Thứ hai 21/09/2026 05:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực hiện pháp luật lao động tại các doanh nghiệp

Việc thực hiện pháp luật lao động của doanh nghiệp và của người lao động tại doanh nghiệp trong phạm vi bài viết có thể được hiểu là quan hệ giữa người sử dụng lao động (doanh nghiệp) và người lao động.

1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, vai trò và trách nhiệm của doanh nghiệp với tư cách là người sử dụng lao động với người lao động và trách nhiệm của người lao động với doanh nghiệp đang là một trong những vấn đề cấp thiết cần nghiên cứu. Điều này đã được minh chứng bằng những quy định của pháp luật lao động, việc thực hiện pháp luật lao động của các doanh nghiệp và người lao động nhằm cải thiện môi trường lao động, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ lao động.


Để thực hiện vấn đề nói trên thì việc tuân thủ pháp luật lao động của doanh nghiệp và người lao động luôn là yếu tố then chốt. Để đánh giá việc thực thi pháp luật lao động có hiệu quả cần phải quan tâm dưới nhiều góc độ khác nhau như nội quy lao động của doanh nghiệp, ý thức chấp hành kỷ luật lao động của người lao động, mối quan hệ tương tác giữa doanh nghiệp với người lao động.


Như vậy, việc thực hiện pháp luật lao động của doanh nghiệp và của người lao động tại doanh nghiệp trong phạm vi bài viết có thể được hiểu là quan hệ giữa người sử dụng lao động (doanh nghiệp) và người lao động.


2. Về nội quy lao động


Theo Từ điển tiếng Việt, nội quy có thể được hiểu là những quy tắc, quy định, những trật tự mà con người phải tuân thủ khi tham gia vào các hoạt động của một tập thể, trong quan hệ với cộng đồng; còn lao động được hiểu là hoạt động có mục đích của con người nhằm tạo ra các loại sản phẩm vật chất và tinh thần cho xã hội[1].


Theo Từ điển Luật học, nội quy lao động là văn bản quy định về thời gian, công nghệ, trật tự trong đơn vị lao động và sự điều hành công việc của người sử dụng lao động[2]. Nội quy lao động cũng được ghi nhận trong các giáo trình thuộc nhóm quản trị nhân lực và giáo trình luật lao động của một số trường đại học[3]. Chẳng hạn, nội quy lao động là văn bản do doanh nghiệp ban hành, trong đó, quy định những quy tắc xử sự chung và xử sự riêng biệt cho từng loại lao động hoặc khu vực sản xuất, quy định các hành vi vi phạm kỷ luật lao động và các biện pháp xử lý đối với những người có hành vi vi phạm kỷ luật lao động[4].


Nhìn chung, nội quy lao động là một trong những biện pháp quản lý lao động của doanh nghiệp. Vì vậy, nội quy lao động có thể được hiểu là văn bản do doanh nghiệp ban hành, quy định những quy tắc xử sự chung mà người lao động có trách nhiệm bắt buộc phải tuân thủ khi tham gia vào quan hệ lao động, quy định về các hành vi vi phạm kỷ luật lao động, cách thức hay biện pháp xử lý và trách nhiệm vật chất đối với người có hành vi vi phạm kỷ luật lao động. Nội quy lao động là cơ sở pháp lý quan trọng được thiết lập nhằm điều chỉnh quan hệ lao động giữa doanh nghiệp và người lao động với mục đích nhằm nâng cao năng suất lao động.


Doanh nghiệp là thực thể được hưởng lợi từ thành quả lao động của người lao động, doanh nghiệp có nghĩa vụ trả lương và thực hiện các quyền lợi khác theo hợp đồng lao động và các quy định khác của pháp luật có liên quan cho người lao động kể từ thời điểm hợp đồng lao động được ký kết giữa họ có hiệu lực pháp luật.


Theo tác giả, nguyên nhân chính mà các doanh nghiệp ban hành nội quy lao động có thể hiểu hoạt động quản lý lao động của doanh nghiệp là quyền mà Nhà nước dành cho các chủ sử dụng lao động, đây là một trong những quyền mà Nhà nước cho phép doanh nghiệp chủ động thực hiện nhằm bảo đảm duy trì nề nếp, trật tự lao động, thiết lập kỷ cương trong cơ quan/đơn vị, bảo đảm sự vận hành thông suốt và hiệu quả việc sử dụng lao động. Trong quá trình quản lý lao động, doanh nghiệp phải tuân thủ các quy định của pháp luật về tuyển dụng, bố trí, sắp xếp việc sử dụng lao động, bảo đảm môi trường làm việc an toàn cho người lao động. Quyền quản lý lao động của doanh nghiệp là khả năng xử sự mà pháp luật cho phép doanh nghiệp được thực hiện đối với người lao động tại doanh nghiệp của mình trên phương diện bình đẳng giữa các bên của quan hệ lao động.


Doanh nghiệp quản lý lao động thông qua nhiều hình thức khác nhau. Trong đó, việc thiết lập trật tự thông qua hệ thống các quy tắc xử sự trong doanh nghiệp là điều quan trọng và có tính nguyên tắc. Hệ thống các quy tắc này được thể hiện trong một hình thức định chế pháp lý nhất định, đó chính là văn bản nội quy lao động và thường được xem là “luật” trong nội bộ doanh nghiệp mà doanh nghiệp và người lao động phải tuân thủ nhằm giữ đúng kỷ cương, kỷ luật, quyền và nghĩa vụ, cũng như lợi ích của các bên trong quan hệ lao động. Do vậy, việc ban hành nội quy lao động làm công cụ điều chỉnh, quản lý lao động trong doanh nghiệp sử dụng lao động vừa là quyền và cũng là nghĩa vụ bắt buộc theo luật định của doanh nghiệp.


Kế thừa Bộ luật Lao động năm 2012, Bộ luật Lao động năm 2019 được ban hành với nhiều sửa đổi, bổ sung quan trọng, điều chỉnh quan hệ lao động và các quan hệ khác có liên quan với quan hệ lao động. Chẳng hạn, quy định những nguyên tắc, tiêu chuẩn lao động, quản lý lao động, tạo cơ sở pháp lý để xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định; đáp ứng các yêu cầu mới trong bối cảnh quốc tế hóa về quan hệ lao động (bao gồm cả quan hệ lao động có yếu tố nước ngoài[5]).


Nội dung của nội quy lao động và các vấn đề có liên quan đến nội quy được quy định tại các điều: Từ Điều 118 đến Điều 121 Bộ luật Lao động năm 2019[6], Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động năm 2019 về quản lý lao động, hợp đồng lao động, tiền lương, kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất. Theo đó, doanh nghiệp sử dụng từ 10 người lao động trở lên phải có (hoặc ban hành) nội quy lao động bằng văn bản. Nội quy lao động phải tuân thủ các yếu tố cụ thể, như: Thẩm quyền và phạm vi ban hành; nguyên tắc ban hành; nội dung cơ bản; thủ tục ban hành và đăng ký nội quy lao động. Nếu đem so sánh với nội quy lao động bất thành văn (đối với doanh nghiệp hay hộ kinh doanh[7] sử dụng dưới 10 người lao động) thì rõ ràng nội quy lao động được ban hành bằng văn bản sẽ là cơ sở pháp lý (là luật vật chất) minh chứng trong trường hợp xảy ra tranh chấp và xử lý kỷ luật lao động. Đối với nội quy lao động dưới dạng bất thành văn, có thể xem đây là trường hợp pháp luật để mở cho các doanh nghiệp có thể sử dụng các quy phạm có tính chất tùy nghi[8] - dispositive norm of law, dispositivus hoặc luật mềm - soft law[9].


Doanh nghiệp phải thông báo nội quy đến người lao động, những nội dung chính phải được niêm yết công khai, trường hợp không thông báo công khai hoặc không niêm yết công khai những nội dung chính của nội quy lao động ở những nơi cần thiết tại nơi làm việc thì doanh nghiệp sẽ bị xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền theo quy định của pháp luật hiện hành[10].


Như vậy, nội quy lao động có vai trò đặc biệt quan trọng đối với doanh nghiệp bởi nội quy lao động cụ thể hóa các quy định của pháp luật lao động, trực tiếp điều chỉnh quan hệ lao động giữa doanh nghiệp và người lao động tại doanh nghiệp, đáp ứng các yêu cầu cụ thể của từng doanh nghiệp theo lĩnh vực hoạt động và quy mô của từng doanh nghiệp. Điều đó được thể hiện qua các vấn đề sau:


Một là, việc quy định thời gian làm việc, thời giờ nghỉ ngơi trong nội quy lao động là cơ sở để bảo vệ quyền, lợi ích, sức khỏe của người lao động và trực tiếp xây dựng môi trường lao động lành mạnh, có trật tự, kỷ cương, nề nếp và văn minh;


Hai là, vấn đề bảo vệ tài sản, bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ và sở hữu trí tuệ của doanh nghiệp luôn được xem là nghĩa vụ bắt buộc của người lao động khi đã ký kết hợp đồng lao động, do vậy, việc doanh nghiệp cụ thể hóa và chi tiết hóa những nội dung trên trong nội quy lao động là tất yếu khách quan để người lao động biết và thực hiện[11];


Ba là, việc định chế các hình thức, hành vi vi phạm, hình thức xử lý kỷ luật lao động, cũng như trách nhiệm vật chất và phương thức bồi thường sao cho phù hợp, thích ứng với đặc điểm của từng doanh nghiệp mà không trái với các quy định của pháp luật liên quan, nhằm bảo đảm an toàn vệ sinh lao động[12] tại doanh nghiệp là không thể thiếu trong nội quy lao động, vì đây là căn cứ (hay cơ sở) pháp lý để xử lý kỷ luật người lao động khi họ vi phạm nội quy lao động;


Bốn là, hiện nay trên lãnh thổ Việt Nam có nhiều công ty/doanh nghiệp nước ngoài có sử dụng lao động nước ngoài hoặc có yếu tố nước ngoài. Vì vậy, trên bình diện quan hệ lao động, doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài cần xây dựng nội quy lao động trên cơ sở tôn trọng pháp luật Việt Nam (nước chủ nhà); không trái với các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia; nguyên tắc tôn trọng danh dự, nhân phẩm và phong tục tập quán của nhau. Tương tự như việc soạn thảo và ban hành, khi sửa đổi, bổ sung nội quy lao động, doanh nghiệp cũng phải tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện người lao động tại doanh nghiệp (nơi có tổ chức đại diện người lao động, công đoàn), nội dung sửa đổi, bổ sung phải được thông báo đến người lao động và được niêm yết ở những nơi cần thiết tại nơi làm việc.


3. Vấn đề ý thức của người lao động trong việc chấp hành nội quy lao động


Nội quy lao động chỉ là “văn bản giấy”, còn việc thực hiện nội quy lao động là do con người thông qua quá trình lao động. Vì ý thức lao động của người lao động đã tác động trực tiếp đến việc thực hiện pháp luật lao động của người lao động tại các doanh nghiệp thông qua nội quy. Với các lý do như vậy, việc nâng cao ý thức lao động của người lao động tại doanh nghiệp luôn có vai trò quan trọng, quyết định sự thành công và phát triển của doanh nghiệp hoặc là điều kiện then chốt để nâng cao hiệu suất lao động. Khi người lao động có ý thức tổ chức kỷ luật tốt, làm việc nghiêm túc, chịu khó học hỏi, rèn luyện tay nghề, thì người lao động sẽ nâng cao năng suất lao động, tạo uy tín và nâng cao thu nhập cho mình và gia tăng lợi ích cho doanh nghiệp. Vì vậy, việc nâng cao ý thức lao động cần có sự tương tác/hỗ trợ về nhiều mặt từ các bên tham gia quan hệ lao động.


Thực tiễn đã minh chứng rằng, ý thức tự giác tuân thủ kỷ luật lao động, tác phong công nghiệp, tính chuyên nghiệp trong lao động của người lao động vẫn còn những hạn chế nhất định, ví dụ như: Thực hiện chưa nghiêm túc thời gian làm việc và nghỉ ngơi đã thỏa thuận và ký kết trong hợp đồng lao động, việc vi phạm giờ giấc làm việc sẽ gây khó khăn cho vận hành sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.


Việc chấp hành đúng thời giờ làm việc tại doanh nghiệp cần được thể hiện cả về thời gian và chất lượng trong việc làm. Người lao động có ý thức chấp hành đúng nội quy lao động và các quy định khác của doanh nghiệp là một trong những điều kiện để xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa, ổn định, công nghiệp và bền vững tại doanh nghiệp.


Một trong các nguyên nhân tác động đến ý thức và kết quả lao động tại doanh nghiệp là phần lớn người lao động chưa quen làm việc trong môi trường công nghiệp (hay chưa được đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn tương ứng với môi trường việc làm), vì làm việc tại các doanh nghiệp (nhà máy, xí nghiệp) là làm việc có sự quản lý và điều hành của nhà quản lý và lại bị ràng buộc bởi các định chế pháp lý (như nội quy, quy chế, thời gian biểu… ) nên sẽ gặp khó khăn khi bước đầu tiếp cận với công việc. Do vậy, cần có sự động viên và giúp đỡ lẫn nhau giữa doanh nghiệp với người lao động và giữa những người lao động với nhau, nhằm tạo ra môi trường làm việc thân thiện và hợp tác để người lao động có thể hội nhập và gắn bó lâu dài với doanh nghiệp.
Để nâng cao ý thức lao động, cũng như thực hiện tốt nội quy lao động tại doanh nghiệp theo tác giả, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp sau:


Thứ nhất, cần phải thường xuyên nâng cao hiểu biết về pháp luật lao động cho người lao động, có như vậy, người lao động mới có ý thức chấp hành và có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và nhờ đó mới hạn chế được hiện tượng đình công[13], kiện tụng và các tranh cãi phát sinh giữa doanh nghiệp với người lao động.


Thứ hai, công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho người lao động cần có sự tham gia đồng bộ của các cơ quan chức năng từ trung ương tới cơ sở và được thực hiện bằng nhiều phương thức khác nhau. Ví dụ như, tổ chức các hội nghị, hội thảo với các chủ đề về lao động và việc làm, về quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động; đề xuất, đăng ký và thực hiện các đề tài, đề án nghiên cứu về lao động để kiến nghị/khuyến nghị sát với thực tiễn. Thông qua các hoạt động đó để hình thành thói quen làm việc theo pháp luật, tạo ra môi trường văn hóa ứng xử trong doanh nghiệp; giúp người lao động có thể tự mình giải quyết hài hòa các mối quan hệ lao động, hạn chế tối đa tình trạng xung đột với doanh nghiệp.


Thứ ba, việc ban hành nội quy lao động là đặc biệt quan trọng, vì nội quy do doanh nghiệp ban hành nhưng lại được xem là “luật” của các bên (doanh nghiệp và người lao động), tức là nội quy được ban hành cần có sự tham gia góp ý của người lao động. Tuy nhiên, nội quy chỉ là “luật vật chất” còn thực hiện, áp dụng và giải thích nội quy là do con người - thực thể sống, nên quan trọng hơn cả là việc đưa nội quy lao động vào thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp, vì đức hạnh và sự trung thực cá nhân/con người của các bên trong quan hệ lao động dường như còn hơn cả các định chế pháp lý trên giấy, trong “luật vật chất”.


Thứ tư, cần có sự phối hợp giữa các ngành, các cấp có liên quan nhằm đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với người lao động trong doanh nghiệp, trong đó, không thể không đề cập đến vai trò của công đoàn cơ sở (ví dụ như ký kết thỏa ước lao động tập thể, tham gia góp ý nội quy lao động, thang bảng lương; tuyên truyền, phổ biến và tập huấn về pháp luật lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động và bảo vệ quyền lợi của người lao động, theo chức năng và nhiệm vụ của công đoàn cơ sở).


Thứ năm, xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa, ổn định và bền vững giữa doanh nghiệp và người lao động trong doanh nghiệp; nắm bắt những khó khăn, vướng mắc, diễn biến tình hình thực hiện pháp luật lao động tại doanh nghiệp để tăng cường công tác quản lý; kịp thời kiến nghị, đề xuất với cơ quan có thẩm quyền kịp đưa ra các giải pháp để tháo gỡ; nêu gương và phê bình những đơn vị, tổ chức, cá nhân thực hiện tốt, không tốt chính sách, pháp luật lao động.


Thứ sáu, người lao động cần nỗ lực, rèn luyện tác phong làm việc chuyên nghiệp, tự học hỏi và luôn có tư tưởng cầu tiến để không ngừng nâng cao trình độ tay nghề, nâng cao thu nhập, tự khẳng định năng lực để thăng tiến và đáp ứng đòi hỏi của thị trường lao động trong xu thế phát triển của khoa học công nghệ hiện nay.


Ngoài các giải pháp nói trên, để nâng cao ý thức lao động, cũng như thực hiện tốt nội quy lao động tại doanh nghiệp, có thể kể thêm các yếu tố khác, chẳng hạn như: Việc tuyển dụng lao động cần tuyển dụng đúng người, đúng việc; trong tuyển dụng lao động, doanh nghiệp cần bạch hóa các thông tin cơ bản như khái lược về doanh nghiệp; nội quy lao động và các định chế khác của doanh nghiệp; yêu cầu công việc, mức lương, các hình thức thưởng, chế độ và chính sách đãi ngộ và xử phạt khi người lao động vi phạm kỷ luật, vi phạm hợp đồng lao động; chính sách hỗ trợ, trợ cấp, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp; cải thiện điều kiện làm việc, huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động, trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân, bồi dưỡng độc hại do môi trường lao động.


4. Kết luận và khuyến nghị


Để thực hiện tốt pháp luật lao động tại doanh nghiệp, cần có những công trình nghiên cứu xã hội học và tâm lý học về từng nhóm đối tượng lao động cụ thể, áp dụng những biện pháp tuyên truyền, phổ biến pháp luật lao động có tính thiết thực và phù hợp thực tiễn. Cần có sự lựa chọn phương thức tuyên truyền, phổ biến theo nguyên tắc ưu tiên trang bị kiến thức theo nhóm (kiến thức gì? cho nhóm đối tượng nào trước thì phổ biến trước) và theo thứ tự thời gian phù hợp, tránh việc phổ biến đồng loạt hoặc tuyên truyền liên tục quá nhiều kiến thức thì người lao động khó tiếp thu; hình thức phổ biển, tuyên truyền cần ngắn gọn, cách diễn đạt phải thật đơn giản và liều lượng kiến thức phải phù hợp.


Tóm lại, để thực hiện pháp luật lao động tại các doanh nhiệp, trước hết các bên của quan hệ lao động cần tuân thủ nội quy lao động, phải công nhận quyền lợi của nhau đã được pháp luật, nâng cao ý thức lao động cho người lao động, khuyến khích sự hợp tác tích cực giữa doanh nghiệp, người lao động và các bên có quyền lợi liên quan trong việc tạo dựng thương hiệu doanh nghiệp và môi trường làm việc. Để làm được điều này, theo tác giả, các bên của quan hệ lao động cần quan tâm đến những vấn đề sau:


Thứ nhất, quyền của các bên có quyền lợi liên quan được pháp luật quy định hoặc theo các thỏa thuận song phương phải được tôn trọng; khi lợi ích của các bên có quyền lợi liên quan được pháp luật bảo vệ bị xâm phạm, các bên đó phải có cơ hội được khiếu nại có hiệu quả khi quyền lợi của họ bị vi phạm.


Thứ hai, cần xây dựng cơ chế để nâng cao hiệu quả tham gia của người lao động và các bên có quyền lợi liên quan vào quá trình quản trị doanh nghiệp, họ phải được tiếp cận với thông tin phù hợp, đầy đủ và đáng tin cậy một cách kịp thời và thường xuyên.


Thứ ba, các bên có quyền lợi liên quan, bao gồm cả người lao động và tổ chức đại diện cho họ (công đoàn), phải được tự do truyền đạt những mối quan ngại của họ về những việc làm trái luật, trái nội quy hoặc không phù hợp đạo đức đến cơ quan có thẩm quyền và việc này không được phép ảnh hưởng tới quyền và lợi ích của họ./.

TS. Lê Văn Bính
Khoa Luật, Trường Đại học Công đoàn


[1] Trung tâm từ điển, Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, 2007.

[2] Viện khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, Từ điển luật học, Nxb. Từ điển Bách khoa và Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2006.

[3] Giáo trình Quản trị nhân lực, Luật Lao động Vit Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2012, 2016, 2018; Giáo trình Luật Lao động, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, 2014; Giáo trình Luật Lao động Vit Nam, Trường Đại học lao động xã hội, 2009.

[4] Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Lao động Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2013.

[5] Toàn cầu hóa là điều kiện để người nước ngoài (người có quốc tịch nước ngoài hoặc người không có quốc tịch của quốc gia nào) tham gia và thị trường lao động ở quốc gia khác và làm phát sinh quan hệ lao động có yếu tố nước ngoài ở quốc gia đó.

[6] Bộ luật Lao động năm 2019 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2021.

[7] Nghị định số 78/2015 ngày 14/9/2015 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp (Điều 66)

[8] Lê Văn Bính, (2008), Tiệm cận các quy phạm luật quốc tế. Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Kinh tế - Luật, Tập 24, số 2, tr. 93 - 101.

[9] Lê Văn Bính, (2013), “Luật mềm”: Khái niệm và các dấu hiệu. Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, 9 (305) tr. 57 - 65,84.

[10] Quyết định số 636/QĐ-LĐTBXH ngày 05/5/2019 của Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (về trình tự thủ tục đăng ký); Nghị định số 28/2020/NĐ-CP 01/3/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi pham hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (Điều 18).

[11] Khoản 4 Điều 27 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động.

[12] Luật An toàn vệ sinh lao động năm 2015; Nghị định số 44/2016/NĐ-CP ngày 15/5/2016 của Chính phủ ban hành về công tác huấn luyện an toàn vệ sinh lao động và Nghị định số 140/2018/NĐ-CP ngày 08/10/2018 của Chính phủ ban hành sửa đổi một số điều tại Nghị định số 44/2016/NĐ-CP để phù hợp với tình hình thực tế của Luật An toàn vệ sinh lao động.

[13] Trong pháp luật lao động Việt Nam trước đây có dùng thuật ngữ “bãi công” tại Sắc lệnh số 29-SL ngày 12.3.1947 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (điều thứ 174), còn pháp luật lao động hiện hành dùng thuật ngữ “đình công” (điều 209 Bộ luật Lao động năm 2012 và điều 198 Bộ luật Lao động năm 2019).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: