Thứ sáu 13/03/2026 18:22
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thị phần trong thị trường liên quan theo pháp luật Luật Cạnh tranh Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết này phân tích thị phần trong thị trường liên quan theo Luật Cạnh tranh Việt Nam năm 2004 với góc nhìn so sánh với pháp luật cạnh tranh của Cộng hòa Pháp.

Abstract: This paper analyses market share in the concerned market according to Vietnamese Competition Law of 2014 from the aspect of comparison with competition law of Republic of France.

Một trong những vấn đề được nêu ra tại Hội thảo Tổng kết 10 năm thi hành Luật Cạnh tranh năm 2004 là trên thực tế hiện nay, các doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn trong việc xác định thị phần trong thị trường liên quan làm cơ sở để xem xét một hành vi kinh tế có vi phạm pháp luật cạnh tranh không.

Về cơ bản, Luật Cạnh tranh năm 2004 đề cập tới bốn khái niệm quan trọng trong hệ thống các quy phạm pháp luật về cạnh tranh gồm: (i) Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh; (ii) Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường; (iii) Lạm dụng vị trí độc quyền; (iv) Tập trung kinh tế. Trong đó, căn cứ phân định một hành vi có phải là hành vi cạnh tranh không lành mạnh hay không ngoài yếu tố nội dung còn phụ thuộc vào tiêu chí định lượng, cụ thể là điều kiện của chủ thể dựa trên thị phần trong thị trường liên quan. Một hành vi chỉ bị coi là hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh khi hành vi đó vi phạm các điều cấm trong pháp luật cạnh tranh và chủ thể thực hiện hành vi phải thỏa mãn yếu tố điều kiện chủ thể đối với từng hành vi vi phạm trong luật.

Theo nguyên tắc “chỉ được phép làm những điều mà pháp luật không cấm”, một hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh khi hành vi đó thuộc một trong các hành vi bị cấm được quy định trong Luật Cạnh tranh. Các hành vi này được liệt kê tại Điều 9 đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh; Điều 13 với lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường; Điều 14 đối với lạm dụng vị trí độc quyền; Điều 18 đối với tập trung kinh tế trong Luật Cạnh tranh năm 2004. Ngoài ra, Nghị định số 71/2014/NĐ-CP ngày 21/07/2014 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh cũng làm rõ hơn các hành vi bị xử phạt hành chính do vi phạm pháp luật cạnh tranh.

Tuy nhiên, không phải bất cứ chủ thể nào khi thực hiện các hành vi kể trên đều bị coi là vi phạm pháp luật cạnh tranh. Các hành vi bị cấm trong Luật Cạnh tranh năm 2004 được gắn liền với các điều kiện đặc thù về chủ thể thực hiện hành vi đó. Chỉ khi chủ thể nào đáp ứng các điều kiện này mà thực hiện hành vi vi phạm mới bị ghi nhận là một hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh.

Yếu tố thị phần trong thị trường liên quan gồm có hai thành tố quan trọng cần lưu ý là tỷ lệ thị phần và thị trường liên quan.

1. Thị trường liên quan

Khoản 1 Điều 3 Luật Cạnh tranh năm 2004 ghi nhận thị trường bao gồm thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan. Trong đó, thị trường sản phẩm liên quan là thị trường của những hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả. Thị trường địa lý liên quan là một khu vực địa lý cụ thể trong đó có những hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau với các điều kiện cạnh tranh tương tự và có sự khác biệt đáng kể với các khu vực lân cận.

Phân loại hai loại thị trường sản phẩm và thị trường địa lý là dựa trên sự phân loại dựa vào đặc tính của sản phẩm hàng hóa (yếu tố vật chất) và đặc điểm về không gian tiêu thụ sản phẩm hàng hóa đó. Nghị định số 116/2005/NĐ-CP 15/09/2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh dành 05 điều (từ Điều 4 đến Điều 8) để làm rõ hai thành tố này. Cụ thể, thị trường sản phẩm liên quan được ghi nhận dựa vào đặc tính hàng hóa (tính chất vật lý, hóa học, tính năng kỹ thuật…), mục đích sử dụng, giá cả của các sản phẩm có khả năng thay thế được cho nhau. Thị trường địa lý liên quan lại dựa trên khả năng thay thế được cho nhau của các sản phẩm có điều kiện cạnh tranh tương tự và khác biệt đáng kể với các khu vực lân cận (tiêu chí chi phí vận chuyển; rào cản thị trường).

Nhìn chung, cách xác định thị trường liên quan này là đúng nhưng chưa đủ nếu so sánh với các quốc gia châu Âu, trong đó có Cộng hòa Pháp. Thị trường liên quan còn được gọi là thị trường quy chiếu (theo luật Anh - Mỹ gọi là relevant market) là thị trường mà ở đó hoạt động cạnh tranh bị cản trở, hạn chế hoặc bị làm sai lệch theo quy định tại Điều L.420-1 Bộ luật Thương mại Cộng hòa Pháp hoặc thị trường mà ở đó cần phải xác định xem có tồn tại vị trí thống lĩnh theo Điều L.420-2 hay không. Ở các quốc gia này, việc xem xét sản phẩm trong thị trường liên quan không chỉ dựa trên sự xem xét từ phía Nhà nước, mà dựa trên sự phán đoán và quyết định theo quan điểm của người tiêu dùng thụ hưởng hàng hóa. Phương pháp này được gọi là phương pháp thử SSNIP - Test (Small but Significant Non-transitory Increase in Price)[1]. Theo đó, quan điểm của người thụ hưởng sản phẩm về khả năng thay thế của sản phẩm này bằng một sản phẩm khác sẽ là căn cứ quyết định về phạm vi của thị trường liên quan của sản phẩm, thay vì các tiêu chí định tính, định lượng được cung cấp bởi nhà sản xuất hoặc được quyết định bởi Nhà nước[2].

Đây cũng là một vấn đề mà các nhà lập pháp Việt Nam cần xem xét, bởi lẽ thị trường được quyết định bởi người tiêu dùng, không phải bởi nhà sản xuất hay Nhà nước. Do vậy, định danh thị trường của một sản phẩm nên chăng phải do chính năng lực tiêu thụ sản phẩm quyết định tới phạm vi thay vì máy móc dựa vào tiêu chí định tính và định lượng.

2. Thị phần

Khái niệm thị phần trong Luật Cạnh tranh năm 2004 gắn liền với khái niệm thị trường liên quan. Nếu như thị trường liên quan là một khoảng không gian tiêu thụ sản phẩm tương tự, thì thị phần sẽ quyết định vai trò và vị trí của doanh nghiệp trong hoạt động cung ứng hàng hóa và quyết định các điều kiện giá cả, phương thức thanh toán, nguồn cung… trên thị trường. Khoản 5 Điều 3 Luật Cạnh tranh năm 2004 định nghĩa: “Thị phần của doanh nghiệp đối với một loại hàng hóa, dịch vụ nhất định là tỷ lệ phần trăm giữa doanh thu bán ra của doanh nghiệp này với tổng doanh thu của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hoá, dịch vụ đó trên thị trường liên quan hoặc tỷ lệ phần trăm giữa doanh số mua vào của doanh nghiệp này với tổng doanh số mua vào của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hóa, dịch vụ đó trên thị trường liên quan theo tháng, quý, năm”. Theo đó, khái niệm thị phần được ghi nhận bởi tỷ lệ phần trăm doanh thu bán ra/doanh số mua vào của doanh nghiệp kinh doanh trên tổng doanh thu bán ra/doanh số mua vào trên thị trường liên quan. Như vậy, thị phần được quyết định bởi hai chiều là đơn vị cung ứng sản phẩm ra thị trường hoặc đơn vị tiêu thụ sản phẩm.

Pháp luật của Liên minh Châu Âu nói chung và Cộng hòa Pháp nói riêng rất chú trọng tới các ngưỡng định lượng về thị phần để xác định hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và lạm dụng vị thế độc quyền. Tuy nhiên, việc xác định thị phần chỉ là một trong nhiều tiêu chí đánh giá của Hội đồng Cạnh tranh. Một trong các tiêu chí này được ghi nhận trong pháp luật của Liên minh châu Âu cũng như thực tiễn xét xử các vụ việc cạnh tranh đó là tiêu chí sự mất cân đối giữa các lực lượng trên thị trường[3]. Sự mất cân đối này được phản ánh thông qua quy mô các doanh nghiệp; khả năng tài chính; sự yếu kém tương đối của các đối thủ cạnh tranh… Ví dụ, một doanh nghiệp có thị phần lớn nhưng đang bị giảm thị phần, không còn giữ được thị trường tiêu thụ nữa thì cũng không bị coi là lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường hay lạm dụng vị thế độc quyền.

Như vậy, nếu chỉ căn cứ vào yếu tố thị phần của một doanh nghiệp trong thị trường liên quan để làm căn cứ xác định hoạt động cung ứng sản phẩm của doanh nghiệp ra thị trường có là một hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh theo Luật Cạnh tranh hiện nay hay không có phần thiếu thuyết phục và cần nghiên cứu sửa đổi trong thời gian tới. Khi thị trường hàng hóa phát triển, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp được biểu hiện dưới nhiều sắc thái và mang những bản chất khác nhau. Bởi vậy, việc đưa ra các tiêu chí “cứng” trong việc định danh hành vi cạnh tranh không lành mạnh sẽ góp phần tạo những kẽ hở dễ bị lợi dụng, gây phương hại tới thị trường cũng như quyền và lợi ích chính đáng của cộng đồng doanh nghiệp.

3. Kết luận

Trong các quy định của pháp luật cạnh tranh Việt Nam, yếu tố thị phần trong thị trường liên quan có vai trò quyết định tới tính chất của một hành vi kinh tế khi xem xét tính chất vi phạm các quy định pháp luật cạnh tranh, gây tổn hại tới thị trường và các doanh nghiệp cạnh tranh trực tiếp với chủ thể.

Luật Cạnh tranh năm 2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Cạnh tranh được xây dựng theo hướng định lượng cụ thể nhất về khái niệm thị phần trong thị trường liên quan nhằm xác định đúng và đủ các hành vi cạnh tranh không lành mạnh; lạm dụng vị thế để phá vỡ quan hệ thị trường. Tuy nhiên, nếu so sánh với các quy định về xác định yếu tố thị phần tối thiểu trong thị trường liên quan của Cộng hòa Pháp và suy rộng ra là pháp luật cộng đồng châu Âu, thì có thể thấy, khái niệm quan trọng này vẫn chưa thực sự được quan tâm đúng mức khi xây dựng pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam. Mặc dù là cơ sở pháp lý để quyết định điều kiện đối với chủ thể, nhưng khái niệm này trong Luật Cạnh tranh và các văn bản hướng dẫn hiện nay còn khá sơ sài và phiến diện. Các yếu tố định lượng không đầy đủ khiến cho việc định danh hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh dễ dẫn tới không chuẩn xác, doanh nghiệp và các chủ thể kinh doanh khác không có cơ sở để nhận biết, phán quyết giải quyết các vụ việc cạnh tranh dễ dẫn tới sai lầm, gây thiệt hại cho các chủ thể kinh doanh… Ngoài ra, đó còn là những kẽ hở dễ bị lợi dụng để trục lợi trong bối cảnh thị trường cạnh tranh khốc liệt như hiện nay. Bởi vậy, việc nghiên cứu, xem xét sửa đổi các quy định liên quan tới khái niệm thị phần trong thị trường liên quan là một yêu cầu cấp thiết để tạo cơ sở pháp lý nhằm phát huy hiệu quả của pháp luật trong thực tiễn.

TS. Nguyễn Trọng Điệp

Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tài liệu tham khảo:

[1]. Điều 81, 82 Hiệp định thành lập Cộng đồng chung Châu Âu về nguyên tắc cạnh tranh.

[2]. Xem thêm: ThS Nguyễn Lan Anh, Xác định thị trường liên quan và vấn đề nhận dạng vị trí thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp theo pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 7/2009.

[3]. Xem thêm: Ủy ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế, Chính sách và thực tiễn pháp luật cạnh tranh của Cộng hòa Pháp, Tập 2: Các quy tắc cạnh tranh điều chỉnh hành vi nhằm đảm bảo cạnh tranh thực sự trên thị trường, Nxb. Chính trị Quốc gia, Chương 2, tr. 236.

In bài viết Gửi phản hồi

Các tin khác

Nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành án dân sự và xác minh điều kiện thi hành án của thừa phát lại Vướng mắc trong thụ lý yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật và thụ lý ly hôn Biện pháp bảo đảm thi hành án và thực tiễn áp dụng Tạm dừng việc cưỡng chế thi hành án dân sự được áp dụng trong trường hợp nào? Mối quan hệ giữa Toà án và Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự Bồi thường thiệt hại trong các vụ án hình sự liên quan đến giao dịch dân sự vô hiệu Hủy giấy chứng nhận kết hôn có coi là hủy hôn nhân trái pháp luật không? Xác định mục đích của nhà ở theo Luật Nhà ở năm 2005

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: