Thứ hai 10/08/2026 21:19
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thị phần trong thị trường liên quan theo pháp luật Luật Cạnh tranh Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết này phân tích thị phần trong thị trường liên quan theo Luật Cạnh tranh Việt Nam năm 2004 với góc nhìn so sánh với pháp luật cạnh tranh của Cộng hòa Pháp.

Abstract: This paper analyses market share in the concerned market according to Vietnamese Competition Law of 2014 from the aspect of comparison with competition law of Republic of France.

Một trong những vấn đề được nêu ra tại Hội thảo Tổng kết 10 năm thi hành Luật Cạnh tranh năm 2004 là trên thực tế hiện nay, các doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn trong việc xác định thị phần trong thị trường liên quan làm cơ sở để xem xét một hành vi kinh tế có vi phạm pháp luật cạnh tranh không.

Về cơ bản, Luật Cạnh tranh năm 2004 đề cập tới bốn khái niệm quan trọng trong hệ thống các quy phạm pháp luật về cạnh tranh gồm: (i) Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh; (ii) Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường; (iii) Lạm dụng vị trí độc quyền; (iv) Tập trung kinh tế. Trong đó, căn cứ phân định một hành vi có phải là hành vi cạnh tranh không lành mạnh hay không ngoài yếu tố nội dung còn phụ thuộc vào tiêu chí định lượng, cụ thể là điều kiện của chủ thể dựa trên thị phần trong thị trường liên quan. Một hành vi chỉ bị coi là hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh khi hành vi đó vi phạm các điều cấm trong pháp luật cạnh tranh và chủ thể thực hiện hành vi phải thỏa mãn yếu tố điều kiện chủ thể đối với từng hành vi vi phạm trong luật.

Theo nguyên tắc “chỉ được phép làm những điều mà pháp luật không cấm”, một hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh khi hành vi đó thuộc một trong các hành vi bị cấm được quy định trong Luật Cạnh tranh. Các hành vi này được liệt kê tại Điều 9 đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh; Điều 13 với lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường; Điều 14 đối với lạm dụng vị trí độc quyền; Điều 18 đối với tập trung kinh tế trong Luật Cạnh tranh năm 2004. Ngoài ra, Nghị định số 71/2014/NĐ-CP ngày 21/07/2014 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh cũng làm rõ hơn các hành vi bị xử phạt hành chính do vi phạm pháp luật cạnh tranh.

Tuy nhiên, không phải bất cứ chủ thể nào khi thực hiện các hành vi kể trên đều bị coi là vi phạm pháp luật cạnh tranh. Các hành vi bị cấm trong Luật Cạnh tranh năm 2004 được gắn liền với các điều kiện đặc thù về chủ thể thực hiện hành vi đó. Chỉ khi chủ thể nào đáp ứng các điều kiện này mà thực hiện hành vi vi phạm mới bị ghi nhận là một hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh.

Yếu tố thị phần trong thị trường liên quan gồm có hai thành tố quan trọng cần lưu ý là tỷ lệ thị phần và thị trường liên quan.

1. Thị trường liên quan

Khoản 1 Điều 3 Luật Cạnh tranh năm 2004 ghi nhận thị trường bao gồm thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan. Trong đó, thị trường sản phẩm liên quan là thị trường của những hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả. Thị trường địa lý liên quan là một khu vực địa lý cụ thể trong đó có những hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau với các điều kiện cạnh tranh tương tự và có sự khác biệt đáng kể với các khu vực lân cận.

Phân loại hai loại thị trường sản phẩm và thị trường địa lý là dựa trên sự phân loại dựa vào đặc tính của sản phẩm hàng hóa (yếu tố vật chất) và đặc điểm về không gian tiêu thụ sản phẩm hàng hóa đó. Nghị định số 116/2005/NĐ-CP 15/09/2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh dành 05 điều (từ Điều 4 đến Điều 8) để làm rõ hai thành tố này. Cụ thể, thị trường sản phẩm liên quan được ghi nhận dựa vào đặc tính hàng hóa (tính chất vật lý, hóa học, tính năng kỹ thuật…), mục đích sử dụng, giá cả của các sản phẩm có khả năng thay thế được cho nhau. Thị trường địa lý liên quan lại dựa trên khả năng thay thế được cho nhau của các sản phẩm có điều kiện cạnh tranh tương tự và khác biệt đáng kể với các khu vực lân cận (tiêu chí chi phí vận chuyển; rào cản thị trường).

Nhìn chung, cách xác định thị trường liên quan này là đúng nhưng chưa đủ nếu so sánh với các quốc gia châu Âu, trong đó có Cộng hòa Pháp. Thị trường liên quan còn được gọi là thị trường quy chiếu (theo luật Anh - Mỹ gọi là relevant market) là thị trường mà ở đó hoạt động cạnh tranh bị cản trở, hạn chế hoặc bị làm sai lệch theo quy định tại Điều L.420-1 Bộ luật Thương mại Cộng hòa Pháp hoặc thị trường mà ở đó cần phải xác định xem có tồn tại vị trí thống lĩnh theo Điều L.420-2 hay không. Ở các quốc gia này, việc xem xét sản phẩm trong thị trường liên quan không chỉ dựa trên sự xem xét từ phía Nhà nước, mà dựa trên sự phán đoán và quyết định theo quan điểm của người tiêu dùng thụ hưởng hàng hóa. Phương pháp này được gọi là phương pháp thử SSNIP - Test (Small but Significant Non-transitory Increase in Price)[1]. Theo đó, quan điểm của người thụ hưởng sản phẩm về khả năng thay thế của sản phẩm này bằng một sản phẩm khác sẽ là căn cứ quyết định về phạm vi của thị trường liên quan của sản phẩm, thay vì các tiêu chí định tính, định lượng được cung cấp bởi nhà sản xuất hoặc được quyết định bởi Nhà nước[2].

Đây cũng là một vấn đề mà các nhà lập pháp Việt Nam cần xem xét, bởi lẽ thị trường được quyết định bởi người tiêu dùng, không phải bởi nhà sản xuất hay Nhà nước. Do vậy, định danh thị trường của một sản phẩm nên chăng phải do chính năng lực tiêu thụ sản phẩm quyết định tới phạm vi thay vì máy móc dựa vào tiêu chí định tính và định lượng.

2. Thị phần

Khái niệm thị phần trong Luật Cạnh tranh năm 2004 gắn liền với khái niệm thị trường liên quan. Nếu như thị trường liên quan là một khoảng không gian tiêu thụ sản phẩm tương tự, thì thị phần sẽ quyết định vai trò và vị trí của doanh nghiệp trong hoạt động cung ứng hàng hóa và quyết định các điều kiện giá cả, phương thức thanh toán, nguồn cung… trên thị trường. Khoản 5 Điều 3 Luật Cạnh tranh năm 2004 định nghĩa: “Thị phần của doanh nghiệp đối với một loại hàng hóa, dịch vụ nhất định là tỷ lệ phần trăm giữa doanh thu bán ra của doanh nghiệp này với tổng doanh thu của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hoá, dịch vụ đó trên thị trường liên quan hoặc tỷ lệ phần trăm giữa doanh số mua vào của doanh nghiệp này với tổng doanh số mua vào của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hóa, dịch vụ đó trên thị trường liên quan theo tháng, quý, năm”. Theo đó, khái niệm thị phần được ghi nhận bởi tỷ lệ phần trăm doanh thu bán ra/doanh số mua vào của doanh nghiệp kinh doanh trên tổng doanh thu bán ra/doanh số mua vào trên thị trường liên quan. Như vậy, thị phần được quyết định bởi hai chiều là đơn vị cung ứng sản phẩm ra thị trường hoặc đơn vị tiêu thụ sản phẩm.

Pháp luật của Liên minh Châu Âu nói chung và Cộng hòa Pháp nói riêng rất chú trọng tới các ngưỡng định lượng về thị phần để xác định hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và lạm dụng vị thế độc quyền. Tuy nhiên, việc xác định thị phần chỉ là một trong nhiều tiêu chí đánh giá của Hội đồng Cạnh tranh. Một trong các tiêu chí này được ghi nhận trong pháp luật của Liên minh châu Âu cũng như thực tiễn xét xử các vụ việc cạnh tranh đó là tiêu chí sự mất cân đối giữa các lực lượng trên thị trường[3]. Sự mất cân đối này được phản ánh thông qua quy mô các doanh nghiệp; khả năng tài chính; sự yếu kém tương đối của các đối thủ cạnh tranh… Ví dụ, một doanh nghiệp có thị phần lớn nhưng đang bị giảm thị phần, không còn giữ được thị trường tiêu thụ nữa thì cũng không bị coi là lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường hay lạm dụng vị thế độc quyền.

Như vậy, nếu chỉ căn cứ vào yếu tố thị phần của một doanh nghiệp trong thị trường liên quan để làm căn cứ xác định hoạt động cung ứng sản phẩm của doanh nghiệp ra thị trường có là một hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh theo Luật Cạnh tranh hiện nay hay không có phần thiếu thuyết phục và cần nghiên cứu sửa đổi trong thời gian tới. Khi thị trường hàng hóa phát triển, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp được biểu hiện dưới nhiều sắc thái và mang những bản chất khác nhau. Bởi vậy, việc đưa ra các tiêu chí “cứng” trong việc định danh hành vi cạnh tranh không lành mạnh sẽ góp phần tạo những kẽ hở dễ bị lợi dụng, gây phương hại tới thị trường cũng như quyền và lợi ích chính đáng của cộng đồng doanh nghiệp.

3. Kết luận

Trong các quy định của pháp luật cạnh tranh Việt Nam, yếu tố thị phần trong thị trường liên quan có vai trò quyết định tới tính chất của một hành vi kinh tế khi xem xét tính chất vi phạm các quy định pháp luật cạnh tranh, gây tổn hại tới thị trường và các doanh nghiệp cạnh tranh trực tiếp với chủ thể.

Luật Cạnh tranh năm 2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Cạnh tranh được xây dựng theo hướng định lượng cụ thể nhất về khái niệm thị phần trong thị trường liên quan nhằm xác định đúng và đủ các hành vi cạnh tranh không lành mạnh; lạm dụng vị thế để phá vỡ quan hệ thị trường. Tuy nhiên, nếu so sánh với các quy định về xác định yếu tố thị phần tối thiểu trong thị trường liên quan của Cộng hòa Pháp và suy rộng ra là pháp luật cộng đồng châu Âu, thì có thể thấy, khái niệm quan trọng này vẫn chưa thực sự được quan tâm đúng mức khi xây dựng pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam. Mặc dù là cơ sở pháp lý để quyết định điều kiện đối với chủ thể, nhưng khái niệm này trong Luật Cạnh tranh và các văn bản hướng dẫn hiện nay còn khá sơ sài và phiến diện. Các yếu tố định lượng không đầy đủ khiến cho việc định danh hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh dễ dẫn tới không chuẩn xác, doanh nghiệp và các chủ thể kinh doanh khác không có cơ sở để nhận biết, phán quyết giải quyết các vụ việc cạnh tranh dễ dẫn tới sai lầm, gây thiệt hại cho các chủ thể kinh doanh… Ngoài ra, đó còn là những kẽ hở dễ bị lợi dụng để trục lợi trong bối cảnh thị trường cạnh tranh khốc liệt như hiện nay. Bởi vậy, việc nghiên cứu, xem xét sửa đổi các quy định liên quan tới khái niệm thị phần trong thị trường liên quan là một yêu cầu cấp thiết để tạo cơ sở pháp lý nhằm phát huy hiệu quả của pháp luật trong thực tiễn.

TS. Nguyễn Trọng Điệp

Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tài liệu tham khảo:

[1]. Điều 81, 82 Hiệp định thành lập Cộng đồng chung Châu Âu về nguyên tắc cạnh tranh.

[2]. Xem thêm: ThS Nguyễn Lan Anh, Xác định thị trường liên quan và vấn đề nhận dạng vị trí thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp theo pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 7/2009.

[3]. Xem thêm: Ủy ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế, Chính sách và thực tiễn pháp luật cạnh tranh của Cộng hòa Pháp, Tập 2: Các quy tắc cạnh tranh điều chỉnh hành vi nhằm đảm bảo cạnh tranh thực sự trên thị trường, Nxb. Chính trị Quốc gia, Chương 2, tr. 236.

In bài viết Gửi phản hồi

Các tin khác

Nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành án dân sự và xác minh điều kiện thi hành án của thừa phát lại Vướng mắc trong thụ lý yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật và thụ lý ly hôn Biện pháp bảo đảm thi hành án và thực tiễn áp dụng Tạm dừng việc cưỡng chế thi hành án dân sự được áp dụng trong trường hợp nào? Mối quan hệ giữa Toà án và Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự Bồi thường thiệt hại trong các vụ án hình sự liên quan đến giao dịch dân sự vô hiệu Hủy giấy chứng nhận kết hôn có coi là hủy hôn nhân trái pháp luật không? Xác định mục đích của nhà ở theo Luật Nhà ở năm 2005

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Trong đợt tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật năm 2026 - một nhiệm vụ trọng yếu được triển khai theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới - nguyên tắc “6 rõ” đã được xác lập như một chuẩn mực kỹ thuật và quản trị cốt lõi. Nội dung của nguyên tắc này bao gồm: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền và rõ kết quả.
Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Ngày 30/7 hằng năm được Đại hội đồng Liên hợp quốc chọn là Ngày Thế giới phòng, chống mua bán người (World Day Against Trafficking in Persons) nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về những hậu quả nghiêm trọng của tội phạm mua bán người, đồng thời kêu gọi các quốc gia tăng cường hợp tác, triển khai các giải pháp phòng ngừa, đấu tranh và bảo vệ nạn nhân.
"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

Ngày 23/3/2026, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đã ban hành Chỉ thị số 09-CT/TU về nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi công vụ; siết chặt kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm của cán bộ, nhất là người đứng đầu trong giai đoạn phát triển mới của Thủ đô Hà Nội (Chỉ thị số 09-CT/TU). Theo đó, Thành phố xác định rõ việc định vị hình ảnh và giá trị cốt lõi của Thủ đô với 09 đặc trưng "Thủ đô văn hiến - kết nối toàn cầu - thanh lịch, hào hoa - phát triển hài hòa - thanh bình, thịnh vượng - chính quyền phục vụ - doanh nghiệp cống hiến - xã hội niềm tin - người dân hạnh phúc", lấy "Văn hiến - bản sắc - sáng tạo" làm trục giá trị xuyên suốt.

Theo dõi chúng tôi trên: