Chủ nhật 10/05/2026 21:47
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thời hiệu yêu cầu bồi thường của người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự

Tuy nhiên, thực tiễn triển khai thi hành Nghị quyết số 388, đã gặp phải vướng mắc trong quá trình giải quyết vụ việc do không xác định được cụ thể ngày có hiệu lực của Nghị quyết số 388, dẫn tới tranh cãi về thời hiệu yêu cầu bồi thường. Bởi vì, theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 quy định về ngày có hiệu lực của nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội là kể từ ngày Chủ tịch nước ký lệnh công bố, trừ trường hợp văn bản đó quy định ngày có hiệu lực khác.

1. Quy định về thời hiệu yêu cầu bồi thường của người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự
Cụ thể hóa các quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995, ngày 03/5/1997, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 47-CP ngày 03/5/1997 về việc giải quyết bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra (sau đây viết tắt là Nghị định số 47). Tuy nhiên, vấn đề về thời hiệu yêu cầu bồi thường chưa được quy định tại Nghị định số 47. Phải tới Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11 ngày 17/3/2003 về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra (viết tắt là Nghị quyết số 388) mới quy định cụ thể về thời hiệu yêu cầu bồi thường.

Ngày 20/6/2017, tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước số 10/2017/QH14. Luật này có hiệu lực từ ngày 01/7/2018. Theo đó, hiện nay, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 và Nghị quyết số 388 đã hết hiệu lực. Tuy nhiên, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 và Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 đều có quy định về điều khoản chuyển tiếp, vì vậy, còn một số vụ việc thuộc trường hợp được bồi thường theo Nghị quyết số 388 và Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 đã yêu cầu bồi thường nhưng chưa được giải quyết vẫn còn có thể được áp dụng Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 để giải quyết. Thời hiệu yêu cầu bồi thường của người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự được quy định trong cả ba văn bản quy phạm pháp luật này, cụ thể như sau:

1.1. Quy định về thời hiệu yêu cầu bồi thường trong Nghị quyết số 388

Thời hiệu yêu cầu bồi thường được quy định tại Điều 19 Nghị quyết số 388, trong đó cả hai khoản 1 và 2 đều lấy mốc thời gian liên quan tới ngày có hiệu lực của Nghị quyết, cụ thể:

- Đối với những người thuộc các trường hợp được bồi thường theo quy định tại Điều 1 Nghị quyết số 388, trong thời gian từ ngày 01/7/1996 cho đến trước ngày Nghị quyết số 388 có hiệu lực mà có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định bị oan, thì thời hiệu yêu cầu cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại giải quyết việc bồi thường là hai năm, kể từ ngày Nghị quyết số 388 có hiệu lực;

- Đối với những người có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định bị oan từ ngày Nghị quyết số 388 có hiệu lực, thì thời hiệu yêu cầu cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại giải quyết việc bồi thường là hai năm, kể từ ngày bản án, quyết định trên có hiệu lực pháp luật.

Tuy nhiên, thực tiễn triển khai thi hành Nghị quyết số 388, đã gặp phải vướng mắc trong quá trình giải quyết vụ việc do không xác định được cụ thể ngày có hiệu lực của Nghị quyết số 388, dẫn tới tranh cãi về thời hiệu yêu cầu bồi thường. Bởi vì, theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 quy định về ngày có hiệu lực của nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội là kể từ ngày Chủ tịch nước ký lệnh công bố, trừ trường hợp văn bản đó quy định ngày có hiệu lực khác. Tuy nhiên, Nghị quyết số 388 không có quy định về ngày có hiệu lực và hiện cũng chưa tìm được văn bản nào xác định ngày Chủ tịch nước ký lệnh công bố Nghị quyết này.

Vì vậy, để thống nhất trong việc áp dụng pháp luật, ngày 08/5/2006, Tòa án nhân dân tối cao đã có văn bản gửi Ủy ban thường vụ Quốc hội xin ý kiến về việc xác định rõ thời điểm có hiệu của Nghị quyết số 388[1]. Theo đó, ngày 12/5/2006, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã có văn bản gửi Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về việc xác định ngày có hiệu lực của Nghị quyết số 388, cụ thể “trên cơ sở xem xét việc Văn phòng Quốc hội đã có tổ chức họp báo đưa tin về Nghị quyết này sau khi được Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua và vận dụng quy định tại Điều 10 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Ủy ban thường vụ Quốc hội xác định thời điểm có hiệu pháp luật của Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11 của Ủy ban thường vụ Quốc hội là sau 15 ngày, kể từ ngày Nghị quyết được Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua”[2]. Trên cơ sở đó, ngày 24/5/2006, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành văn bản xác định Nghị quyết số 388 có hiệu lực kể từ ngày 02/5/2003, đây là mốc thời gian quan trọng để xác định thời hiệu yêu cầu bồi thường của người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự theo Nghị quyết số 388.

Ngoài ra, liên quan tới việc xác định thời hiệu yêu cầu bồi thường đối với các trường hợp bị oan được áp dụng Nghị quyết số 388 để giải quyết bồi thường, tại Điều 19 Nghị quyết số 388 chỉ quy định thời hiệu đối với các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 18, cụ thể là trường hợp mà có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật từ ngày 01/7/1996 của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó bị oan. Còn đối với những trường hợp mà có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật trước ngày 01/7/1996 của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó bị oan mà đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại của người bị oan hoặc thân nhân của người bị oan đã được cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự tiếp nhận trước ngày Nghị quyết số 388 có hiệu lực nhưng chưa giải quyết hoặc đang giải quyết, thì áp dụng Nghị quyết số 388 để giải quyết mà không áp dụng thời hiệu quy định tại Điều 19 Nghị quyết số 388 nữa. Bởi có thể hiểu, người bị oan đó đã có đơn yêu cầu bồi thường tới cơ quan có thẩm quyền nhưng chưa được giải quyết.

1.2. Quy định về thời hiệu yêu cầu bồi thường trong Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009

Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 quy định về thời hiệu yêu cầu bồi thường nhà nước nói chung cho cả ba lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án tại Điều 5, trong đó bao gồm cả hoạt động tố tụng hình sự.

Trên cơ sở phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 quy định về thời hiệu yêu cầu bồi thường đối với người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự, theo đó, đối với trường hợp có văn bản của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người bị thiệt hại thuộc trường hợp được bồi thường thì thời hiệu yêu cầu bồi thường là 02 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự xác định người bị thiệt hại thuộc trường hợp được bồi thường quy định tại Điều 26 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009. Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 lấy mốc thời gian là ngày có hiệu lực pháp luật của bản án, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng để tính thời hiệu yêu cầu bồi thường.

1.3. Quy định về thời hiệu yêu cầu bồi thường trong Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017

So với quy định tại Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 đã sửa đổi một số quy định về thời hiệu yêu cầu bồi thường. Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cũng quy định chung về thời hiệu yêu cầu bồi thường cho các hoạt động mà không có quy định riêng cho lĩnh vực tố tụng hình sự. Trên cơ sở quy định chung này, thì thời hiệu yêu cầu bồi thường đối với người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự được quy định cụ thể như sau:

Thứ nhất, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 quy định tăng thời hiệu yêu cầu bồi thường từ 02 năm lên 03 năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu bồi thường (người bị thiệt hại; người thừa kế của người bị thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại chết; tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ của tổ chức bị thiệt hại đã chấm dứt tồn tại và người đại diện theo pháp luật của người bị thiệt hại thuộc trường hợp phải có người đại diện theo pháp luật theo quy định của Bộ luật Dân sự) nhận được văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường cho phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ngoài ra, so với Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 quy định lấy mốc thời gian để tính thời hiệu yêu cầu bồi thường là ngày người có quyền yêu cầu bồi thường nhận được văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường. Đây là một quy định tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho người bị thiệt hại, bởi vì nhiều trường hợp trên thực tế, đã có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường nhưng người bị thiệt hại chưa được nhận văn bản này để có cơ sở thực hiện quyền yêu cầu bồi thường của mình.

Thứ hai, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 quy định không áp dụng thời hiệu yêu cầu bồi thường đối với trường hợp yêu cầu phục hồi danh dự. Quy định này cũng là phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự về không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân không gắn với tài sản.

Thứ ba, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 bổ sung quy định về thời gian không tính vào thời hiệu yêu cầu bồi thường và nghĩa vụ chứng minh của người yêu cầu bồi thường đối với khoảng thời gian không tính vào thời hiệu. Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 quy định về các khoảng thời gian không tính vào thời hiệu yêu cầu bồi thường trên cơ sở luật hóa quy định tại một số thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 nhằm bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại. Đồng thời, quy định này cũng phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự về khoảng thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự.

Thời gian không tính vào thời hiệu yêu cầu bồi thường được xác định như sau:

- Khoảng thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan theo quy định của Bộ luật Dân sự làm cho người có quyền yêu cầu bồi thường (bao gồm: Người bị thiệt hại; người thừa kế của người bị thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại chết; tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ của tổ chức bị thiệt hại đã chấm dứt tồn tại và người đại diện theo pháp luật của người bị thiệt hại thuộc trường hợp phải có người đại diện theo pháp luật theo quy định của Bộ luật Dân sự) không thể thực hiện được quyền yêu cầu bồi thường;

- Khoảng thời gian mà người bị thiệt hại là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi chưa có người đại diện theo quy định của pháp luật hoặc người đại diện đã chết hoặc không thể tiếp tục là người đại diện cho tới khi có người đại diện mới.

2. Một vụ việc điển hình

Ngày 19/10/1981, cơ quan điều tra Công an tỉnh K đã ra quyết định khởi tố vụ án - khởi tố bị can và ra lệnh bắt tạm giam đối với ông B do bị tình nghi phạm tội giết người. Ngày 25/9/1984, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh K có Quyết định đình chỉ điều tra bị can số 336/KSĐT đối với ông B đồng thời trả tự do cho ông vì không đủ bằng chứng buộc tội. Năm 2000, ông B có đơn khiếu nại yêu cầu bồi thường về vật chất, về danh dự gửi đến Công an tỉnh K. Ngày 14/4/2000, cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh K có Công văn số 09/HC gửi ông B có nội dung không thể tiến hành xem xét các yêu cầu bồi thường thiệt hại của ông do: Sự việc xảy ra tại thời điểm năm 1981 khi đó chưa có Bộ luật Hình sự năm 1985, nên chưa có quy định “truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội”, đồng thời, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với loại tội này đã hết. Ngày 09/11/2009, ông B có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại, thì cán bộ Viện kiểm sát nhân dân tỉnh K trả lời đã hết thời hiệu nên không thực hiện được việc bồi thường thiệt hại. Năm 2016, ông B tiếp tục có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại gửi Viện kiểm sát nhân dân tỉnh K. Ngày 14/6/2016, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh K có công văn trả lời yêu cầu bồi thường của ông B, theo đó, tiếp tục cho rằng vụ việc của ông B đã hết thời hiệu yêu cầu bồi thường. Ông B đã tiến hành khởi kiện yêu cầu bồi thường đối với Viện kiểm sát nhân dân tỉnh K tại Tòa án nhân dân huyện N. Tuy nhiên, ngày 18/10/2016, Tòa án nhân dân huyện N có Thông báo số 460/TB-TA trả lại đơn khởi kiện của ông do chưa đủ điều kiện khởi kiện theo quy định tại Điều 22 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009. Đến nay, vụ việc của ông B chưa được thụ lý để giải quyết.

Phân tích một số vấn đề pháp lý liên quan tới vụ việc:

Ngày 25/9/1984, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh K có quyết định đình chỉ điều tra đối với ông B vì không đủ bằng chứng buộc tội ông về tội giết người. Theo đó, ông B thuộc trường hợp được bồi thường thiệt hại theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 388. Theo quy định tại khoản 2 Điều 18 Nghị quyết số 388 thì “các trường hợp quy định tại Điều 1 của Nghị quyết này mà có bản án, quyết định có hiệu lực trước ngày 01/7/1996 của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó bị oan mà đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại của người bị oan hoặc thân nhân của người bị oan đã được cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự tiếp nhận trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực nhưng chưa giải quyết hoặc đang giải quyết, thì áp dụng Nghị quyết này để giải quyết”.

Đối với vụ việc của ông B, đã có quyết định đình chỉ điều tra ngày 25/9/1984 xác định ông không thực hiện hành vi phạm tội. Năm 2000, ông đã có đơn khiếu nại yêu cầu bồi thường gửi Công an tỉnh K. Ngày 14/4/2000, cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh K đã có Công văn số 09/HC gửi ông B có nội dung không thể tiến hành xem xét các yêu cầu bồi thường thiệt hại của ông. Như vậy, đối chiếu với quy định nêu trên tại Nghị quyết số 388 thì đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại của ông B đã được cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự tiếp nhận trước ngày Nghị quyết số 388 có hiệu lực nhưng chưa được giải quyết. Và theo quy định tại Điều 19 Nghị quyết số 388 không quy định thời hiệu yêu cầu bồi thường đối với trường hợp này. Do đó, không có cơ sở để xác định vụ việc đã hết thời hiệu yêu cầu bồi thường.

3. Một số vấn đề cần lưu ý khi áp dụng pháp luật về thời hiệu yêu cầu bồi thường

3.1. Về phía người bị oan - người bị thiệt hại

- Khi người bị oan nhận được bản án, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền làm căn cứ thực hiện quyền yêu cầu bồi thường và khi có đủ những giấy tờ, tài liệu liên quan tới yêu cầu bồi thường của mình cần sớm thực hiện quyền này để không bị rơi vào trường hợp hết thời hiệu yêu cầu bồi thường.

- Quá trình tố tụng hình sự bao gồm rất nhiều giai đoạn tố tụng với sự tham gia của nhiều cơ quan tố tụng, trong trường hợp chưa xác định được ngay cơ quan giải quyết bồi thường, người yêu cầu bồi thường có thể nộp hồ sơ yêu cầu bồi thường đến Sở Tư pháp nơi người bị thiệt hại cư trú hoặc có trụ sở, để tránh trường trường hợp do xác định cơ quan giải quyết bồi thường quá lâu dẫn tới hết thời hiệu yêu cầu bồi thường. Theo đó, trong thời hạn 05 ngày làm việc, Sở Tư pháp có trách nhiệm xác định cơ quan giải quyết bồi thường, chuyển hồ sơ đến cơ quan giải quyết bồi thường và thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu bồi thường.

3.2. Về phía cơ quan nhà nước

- Đối với yêu cầu phục hồi danh dự thì Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 không quy định thời hiệu. Vì vậy, trường hợp đã hết thời hiệu yêu cầu bồi thường thiệt hại mà người bị thiệt hại vẫn có yêu cầu phục hồi danh dự thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải tiến hành phục hồi danh dự cho người đó theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

- Đối với những vụ việc người mà yêu cầu bồi thường đã nộp hồ sơ yêu cầu bồi thường đến Sở Tư pháp trong thời hiệu yêu cầu bồi thường để xác định cơ quan giải quyết bồi thường theo quy định tại khoản 4 Điều 41 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, nhưng tại thời điểm nhận hồ sơ do Sở Tư pháp chuyển đến mà thời hiệu yêu cầu bồi thường đã hết thì vụ việc này vẫn được coi là trong thời thời hiệu yêu cầu bồi thường và cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại phải xem xét thụ lý hồ sơ do Sở Tư pháp chuyển đến.

Đào Thị Hải Yến

Cục Bồi thường nhà nước


[1] Công văn số 177/HS-TANDTC ngày 08/5/2006 của Tòa án nhân dân tối cao.

[2] Công văn số 501/UBTVQH ngày 12/5/2006 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).

Theo dõi chúng tôi trên: