thi hành án dân sự (THADS) cũng có vai trò quan trọng đối với việc thu hồi nợ cho các tổ chức tín dụng, ngân hàng. Theo số liệu thống kê, trong những năm qua, các vụ việc thi hành án liên quan đến các tổ chức tín dụng, ngân hàng tăng nhanh về việc và về tiền (năm 2020 cao gấp 1,4 lần về việc, gấp 1,5 lần về tiền so với năm 2017). Việc phải tổ chức thi hành án để thu hồi số tiền rất lớn cho các tổ chức tín dụng, ngân hàng cũng tạo ra áp lực rất lớn cho các cơ quan THADS nói chung và các chấp hành viên nói riêng.

Trong những năm qua, pháp luật về THADS và pháp luật có liên quan ngày càng được quan tâm sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện, góp phần giải quyết được nhiều khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn. Nhờ đó, kết quả thi hành án liên quan đến tín dụng, ngân hàng năm sau cao hơn năm trước, bảo đảm thực chất và ngày càng bền vững, cơ bản đạt chỉ tiêu, nhiệm vụ do Quốc hội, Chính phủ, Bộ Tư pháp giao. Năm 2020, thi hành xong 4.760 việc, thu được số tiền là 32.669 tỷ 964 triệu 154 nghìn đồng (đạt tỷ lệ 24,24% về việc, 31,72% về tiền)[1]; 06 tháng đầu năm 2021, thi hành xong 2.144 việc, thu được số tiền là 11.851 tỷ 760 triệu 169 nghìn đồng (đạt tỷ lệ 10,51% về việc, 17,23% về tiền).

Tuy nhiên, bên cạnh những điều kiện thuận lợi cũng xuất hiện nhiều vướng mắc, bất cập trong quá trình tổ chức thi hành án liên quan đến tín dụng, ngân hàng như: Số lượng việc và tiền phải thi hành ngày càng cao; nhiều vụ việc có tính chất phức tạp, khó thi hành; một số quy định của pháp luật còn chồng chéo; việc bán đấu giá tài sản không thành khá phổ biến dẫn đến quá trình tổ chức thi hành án kéo dài; ý thức chấp hành pháp luật của công dân, tổ chức chưa cao; công tác phối hợp trong thi hành án chưa thực sự hiệu quả; số vụ việc xử lý tài sản bảo đảm nhưng không thu đủ số tiền phải thi hành án cho các tổ chức tín dụng còn nhiều.

Điểm đặc trưng của việc thi hành án cho các tổ chức tín dụng, ngân hàng là có tài sản bảo đảm cho nghĩa vụ thi hành án. Đây là thuận lợi đối với cơ quan THADS do không phải xác minh, tìm kiếm tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án giống như các loại việc thi hành án khác. Tuy nhiên, thực tế việc thi hành án các vụ việc loại này cũng gặp nhiều khó khăn do nhiều trường hợp tài sản nằm ở nhiều nơi, chịu sự điều chỉnh của nhiều quy định từ pháp luật về thi hành án, pháp luật dân sự, pháp luật đất đai, pháp luật hôn nhân và gia đình, pháp luật doanh nghiệp… Do đó, trong quá trình tổ chức thi hành án, chấp hành viên, cơ quan THADS cũng gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc, cụ thể như:

Thứ nhất, liên quan đến việc xét xử của Tòa án

Một số trường hợp bản án, quyết định của Tòa án tuyên chưa cụ thể nghĩa vụ bảo đảm của tài sản thế chấp của bên thứ ba trong hợp đồng tín dụng; không đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng và chậm giải thích bản án, quyết định đã tuyên; chưa phân định rõ được phần quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung, không xác minh kiểm tra thực tế tài sản mà xét xử căn cứ hợp đồng thế chấp tài sản dẫn đến khó khăn trong quá trình thi hành án.

Ví dụ: Khi tổ chức tín dụng nhận tài sản thế chấp là động sản (ô tô, mô tô, máy móc, thiết bị, tàu thuyền, xà lan…) chỉ giữ giấy tờ, không giữ tài sản dẫn đến bên có tài sản đã cất giấu tài sản. Khi xét xử, Tòa án chỉ căn cứ vào nội dung của hợp đồng thế chấp để giải quyết. Đến giai đoạn thi hành án, cơ quan THADS gặp khó khăn trong việc xử lý tài sản do không truy tìm được tài sản hoặc chậm có kết quả. Có trường hợp, thực tế trên diện tích đất có 17 hộ dân vẫn sinh sống từ xưa đến nay, nhưng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ đứng tên Công ty A. Khi Công ty A bị Tòa án tuyên trả cho ngân hàng 20 tỷ đồng, nếu không trả nợ thì xử lý tài sản thế chấp, trong khi 17 hộ dân vẫn sinh sống trên mảnh đất đó. Khi xét xử, Tòa án chỉ căn cứ hợp đồng thế chấp để xét xử mà không xác minh kiểm tra thực tế, đến giai đoạn thi hành án, xác minh tài sản thì diện tích đất thực tế lớn hơn so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khi thế chấp chỉ có nhà cấp 4 hoặc 01 tầng, 02 tầng nhưng đến thời điểm xử lý tài sản bảo đảm thi hành án đã xây thêm 04 hoặc 05 tầng. Do vậy, cơ quan THADS khó thi hành[2].

Thứ hai, việc hoãn thi hành án trong trường hợp Tòa án thụ lý tranh chấp liên quan đến tài sản bảo đảm đã được bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực thi hành tuyên kê biên, xử lý để bảo đảm thu hồi khoản nợ cho tổ chức tín dụng

Việc xử lý tài sản bảo đảm được các cơ quan THADS thực hiện theo đúng nội dung bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, để kéo dài và trốn tránh nghĩa vụ thi hành án, nhiều đương sự khởi kiện ra Tòa án yêu cầu giải quyết tranh chấp liên quan đến tài sản thế chấp và yêu cầu cơ quan THADS hoãn thi hành án theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 48 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (sau đây gọi là Luật Thi hành án dân sự), làm cho việc thi hành án bị kéo dài.

Ví dụ: Bản án tuyên: Công ty SMK có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng số tiền 16,4 tỷ đồng, nếu Công ty SMK không trả được nợ thì Ngân hàng có quyền phát mại tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại số 47 quận X, thành phố Y của ông H để thu hồi nợ cho Ngân hàng theo quy định của pháp luật (sau khi cấn trừ giá trị tài sản bà T là vợ ông H đóng góp). Trong khi đó, tài sản thế chấp là tài sản riêng của ông H trước khi kết hôn với bà T. Tuy nhiên, nhiều lần bà T khởi kiện tranh chấp chia tài sản với ông H, dẫn đến cơ quan THADS phải nhiều lần hoãn thi hành án. Trên thực tế, việc Tòa án giải quyết các tranh chấp đó cũng không làm thay đổi kết quả xét xử của các bản án, quyết định (liên quan đến xử lý tài sản thế chấp) đang có hiệu lực thi hành án. Tuy nhiên, khi nhận được thông báo thụ lý, nếu cơ quan THADS không ban hành quyết định hoãn thi hành án theo điểm d khoản 1 Điều 48 Luật Thi hành án dân sự sẽ đối diện với khiếu nại của đương sự hoặc kháng nghị của Viện kiểm sát.

Khó khăn trên cũng xuất phát từ việc pháp luật THADS chưa có quy định cụ thể về việc hoãn thi hành án hoặc tiếp tục xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp này.

Thứ ba, về việc lập hồ sơ cho vay của các tổ chức tín dụng, ngân hàng

Việc thẩm định giá trị tài sản thế chấp ban đầu của tổ chức tín dụng chưa đúng thực tế (diện tích chênh lệch, giá trị tài sản thấp hơn so với nghĩa vụ bảo đảm), khi cho vay không kiểm tra hiện trạng tài sản, chỉ căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho người có tài sản. Điều này gây khó khăn cho cơ quan THADS trong việc xử lý tài sản (đo vẽ, xác định vị trí, tài sản bảo đảm giảm giá nhiều lần không có người mua...); kéo dài thời gian tổ chức thi hành vụ việc như chấp hành viên phải cho đương sự thỏa thuận việc xử lý diện tích thực tế hoặc diện tích không bị chồng lấn, mới tiến hành kê biên, xử lý tài sản hoặc yêu cầu Tòa án đã ra bản án, quyết định giải thích hoặc đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét lại nội dung bản án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm...

Thứ tư, về xác định quyền xử lý tài sản thế chấp bảo lãnh khoản vay cho bên thứ ba

- Theo quy định tại Điều 299 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì tài sản bảo đảm được xử lý trong trường hợp đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Tuy nhiên, khi cơ quan THADS tổ chức thi hành án có nhiều ý kiến cho rằng phải xử lý hết tài sản của người phải thi hành án mới xử lý tài sản thế chấp (tài sản bảo đảm) của bên thứ ba dẫn đến chấp hành viên lúng túng trong việc xử lý tài sản thế chấp của bên thứ ba.

Ví dụ: Bản án của Tòa án nhân dân quận C tuyên Công ty TNHH A phải trả ngân hàng số tiền nợ gốc 05 tỷ đồng và 625 triệu đồng tiền lãi, nếu Công ty TNHH A không trả tiền thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan THADS có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản là quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất của ông H tại phường 12 quận C theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 18/2015 (bảo lãnh khoản vay 05 tỷ đồng của Công ty). Sau khi bản án có hiệu lực, ngân hàng làm đơn yêu cầu thi hành án. Ngày 14/02/2017, cơ quan THADS quận C đã ra quyết định thi hành án và thông báo về việc sẽ kê biên xử lý tài sản của ông H. Ông H (người bảo lãnh) cho rằng, cơ quan THADS phải xử lý tài sản của Công ty TNHH A, vì Công ty TNHH A vẫn có tài sản, nếu không đủ thì mới được xử lý tài sản của ông H. Cơ quan THADS cho rằng, nếu hết thời gian tự nguyện thi hành án mà Công ty TNHH A không thi hành án thì cơ quan THADS quận C có quyền kê biên, xử lý tài sản của ông H để thu hồi nợ cho ngân hàng mà không phụ thuộc vào việc Công ty TNHH A có điều kiện thi hành án hay không. Sau khi thực hiện xong nghĩa vụ bảo lãnh, ông H có quyền yêu cầu Công ty TNHH A thực hiện nghĩa vụ đối với mình trong phạm vi nghĩa vụ bảo lãnh mà ông H đã thực hiện theo quy định tại Điều 340 Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Bên cạnh đó, chưa có quy định rõ ràng trong việc xác định tư cách của người thứ ba thế chấp tài sản (là người có nghĩa vụ liên quan hay người phải thi hành án) cũng dẫn đến khó khăn cho cơ quan THADS khi xử lý tài sản của người thứ ba cầm cố, thế chấp tài sản. Đặc biệt là, trong trường hợp cơ quan THADS nhận được quyết định mở thủ tục phá sản đối với người thứ ba cầm cố, thế chấp tài sản, có quan điểm cho rằng tư cách pháp lý của họ là người phải thi hành án thì phải áp dụng điểm g khoản 1 Điều 50 Luật Thi hành án dân sự để ra quyết định đình chỉ thi hành án, như vậy sẽ không xử lý được tài sản. Do hiện nay chưa có quy định cụ thể trong trường hợp này nên còn nhiều quan điểm, cách hiểu khác nhau.

Thứ năm, xác định giá tài sản bảo đảm

Theo quy định tại Điều 36, Điều 98 Luật Thi hành án dân sự, chấp hành viên sẽ ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có tài sản kê biên nhằm hạn chế phát sinh chi phí của ngân hàng và các bên đương sự. Trong khi đó, Điều 28, Điều 29 Luật Giá năm 2012 không quy định giới hạn về phạm vi hoạt động thẩm định giá của tổ chức, doanh nghiệp thẩm định giá. Như vậy, việc giới hạn tổ chức thẩm định giá phải nằm trên địa bàn tỉnh, thành phố đã làm hạn chế cơ hội lựa chọn được tổ chức định giá có đủ uy tín, năng lực để thực hiện định giá tài sản. Nhiều địa phương còn thiếu tổ chức thẩm định giá hoặc năng lực của tổ chức thẩm định giá còn yếu, dẫn đến chất lượng thẩm định giá chưa cao, nhất là đối với tài sản đặc thù như dây chuyền sản xuất…

Ngoài ra, liên quan đến chi phí xác minh, xử lý tài sản, mặc dù ngân sách nhà nước tạm ứng tiền chi phí cưỡng chế cho cơ quan THADS nhưng có những đơn vị đủ tạm ứng cho một vụ việc giá trị lớn, thiếu kinh phí tổ chức thi hành án, cưỡng chế dẫn đến hiệu quả thi hành án chưa cao.

Thứ sáu, về thanh toán khoản thuế, phí khi xử lý tài sản bảo đảm

Khi xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu sẽ phát sinh các nghĩa vụ về thuế. Liên quan đến vấn đề này, Bộ Tài chính đã có Công văn số 5477/BTC-TCT ngày 14/5/2019 hướng dẫn về thu thuế thu nhập cá nhân theo Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng (Nghị quyết số 42/2017/QH14), theo đó, tổ chức tín dụng thỏa thuận đối với các bên liên quan về cách thức thanh toán các khoản thuế thu nhập cá nhân phát sinh trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm theo nội dung Thông báo số 106/TB-VPCP ngày 22/3/2019 của Văn phòng Chính phủ[3]. Tuy nhiên, trên thực tế, xảy ra một số trường hợp cụ thể như khi số tiền bán tài sản bảo đảm không đủ thu hồi nợ cho tổ chức tín dụng, không còn để thanh toán nghĩa vụ thuế; cơ quan THADS mặc dù đã xử lý xong tài sản bảo đảm nhưng không kết thúc được hồ sơ, hiệu quả từ việc bán tài sản thi hành án để thu hồi nợ giảm sút; nếu ngân hàng phải nộp thuế làm giảm số tiền thu hồi nợ của tổ chức tín dụng, bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm còn gặp những khó nhăn nhất định. Nguyên nhân một phần là do quy định tại Điều 12 và Điều 15 Nghị quyết số 42/2017/QH14[4] còn chưa rõ dẫn đến việc hướng dẫn chưa rõ ràng, thống nhất.

2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành án tín dụng, ngân hàng

Để nâng cao hiệu quả THADS nói chung và THADS liên quan đến tổ chức tín dụng, ngân hàng nói riêng, đồng thời khắc phục khó khăn, vướng mắc nêu trên, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó, cần tập trung một số giải pháp như sau:

2.1. Giải pháp trước mắt

Việc hoàn thiện thể chế cần có lộ trình để thực hiện, do đó, để công tác thi hành án cho các tổ chức tín dụng, ngân hàng trong thời gian tới đạt hiệu quả, trước mắt cần tiếp tục thực hiện một số giải pháp sau:

- Đối với Tổng cục Thi hành án dân sự: Cần tiếp tục chỉ đạo các cơ quan THADS nghiêm túc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Tư pháp và Tổng cục Thi hành án dân sự; tập trung, quyết liệt giải quyết dứt điểm các vụ việc thi hành án liên quan đến tín dụng, ngân hàng. Bên cạnh đó, phối hợp với các cơ quan liên quan giải quyết khó khăn, vướng mắc để kịp thời chỉ đạo hướng dẫn cơ quan THADS giải quyết kịp thời, bảo đảm các bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án phải được tổ chức thi hành theo đúng quy định pháp luật như: Tham mưu cho Lãnh đạo Bộ Tư pháp trao đổi, thống nhất với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các cơ quan hữu quan đối với những trường hợp pháp luật quy định chưa rõ, còn nhiều quan điểm áp dụng khác nhau; phối hợp với Bộ Tài chính trong việc tháo gỡ khó khăn, vướng mắc liên quan đến các khoản thuế, phí còn nợ của bên bảo đảm trong việc chuyển nhượng tài sản khi áp dụng Nghị quyết số 42/2017/QH14[5] hay phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Hội sở các ngân hàng lớn để tổ chức các đoàn kiểm tra, phúc tra việc thi hành án liên quan đến tín dụng, ngân hàng tại những địa phương có lượng án tín dụng, ngân hàng lớn, khó khăn, vướng mắc khi cần thiết để kịp thời hướng dẫn, đôn đốc thi hành...

- Đối với thủ trưởng các cơ quan THADS: Tiếp tục chỉ đạo chấp hành viên, cơ quan THADS bám sát hồ sơ, xây dựng kế hoạch chi tiết để giải quyết các vụ việc, nhất là các vụ việc còn tồn đọng, kéo dài. Mặt khác, chủ động phối hợp với các tổ chức tín dụng, ngân hàng, ban, ngành có liên quan tại địa phương, báo cáo Ban chỉ đạo THADS để kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để giải quyết dứt điểm các vụ việc.

- Đối với các chấp hành viên: Để từng hồ sơ thi hành án tín dụng, ngân hàng được giải quyết triệt để, chặt chẽ, chấp hành viên cần phải nghiên cứu hồ sơ, các quy định pháp luật; xây dựng kế hoạch chi tiết từ khâu xác minh điều kiện thi hành án, đến việc lựa chọn và ký hợp đồng dịch vụ thẩm định giá, bán đấu giá tài sản… Đồng thời, phối hợp với chính quyền địa phương, tổ chức tín dụng trong việc kê biên, xử lý tài sản bảo đảm một cách hiệu quả. Kịp thời báo cáo những khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thi hành án để lãnh đạo đơn vị biết và chỉ đạo giải quyết.

- Đối với các tổ chức tín dụng, ngân hàng: Phát huy vai trò trách nhiệm trong việc phối hợp với các cơ quan THADS trong việc xác minh tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án; hỗ trợ cơ quan THADS trong việc tiếp nhận trông coi, bảo quản tài sản sau khi kê biên, tìm và giới thiệu khách hàng mua tài sản để đẩy nhanh tiến độ bán đấu giá; chủ động phối hợp cùng cơ quan THADS và chấp hành viên tìm biện pháp giải quyết cụ thể đối với từng hồ sơ thi hành án. Đối với những trường hợp đương sự đã thi hành được phần lớn nghĩa vụ thi hành án theo án tuyên, cần có chính sách miễn, giảm một phần lãi để có hướng giải quyết xong vụ việc.

2.2. Giải pháp lâu dài

Tiếp tục tập trung hoàn thiện thể chế, tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho việc tổ chức thi hành án đạt hiệu quả, cụ thể: Đề xuất Chính phủ giao Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành có liên quan nghiên cứu, sửa đổi Luật Thi hành án dân sự theo hướng rút gọn các thủ tục về thi hành án dân sự, phù hợp với các nội dung quy định tại Nghị quyết số 42/2017/QH14 và pháp luật liên quan, bảo đảm tính tổng thể, đồng bộ để thực hiện hiệu quả cao nhất việc thu hồi nợ xấu cho các tổ chức tín dụng trong THADS. Đồng thời, nghiên cứu sửa đổi, hoàn thiện Luật Đất đai, Luật Nhà ở, đẩy nhanh tiến độ xây dựng và ban hành Luật Đăng ký tài sản, nghị định về giao dịch bảo đảm...

Bộ Tài chính cần ban hành hướng dẫn cụ thể để thực hiện việc thu thuế thu nhập doanh nghiệp, thu nhập cá nhân trong trường hợp chuyển nhượng tài sản bảo đảm để thu hồi nợ xấu, bảo đảm quyền lợi của bên mua tài sản bảo đảm. Bên cạnh đó, kiến nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường cần ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể về thủ tục chuyển nhượng tài sản, xử lý tài sản khi tài sản bảo đảm là các dự án bất động sản có tài sản hình thành trong tương lai.

Nguyễn Thu Hiền
Tổng cục Thi hành án dân sự



[1]. Tỷ lệ = Số tiền đã thi hành xong/(số tiền đã thi hành của chưa có điều kiện + số tiền có điều kiện).

[2]. Thông báo số 106/TB-VPCP ngày 23/3/2019 của Văn phòng Chính phủ nêu ý kiến kết luận của Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình: Đối với vấn đề thuế thu nhập cá nhân, Ngân hàng Nhà nước quán triệt các tổ chức tín dụng thỏa thuận với các bên liên quan về cách thức thanh toán các khoản thuế, phí liên quan trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm.

[3]. Điều 12 Nghị quyết số 42/2017/QH14 quy định: Số tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu, sau khi trừ chi phí bảo quản, thu giữ và chi phí xử lý tài sản bảo đảm được ưu tiên thanh toán cho nghĩa vụ nợ được bảo đảm cho tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu trước khi thực hiện nghĩa vụ thuế, nghĩa vụ khác không có bảo đảm của bên bảo đảm; Điều 15 Nghị quyết số 42/2017/QH14 quy định nghĩa vụ thuế khi chuyển nhượng tổ chức tín dụng là thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế.

[4]. Trong việc xử lý đối với trường hợp tài sản bảo đảm không đủ thanh toán các nghĩa vụ bảo đảm cho các tổ chức tín dụng thì các cơ quan thuế cân nhắc không thu các khoản thuế liên quan đến chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản như thuế thu nhập cá nhân, lệ phí chuyển nhượng...

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: