Thứ bảy 14/03/2026 06:40
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thời hiệu yêu cầu bồi thường của người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự

Tuy nhiên, thực tiễn triển khai thi hành Nghị quyết số 388, đã gặp phải vướng mắc trong quá trình giải quyết vụ việc do không xác định được cụ thể ngày có hiệu lực của Nghị quyết số 388, dẫn tới tranh cãi về thời hiệu yêu cầu bồi thường. Bởi vì, theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 quy định về ngày có hiệu lực của nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội là kể từ ngày Chủ tịch nước ký lệnh công bố, trừ trường hợp văn bản đó quy định ngày có hiệu lực khác.

1. Quy định về thời hiệu yêu cầu bồi thường của người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự
Cụ thể hóa các quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995, ngày 03/5/1997, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 47-CP ngày 03/5/1997 về việc giải quyết bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra (sau đây viết tắt là Nghị định số 47). Tuy nhiên, vấn đề về thời hiệu yêu cầu bồi thường chưa được quy định tại Nghị định số 47. Phải tới Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11 ngày 17/3/2003 về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra (viết tắt là Nghị quyết số 388) mới quy định cụ thể về thời hiệu yêu cầu bồi thường.

Ngày 20/6/2017, tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước số 10/2017/QH14. Luật này có hiệu lực từ ngày 01/7/2018. Theo đó, hiện nay, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 và Nghị quyết số 388 đã hết hiệu lực. Tuy nhiên, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 và Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 đều có quy định về điều khoản chuyển tiếp, vì vậy, còn một số vụ việc thuộc trường hợp được bồi thường theo Nghị quyết số 388 và Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 đã yêu cầu bồi thường nhưng chưa được giải quyết vẫn còn có thể được áp dụng Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 để giải quyết. Thời hiệu yêu cầu bồi thường của người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự được quy định trong cả ba văn bản quy phạm pháp luật này, cụ thể như sau:

1.1. Quy định về thời hiệu yêu cầu bồi thường trong Nghị quyết số 388

Thời hiệu yêu cầu bồi thường được quy định tại Điều 19 Nghị quyết số 388, trong đó cả hai khoản 1 và 2 đều lấy mốc thời gian liên quan tới ngày có hiệu lực của Nghị quyết, cụ thể:

- Đối với những người thuộc các trường hợp được bồi thường theo quy định tại Điều 1 Nghị quyết số 388, trong thời gian từ ngày 01/7/1996 cho đến trước ngày Nghị quyết số 388 có hiệu lực mà có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định bị oan, thì thời hiệu yêu cầu cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại giải quyết việc bồi thường là hai năm, kể từ ngày Nghị quyết số 388 có hiệu lực;

- Đối với những người có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định bị oan từ ngày Nghị quyết số 388 có hiệu lực, thì thời hiệu yêu cầu cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại giải quyết việc bồi thường là hai năm, kể từ ngày bản án, quyết định trên có hiệu lực pháp luật.

Tuy nhiên, thực tiễn triển khai thi hành Nghị quyết số 388, đã gặp phải vướng mắc trong quá trình giải quyết vụ việc do không xác định được cụ thể ngày có hiệu lực của Nghị quyết số 388, dẫn tới tranh cãi về thời hiệu yêu cầu bồi thường. Bởi vì, theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 quy định về ngày có hiệu lực của nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội là kể từ ngày Chủ tịch nước ký lệnh công bố, trừ trường hợp văn bản đó quy định ngày có hiệu lực khác. Tuy nhiên, Nghị quyết số 388 không có quy định về ngày có hiệu lực và hiện cũng chưa tìm được văn bản nào xác định ngày Chủ tịch nước ký lệnh công bố Nghị quyết này.

Vì vậy, để thống nhất trong việc áp dụng pháp luật, ngày 08/5/2006, Tòa án nhân dân tối cao đã có văn bản gửi Ủy ban thường vụ Quốc hội xin ý kiến về việc xác định rõ thời điểm có hiệu của Nghị quyết số 388[1]. Theo đó, ngày 12/5/2006, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã có văn bản gửi Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về việc xác định ngày có hiệu lực của Nghị quyết số 388, cụ thể “trên cơ sở xem xét việc Văn phòng Quốc hội đã có tổ chức họp báo đưa tin về Nghị quyết này sau khi được Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua và vận dụng quy định tại Điều 10 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Ủy ban thường vụ Quốc hội xác định thời điểm có hiệu pháp luật của Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11 của Ủy ban thường vụ Quốc hội là sau 15 ngày, kể từ ngày Nghị quyết được Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua”[2]. Trên cơ sở đó, ngày 24/5/2006, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành văn bản xác định Nghị quyết số 388 có hiệu lực kể từ ngày 02/5/2003, đây là mốc thời gian quan trọng để xác định thời hiệu yêu cầu bồi thường của người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự theo Nghị quyết số 388.

Ngoài ra, liên quan tới việc xác định thời hiệu yêu cầu bồi thường đối với các trường hợp bị oan được áp dụng Nghị quyết số 388 để giải quyết bồi thường, tại Điều 19 Nghị quyết số 388 chỉ quy định thời hiệu đối với các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 18, cụ thể là trường hợp mà có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật từ ngày 01/7/1996 của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó bị oan. Còn đối với những trường hợp mà có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật trước ngày 01/7/1996 của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó bị oan mà đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại của người bị oan hoặc thân nhân của người bị oan đã được cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự tiếp nhận trước ngày Nghị quyết số 388 có hiệu lực nhưng chưa giải quyết hoặc đang giải quyết, thì áp dụng Nghị quyết số 388 để giải quyết mà không áp dụng thời hiệu quy định tại Điều 19 Nghị quyết số 388 nữa. Bởi có thể hiểu, người bị oan đó đã có đơn yêu cầu bồi thường tới cơ quan có thẩm quyền nhưng chưa được giải quyết.

1.2. Quy định về thời hiệu yêu cầu bồi thường trong Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009

Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 quy định về thời hiệu yêu cầu bồi thường nhà nước nói chung cho cả ba lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án tại Điều 5, trong đó bao gồm cả hoạt động tố tụng hình sự.

Trên cơ sở phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 quy định về thời hiệu yêu cầu bồi thường đối với người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự, theo đó, đối với trường hợp có văn bản của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người bị thiệt hại thuộc trường hợp được bồi thường thì thời hiệu yêu cầu bồi thường là 02 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự xác định người bị thiệt hại thuộc trường hợp được bồi thường quy định tại Điều 26 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009. Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 lấy mốc thời gian là ngày có hiệu lực pháp luật của bản án, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng để tính thời hiệu yêu cầu bồi thường.

1.3. Quy định về thời hiệu yêu cầu bồi thường trong Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017

So với quy định tại Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 đã sửa đổi một số quy định về thời hiệu yêu cầu bồi thường. Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cũng quy định chung về thời hiệu yêu cầu bồi thường cho các hoạt động mà không có quy định riêng cho lĩnh vực tố tụng hình sự. Trên cơ sở quy định chung này, thì thời hiệu yêu cầu bồi thường đối với người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự được quy định cụ thể như sau:

Thứ nhất, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 quy định tăng thời hiệu yêu cầu bồi thường từ 02 năm lên 03 năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu bồi thường (người bị thiệt hại; người thừa kế của người bị thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại chết; tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ của tổ chức bị thiệt hại đã chấm dứt tồn tại và người đại diện theo pháp luật của người bị thiệt hại thuộc trường hợp phải có người đại diện theo pháp luật theo quy định của Bộ luật Dân sự) nhận được văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường cho phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ngoài ra, so với Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 quy định lấy mốc thời gian để tính thời hiệu yêu cầu bồi thường là ngày người có quyền yêu cầu bồi thường nhận được văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường. Đây là một quy định tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho người bị thiệt hại, bởi vì nhiều trường hợp trên thực tế, đã có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường nhưng người bị thiệt hại chưa được nhận văn bản này để có cơ sở thực hiện quyền yêu cầu bồi thường của mình.

Thứ hai, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 quy định không áp dụng thời hiệu yêu cầu bồi thường đối với trường hợp yêu cầu phục hồi danh dự. Quy định này cũng là phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự về không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân không gắn với tài sản.

Thứ ba, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 bổ sung quy định về thời gian không tính vào thời hiệu yêu cầu bồi thường và nghĩa vụ chứng minh của người yêu cầu bồi thường đối với khoảng thời gian không tính vào thời hiệu. Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 quy định về các khoảng thời gian không tính vào thời hiệu yêu cầu bồi thường trên cơ sở luật hóa quy định tại một số thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 nhằm bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại. Đồng thời, quy định này cũng phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự về khoảng thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự.

Thời gian không tính vào thời hiệu yêu cầu bồi thường được xác định như sau:

- Khoảng thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan theo quy định của Bộ luật Dân sự làm cho người có quyền yêu cầu bồi thường (bao gồm: Người bị thiệt hại; người thừa kế của người bị thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại chết; tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ của tổ chức bị thiệt hại đã chấm dứt tồn tại và người đại diện theo pháp luật của người bị thiệt hại thuộc trường hợp phải có người đại diện theo pháp luật theo quy định của Bộ luật Dân sự) không thể thực hiện được quyền yêu cầu bồi thường;

- Khoảng thời gian mà người bị thiệt hại là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi chưa có người đại diện theo quy định của pháp luật hoặc người đại diện đã chết hoặc không thể tiếp tục là người đại diện cho tới khi có người đại diện mới.

2. Một vụ việc điển hình

Ngày 19/10/1981, cơ quan điều tra Công an tỉnh K đã ra quyết định khởi tố vụ án - khởi tố bị can và ra lệnh bắt tạm giam đối với ông B do bị tình nghi phạm tội giết người. Ngày 25/9/1984, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh K có Quyết định đình chỉ điều tra bị can số 336/KSĐT đối với ông B đồng thời trả tự do cho ông vì không đủ bằng chứng buộc tội. Năm 2000, ông B có đơn khiếu nại yêu cầu bồi thường về vật chất, về danh dự gửi đến Công an tỉnh K. Ngày 14/4/2000, cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh K có Công văn số 09/HC gửi ông B có nội dung không thể tiến hành xem xét các yêu cầu bồi thường thiệt hại của ông do: Sự việc xảy ra tại thời điểm năm 1981 khi đó chưa có Bộ luật Hình sự năm 1985, nên chưa có quy định “truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội”, đồng thời, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với loại tội này đã hết. Ngày 09/11/2009, ông B có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại, thì cán bộ Viện kiểm sát nhân dân tỉnh K trả lời đã hết thời hiệu nên không thực hiện được việc bồi thường thiệt hại. Năm 2016, ông B tiếp tục có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại gửi Viện kiểm sát nhân dân tỉnh K. Ngày 14/6/2016, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh K có công văn trả lời yêu cầu bồi thường của ông B, theo đó, tiếp tục cho rằng vụ việc của ông B đã hết thời hiệu yêu cầu bồi thường. Ông B đã tiến hành khởi kiện yêu cầu bồi thường đối với Viện kiểm sát nhân dân tỉnh K tại Tòa án nhân dân huyện N. Tuy nhiên, ngày 18/10/2016, Tòa án nhân dân huyện N có Thông báo số 460/TB-TA trả lại đơn khởi kiện của ông do chưa đủ điều kiện khởi kiện theo quy định tại Điều 22 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009. Đến nay, vụ việc của ông B chưa được thụ lý để giải quyết.

Phân tích một số vấn đề pháp lý liên quan tới vụ việc:

Ngày 25/9/1984, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh K có quyết định đình chỉ điều tra đối với ông B vì không đủ bằng chứng buộc tội ông về tội giết người. Theo đó, ông B thuộc trường hợp được bồi thường thiệt hại theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 388. Theo quy định tại khoản 2 Điều 18 Nghị quyết số 388 thì “các trường hợp quy định tại Điều 1 của Nghị quyết này mà có bản án, quyết định có hiệu lực trước ngày 01/7/1996 của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó bị oan mà đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại của người bị oan hoặc thân nhân của người bị oan đã được cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự tiếp nhận trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực nhưng chưa giải quyết hoặc đang giải quyết, thì áp dụng Nghị quyết này để giải quyết”.

Đối với vụ việc của ông B, đã có quyết định đình chỉ điều tra ngày 25/9/1984 xác định ông không thực hiện hành vi phạm tội. Năm 2000, ông đã có đơn khiếu nại yêu cầu bồi thường gửi Công an tỉnh K. Ngày 14/4/2000, cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh K đã có Công văn số 09/HC gửi ông B có nội dung không thể tiến hành xem xét các yêu cầu bồi thường thiệt hại của ông. Như vậy, đối chiếu với quy định nêu trên tại Nghị quyết số 388 thì đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại của ông B đã được cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự tiếp nhận trước ngày Nghị quyết số 388 có hiệu lực nhưng chưa được giải quyết. Và theo quy định tại Điều 19 Nghị quyết số 388 không quy định thời hiệu yêu cầu bồi thường đối với trường hợp này. Do đó, không có cơ sở để xác định vụ việc đã hết thời hiệu yêu cầu bồi thường.

3. Một số vấn đề cần lưu ý khi áp dụng pháp luật về thời hiệu yêu cầu bồi thường

3.1. Về phía người bị oan - người bị thiệt hại

- Khi người bị oan nhận được bản án, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền làm căn cứ thực hiện quyền yêu cầu bồi thường và khi có đủ những giấy tờ, tài liệu liên quan tới yêu cầu bồi thường của mình cần sớm thực hiện quyền này để không bị rơi vào trường hợp hết thời hiệu yêu cầu bồi thường.

- Quá trình tố tụng hình sự bao gồm rất nhiều giai đoạn tố tụng với sự tham gia của nhiều cơ quan tố tụng, trong trường hợp chưa xác định được ngay cơ quan giải quyết bồi thường, người yêu cầu bồi thường có thể nộp hồ sơ yêu cầu bồi thường đến Sở Tư pháp nơi người bị thiệt hại cư trú hoặc có trụ sở, để tránh trường trường hợp do xác định cơ quan giải quyết bồi thường quá lâu dẫn tới hết thời hiệu yêu cầu bồi thường. Theo đó, trong thời hạn 05 ngày làm việc, Sở Tư pháp có trách nhiệm xác định cơ quan giải quyết bồi thường, chuyển hồ sơ đến cơ quan giải quyết bồi thường và thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu bồi thường.

3.2. Về phía cơ quan nhà nước

- Đối với yêu cầu phục hồi danh dự thì Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 không quy định thời hiệu. Vì vậy, trường hợp đã hết thời hiệu yêu cầu bồi thường thiệt hại mà người bị thiệt hại vẫn có yêu cầu phục hồi danh dự thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải tiến hành phục hồi danh dự cho người đó theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

- Đối với những vụ việc người mà yêu cầu bồi thường đã nộp hồ sơ yêu cầu bồi thường đến Sở Tư pháp trong thời hiệu yêu cầu bồi thường để xác định cơ quan giải quyết bồi thường theo quy định tại khoản 4 Điều 41 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, nhưng tại thời điểm nhận hồ sơ do Sở Tư pháp chuyển đến mà thời hiệu yêu cầu bồi thường đã hết thì vụ việc này vẫn được coi là trong thời thời hiệu yêu cầu bồi thường và cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại phải xem xét thụ lý hồ sơ do Sở Tư pháp chuyển đến.

Đào Thị Hải Yến

Cục Bồi thường nhà nước


[1] Công văn số 177/HS-TANDTC ngày 08/5/2006 của Tòa án nhân dân tối cao.

[2] Công văn số 501/UBTVQH ngày 12/5/2006 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: