Thứ sáu 23/10/2026 20:46
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thỏa thuận thi hành án dân sự và một số vấn đề pháp lý liên quan

Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thoả thuận là nguyên tắc đặc trưng của pháp luật dân sự[1], xuất phát từ tính độc lập về sở hữu, tính tự chủ, tự định đoạt, tự chịu trách nhiệm về tài sản của các chủ thể. Đây là nguyên tắc cơ bản bao trùm trong toàn bộ các quan hệ dân sự nói chung và quan hệ của các chủ thể trong thi hành án dân sự nói riêng.


Thỏa thuận thi hành án dân sự là sự tự nguyện của các đương sự[2] (người được thi hành án, người phải thi hành án) và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhằm bày tỏ ý kiến, nguyện vọng, trao đổi để đi đến thống nhất thi hành một phần hay toàn bộ nội dung bản án, quyết định dân sự trên cơ sở quyền và nghĩa vụ dân sự đã được xác lập theo bản án, quyết định dân sự đó. Thỏa thuận thi hành án dân sự có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về chính trị - xã hội và pháp lý. Thỏa thuận thi hành án dân sự thành công không chỉ đảm bảo quyền tự định đoạt của đương sự mà còn là biện pháp thi hành án hiệu quả, bảo đảm mối quan hệ hài hòa giữa các đương sự, nâng cao ý thức pháp luật của người dân.

Vấn đề thỏa thuận thi hành án được quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014 (sau đây gọi là Luật Thi hành án dân sự) Điều 5 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự (sau đây gọi là Nghị định số 62/2015/NĐ-CP).

1. Cơ sở pháp lý quy định về quyền thỏa thuận trong thi hành án dân sự

Bản án, quyết định của Tòa án được ban hành khẳng định quyền, nghĩa vụ pháp lý của các bên, là kết quả áp dụng pháp luật để giải quyết những tranh chấp pháp lý hoặc là chế tài đối với những hành vi vi phạm pháp luật. Kể từ thời điểm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật thì các bên có liên quan trong bản án, quyết định sẽ trở thành chủ thể có quyền, nghĩa vụ đối với tài sản, nhân thân hoặc đối với một công việc cụ thể (trừ trường hợp bản án, quyết định theo quy định của pháp luật phải thi hành ngay). Pháp luật dân sự quy định cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng[3]. Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, theo đó, việc thỏa thuận thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự là quyền tự do của cá nhân, pháp nhân. Ví dụ, bản án tuyên A phải trả cho B 100 triệu đồng trong thời hạn 01 tháng, nhưng A và B lại thỏa thuận là A chỉ phải trả cho B số tiền 50 triệu đồng trong thời hạn 05 năm hoặc thay vì phải trả cho B số tiền 100 triệu đồng tiền mặt thì A giao cho B quyền sử dụng một diện tích đất có giá trị tương đương[4]. Thỏa thuận đó vẫn được chấp nhận nếu đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự cũng được quy định tại khoản 2 Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đó là trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội.

2. Đối tượng có quyền thỏa thuận thi hành án dân sự

Điều 6 Luật Thi hành án dân sự chỉ quy định “đương sự” có quyền thỏa thuận thi hành án, trong khi theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Thi hành án dân sự thì đương sự bao gồm người được thi hành án, người phải thi hành án. Điều này đồng nghĩa với việc chỉ có người được thi hành án và người phải thi hành án là có quyền thỏa thuận thi hành án. Trong khi đó, điểm c khoản 1 Điều 7 Luật Thi hành án dân sự quy định người được thi hành án có quyền thỏa thuận với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, phương thức, nội dung thi hành án và điểm a khoản 1 Điều 7a Luật Thi hành án dân sự cũng quy định người phải thi hành án có quyền thỏa thuận với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, phương thức, nội dung thi hành án. Khái niệm “thỏa thuận” được hiểu là phải có sự tự nguyện, đồng ý của ít nhất từ 02 bên trở lên, do đó, theo quy định trên thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền thỏa thuận thi hành án với người được thi hành án và người phải thi hành án. Như vậy, đã có sự mâu thuẫn giữa quy định tại Điều 6 với Điều 7 và Điều 7a của Luật Thi hành án dân sự về đối tượng có quyền thỏa thuận thi hành án.

Ngoài ra, quy định về chủ thể thỏa thuận thi hành án tại Điều 7, Điều 7a Luật Thi hành án dân sự lại chưa thống nhất với các điều khoản khác có quy định về thỏa thuận trong thi hành án, ví dụ: Điểm a khoản 2 Điều 78[5], khoản 1 và khoản 2 Điều 98[6], khoản 2 Điều 103[7], khoản 3 Điều 135[8].

3. Nội dung, thời gian, địa điểm thỏa thuận thi hành án dân sự

Các nội dung về thỏa thuận thi hành án dân sự được hướng dẫn tại Điều 5 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP, bao gồm:

Một là, trường hợp đương sự thỏa thuận trước khi yêu cầu thi hành án hoặc đã yêu cầu nhưng cơ quan thi hành án dân sự chưa ra quyết định thi hành án thì thỏa thuận đó phải lập thành văn bản nêu rõ thời gian, địa điểm, nội dung thỏa thuận, có chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên tham gia thỏa thuận. Đương sự có nghĩa vụ tự thực hiện đúng nội dung đã thỏa thuận. Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ đã thỏa thuận mà thời hiệu yêu cầu thi hành án vẫn còn thì bên có quyền được yêu cầu thi hành án đối với phần nghĩa vụ chưa được thi hành theo nội dung bản án, quyết định.

Hai là, trường hợp cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định thi hành án, đương sự vẫn có quyền tự thỏa thuận. Thỏa thuận phải thể hiện rõ thời gian, địa điểm, nội dung thỏa thuận, thời hạn thực hiện thỏa thuận, hậu quả pháp lý đối với việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nội dung đã thỏa thuận, có chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên tham gia. Trường hợp các bên không tự nguyện thực hiện theo đúng nội dung đã thỏa thuận thì cơ quan thi hành án dân sự căn cứ nội dung quyết định thi hành án và kết quả đã thi hành theo thỏa thuận, đề nghị của đương sự để tổ chức thi hành, trừ trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 50 Luật Thi hành án dân sự.

Quy định này được hiểu là khi đã có quyết định thi hành án, các bên đương sự vẫn có quyền thỏa thuận ở tất cả các giai đoạn thi hành án. Tuy nhiên, trong thực tiễn, không ít những trường hợp các đương sự thoả thuận thi hành án trong quá trình đang thực hiện bán đấu giá tài sản kê biên, gây ra nhiều lúng túng cho chấp hành viên. Bởi vì quy định pháp luật hiện hành về trình tự thủ tục thẩm định giá, bán đấu giá yêu cầu rất chặt chẽ về mặt thời gian. Trong trường hợp đương sự thỏa thuận thi hành án vượt quá thời gian pháp luật quy định cho quy trình thẩm định giá, bán đấu giá, nếu chấp hành viên chấp nhận thỏa thuận đó thì có vi phạm các trình tự, thủ tục thi hành án không? Mặt khác, khi thực hiện trình tự thủ tục thẩm định giá, bán đấu giá, chấp hành viên phải ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá, bán đấu giá, nếu chấp nhận thỏa thuận thì chấp hành viên đã vi phạm hợp đồng dịch vụ dẫn đến nhiều hệ quả pháp lý phát sinh[9]. Do đó, cần có các quy định hướng dẫn về việc thỏa thuận thi hành án trong thời điểm cơ quan thi hành án đang thực hiện định giá, bán đấu tài sản thi hành án để thống nhất thực hiện.

Ba là, trường hợp cơ quan thi hành án dân sự đang tổ chức thi hành án mà đương sự thỏa thuận về việc không yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thi hành một phần hoặc toàn bộ quyết định thi hành án thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định đình chỉ thi hành án đối với nội dung thỏa thuận không yêu cầu thi hành theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 50 Luật Thi hành án dân sự, trừ trường hợp thỏa thuận vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội, không đúng với thực tế, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba hoặc nhằm trốn tránh phí thi hành án. Trường hợp thỏa thuận nêu trên được thực hiện sau khi tài sản đã được bán hoặc giao cho người khác nhận để thi hành án thì phải được sự đồng ý của người mua được tài sản hoặc người nhận tài sản để thi hành án.

Thực tế cho thấy, trong nhiều việc thi hành án liên quan đến các tổ chức tín dụng, ngân hàng, sau khi cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án, các đương sự thỏa thuận (không có sự tham gia của chấp hành viên) về các khoản phải thi hành án, sau đó các bên tự thanh toán cho nhau và không thanh toán khoản án phí. Khi chấp hành viên yêu cầu, phía ngân hàng cho rằng đây là khoản nợ xấu vì vậy án phí không áp dụng ưu tiên thanh toán và thỏa thuận không vi phạm điều cấm của pháp luật[10]. Tuy nhiên, có quan điểm cho rằng, trong cùng một vụ việc, ngân sách nhà nước là bên thứ ba có quyền lợi thể hiện qua khoản án phí, vì vậy thỏa thuận trên là chưa phù hợp. Đề nghị bổ sung tại khoản 3 Điều 5 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP cụm từ “án phí”, cụ thể như sau: “Trừ trường hợp thỏa thuận vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội, không đúng với thực tế, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba hoặc nhằm trốn tránh án phí và phí thi hành án” để đảm bảo lợi ích của Nhà nước[11].

Khi đương sự có yêu cầu, chấp hành viên có trách nhiệm chứng kiến và ký tên vào văn bản thỏa thuận trong trường hợp cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định thi hành án hoặc đang tổ chức thi hành án (khoản 2 và khoản 3 Điều 5 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP). Trường hợp thỏa thuận vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội, không đúng với thực tế, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba hoặc nhằm trốn tránh phí thi hành án thì chấp hành viên có quyền từ chối nhưng phải lập biên bản và nêu rõ lý do. Người yêu cầu chấp hành viên chứng kiến việc thỏa thuận ngoài trụ sở cơ quan thi hành án dân sự mà phát sinh chi phí thì phải thanh toán các chi phí hợp lý cho cơ quan thi hành án dân sự. Tuy nhiên, thế nào là chi phí hợp lý thì pháp luật chưa có giải thích, hướng dẫn rõ ràng, cụ thể, ví dụ chi phí đi lại (khoảng cách bao nhiêu, chi phí như thế nào), khoảng thời gian chứng kiến và mức chi phí tương ứng…

Hiện nay, việc áp dụng điểm c khoản 1 Điều 50 và khoản 4 Điều 54 của Luật Thi hành án dân sự liên quan đến thỏa thuận thi hành án của đương sự và liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba đã phát sinh những quan điểm khác nhau. Ví dụ[12]: Ông A và bà B là người được thi hành án trong một vụ việc thi hành án đang được Chi cục thi hành án dân sự huyện X thụ lý giải quyết theo thẩm quyền, theo đó ông C là người phải thi hành án và theo bản án thì ông C phải trả ông A và bà B số tiền 450 triệu đồng và lãi suất chậm thi hành án. Cùng thời điểm đó, tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Y và theo một bản án khác thì ông A và bà B lại là người phải thi hành án trong 04 vụ việc thi hành án khác với số tiền thi hành án mà ông A và bà B phải trả cho những người khác là 1,7 tỷ đồng. Ngày 01/7/2016, ông A và bà B đã đề nghị Chi cục thi hành án dân sự huyện X xóa nợ cho ông C và yêu cầu đình chỉ thi hành án số tiền 450 triệu đồng cùng với lãi suất chậm thi hành án và cam kết không khiếu nại gì.

Có thể thấy việc ông A bà B đề nghị xóa nợ cho ông C là bất thường, tuy nhiên căn cứ để xác định việc không chấp nhận hay chấp nhận sự thỏa thuận của ông A và bà B với ông C trong trường hợp này vẫn là một vấn đề còn có nhiều quan điểm chưa thống nhất.

Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 50 Luật Thi hành án dân sự thì thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định đình chỉ thi hành án trong trường hợp: “Đương sự có thỏa thuận bằng văn bản hoặc người được thi hành án có văn bản yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự đình chỉ thi hành một phần hoặc toàn bộ quyền, lợi ích được hưởng theo bản án, quyết định, trừ trường hợp việc đình chỉ thi hành án ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba”. Như vậy, việc xác định người thứ ba theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 50 Luật Thi hành án dân sự còn có nhiều quan điểm khác nhau: Người thứ ba có phải là người có quyền lợi trong cùng một vụ việc hay người thứ ba có thể là bất kỳ ai, có thể là người khác tại bản án khác hay không?

Về việc đình chỉ thi hành án theo điểm c khoản 1 Điều 50 Luật Thi hành án dân sự, hiện đang có 02 quan điểm:

Quan điểm thứ nhất cho rằng, việc đình chỉ thi hành án trong các trường hợp nói trên ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba là người được thi hành án trong mối quan hệ với ông A và bà B tại các bản án khác. Người thứ ba ở đây được xác định là bất kỳ cá nhân, tổ chức nào mà khi cơ quan thi hành án dân sự đình chỉ thi hành án thì ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ; quyền và lợi ích hợp pháp này phải được pháp luật bảo vệ. Do đó, không chấp nhận đình chỉ thi hành án trong trường hợp nói trên.

Quan điểm thứ hai cho rằng, căn cứ vào Điều 6, Điều 50 Luật Thi hành án dân sự và Điều 122 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì đương sự có quyền tự định đoạt và thỏa thuận với nhau về việc thi hành án. Vì vậy, đối với các vụ việc mà đương sự có văn bản thỏa thuận xóa nợ cho nhau và yêu cầu cơ quan thi hành án không tiếp tục thi hành án, thì trong trường hợp này, cơ quan thi hành án dân sự cần chấp nhận yêu cầu của đương sự và ra quyết định đình chỉ thi hành án.

Do quy định của pháp luật về thỏa thuận thi hành án, những vấn đề pháp lý có liên quan đến việc thỏa thuận thi hành án cũng như tư cách pháp lý của đương sự còn thiếu rõ ràng, chặt chẽ nên việc tổ chức thi hành án đối với các vụ việc này còn gặp nhiều vướng mắc.

Theo các quy định mới của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì việc thỏa thuận của các đương sự trong quá trình giải quyết của Tòa án được pháp luật khuyến khích và công nhận. Ví dụ, khoản 1 Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công phải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về hiệu lực của quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau: Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự chỉ có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ cho rằng sự thỏa thuận đó là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hoặc vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội. Luật Tố tụng hình sự năm 2015 cũng quy định cụ thể về trình tự tiến hành thỏa thuận của các đương sự và hiệu lực pháp luật của quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự[13].

Tuy nhiên, hiệu lực của việc thỏa thuận trong thi hành án dân sự cần được pháp điển hóa, trong trường hợp đương sự vi phạm thỏa thuận (do cơ quan thi hành án dân sự chứng kiến) thì ngoài việc tiếp tục tổ chức theo bản án, quyết định[14], bên vi phạm thỏa thuận có phải chịu trách nhiệm nào khác không? Đây là những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, bổ sung trong thời gian tới.

Hơn nữa, khoản 9 Điều 419 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 về thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án cũng quy định: Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án được thi hành theo pháp luật về thi hành án dân sự. Như vậy, pháp luật tố tụng dân sự đã dẫn chiếu việc thi hành quyết định công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án đến các quy định của pháp luật thi hành án dân sự, trong khi đó, Luật Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành lại chưa có các điều khoản hướng dẫn cụ thể trình tự, thủ tục thi hành đối với các biên bản ghi nhận sự thỏa thuận thi hành quyền và nghĩa vụ của các bên đương sự hoặc thi hành quyết định công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án. Ngoài ra, việc thỏa thuận thi hành án giữa các bên đương sự còn liên quan đến trách nhiệm đóng phí thi hành án theo quy định của pháp luật[15]. Do đó, cần tiếp tục nghiên cứu, bổ sung các quy định liên quan đến vấn đề này trong thời gian tới./.

ThS. Hoàng Thị Thanh Hoa

Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên, TP. Hà Nội




[1] Khoản 2 Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[2] Điều 3 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014.

[3] Khoản 2 Điều 3 Bộ luật dân sự năm 2015.

[4] Nguyễn Thanh Thủy, Luận án Tiến sỹ Luật học, Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, 2008, tr. 13 - 14.

[5] Đương sự thỏa thuận việc trừ vào thu nhập của người phải thi hành án.

[6] Đương sự thỏa thuận về giá, về tổ chức thẩm định giá, tổ chức bán đấu giá.

[7] Đương sự có thỏa thuận khác sau khi bán đấu giá tài sản.

[8] Đương sự thỏa thuận về việc hoàn trả tài sản, phục hồi lại quyền tài sản khi bản án, quyết định đã thi hành được một phần hoặc thi hành xong nhưng bản án bị hủy, sửa.

[9] Phạm Quang Dũng, Tham luận tại tọa đàm : “Hướng hoàn thiện Nghị định số 62/2015/NĐ-CP để nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự” , Học viện Tư pháp, ngày 24/4/2019.

[10] Điều 12 Nghị quyết số 42/2017/QH 14 ngày 21/6/2017 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng.

[11] Phạm Quang Dũng, Tham luận tại tọa đàm: “Hướng hoàn thiện Nghị định số 62/2015/NĐ-CP để nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự”, tlđd.

[12] Nguyễn Nhàn, Bàn về vấn đề thỏa thuận thi hành án dân sự ảnh hưởng đến quyền, lợi ịch hợp pháp của người thứ ba, nguồn: Http://thads.moj.gov.vn/noidung/tintuc/lists/nghiencuutraodoi/view_detail.aspx?itemid=805, truy cập ngày 24/04/2019.

[13] Điều 246, Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[14] Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP.

[15] Hoàng Thị Thanh Hoa & Nguyễn Văn Nghĩa, Quy định pháp luật về phí thi hành án dân sự hiện nay ở Việt Nam và liên hệ một vài quy định quốc tế có liên quan, nguồn:

Http://thads.moj.gov.vn/noidung/tintuc/Lists/NghienCuuTraoDoi/View_Detail.aspx?ItemID=843, truy cập ngày 05/5/2018.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: