Thứ bảy 14/03/2026 03:25
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực hiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi trên địa bàn tỉnh Lai Châu

Trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi là truyền thống mang tính nhân văn sâu sắc, thể hiện đạo lý tốt đẹp của dân tộc ta. Với ý nghĩa đó, Nhà nước cần bảo đảm đầy đủ các chế độ chính sách để thực hiện, mà công cụ giúp Nhà nước chính là hệ thống pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi. Ở Việt Nam, hệ thống pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi được xây dựng khá muộn nhưng đến nay cơ bản cũng tương đối toàn diện.

Tuy nhiên, vấn đề ở đây là việc thực hiện pháp luật, bên cạnh mặt tích cực thì cũng đã và đang bộc lộ những vướng mắc, bất cập,. Trong đó, tỉnh Lai Châu là một trong những địa phương dù đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận nhưng cũng còn gặp không ít khó khăn, hạn chế trong việc thực hiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi, như kinh phí còn rất hạn hẹp, cơ chế phối hợp liên ngành còn hạn chế... Trong bài viết này, tác giả tập trung nêu và phân tích những khó khăn, vướng mắc về thực hiện pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi trên địa bàn tỉnh Lai Châu, đồng thời đưa ra các giải pháp khắc phục thực trạng đó. Những giải pháp có thể kể đến như: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật; xây dựng đội ngũ cán bộ trợ giúp xã hội chuyên nghiệp; đầu tư cơ sở vật chất; khuyến khích khu vực tư nhân đầu tư; thực hiện tốt công tác phối hợp liên ngành; tăng cường kiểm tra, giám sát…

Việt Nam là một trong những quốc gia Đông Nam Á đang có xu hướng “già hóa dân số”. Đây là hệ quả tất yếu của sự phát triển kinh tế - xã hội, khoa học - công nghệ và y học. Già hóa dân số mang lại nhiều thách thức, áp lực đối với hệ thống an sinh xã hội của quốc gia và các địa phương, khi mà số người trong độ tuổi lao động có xu hướng ngày càng giảm và số người cao tuổi - những người không còn đủ sức khỏe tham gia lao động, sản xuất lại có xu hướng ngày càng tăng lên. Người cao tuổi, lớp người đã có những cống hiến, đóng góp lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, có sức ảnh hưởng sâu sắc tới thế hệ trẻ tương lai. Tuy nhiên, người cao tuổi cũng là đối tượng yếu thế, có đặc điểm riêng biệt về tâm lý, sinh lý nên họ rất cần được bảo vệ trước những khó khăn và được chăm sóc, phụng dưỡng, tiếp tục phát huy vai trò.

Trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi là truyền thống mang tính nhân văn sâu sắc, thể hiện đạo lý tốt đẹp “uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây” của dân tộc ta. Vì vậy, Nhà nước cần phải đảm bảo đầy đủ các chế độ trợ giúp xã hội dành cho người cao tuổi, công cụ giúp Nhà nước thực hiện điều đó là hệ thống pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi. Pháp luật về trợ giúp xã hội cho người cao tuổi ra đời để đảm bảo sự quản lý của Nhà nước đối với việc thực hiện các hoạt động này theo quy định. Trong xã hội, cũng có nhiều hình thức giúp đỡ, trợ giúp xã hội cho người cao tuổi từ các cá nhân, tổ chức như cứu tế, cứu trợ, hoạt động từ thiện... tuy nhiên, hoạt động trợ giúp xã hội của Nhà nước có tính ổn định và lâu dài.

Hệ thống pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi của Việt Nam được xây dựng khá muộn, bên cạnh mặt tích cực thì cũng đã và đang bộc lộ những vướng mắc, bất cập. Trong đó, Lai Châu là tỉnh miền núi, biên giới, điều kiện kinh tế còn khó khăn, thu ngân sách trên địa bàn năm 2019 mới đạt 2.207 tỷ đồng, đứng thứ 59/63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nên việc bố trí kinh phí từ ngân sách địa phương để chủ động thực hiện các hoạt động chăm sóc và phát huy vai trò của người cao tuổi còn rất ít. Cũng do ngân sách còn thiếu, chưa có khả năng cân đối, bố trí riêng cho công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến chính sách về an sinh xã hội, trợ giúp xã hội, vì vậy, hình thức thông tin, tuyên truyền mới chỉ lồng ghép trong các hoạt động sinh hoạt tập thể của các thôn, bản nên hiệu quả chưa cao. Cơ chế phối hợp liên ngành trong lập kế hoạch, phân bổ ngân sách và chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện còn hạn chế, dẫn đến khó khăn trong việc bảo đảm và huy động nguồn lực. Không chỉ vậy, diễn biến kinh tế những năm gần đây có thời điểm làm cho lạm phát tăng cao, ảnh hưởng lớn đến đời sống của người dân, làm giảm đi ý nghĩa của các chính sách trợ giúp xã hội, nhất là đối với những nhóm đối tượng dễ bị tổn thương, trong đó có người cao tuổi, người cao tuổi đặc biệt khó khăn, người cao tuổi thuộc đồng bào dân tộc thiểu số nghèo. Có thể thấy, quá trình áp dụng quy định pháp luật về trợ giúp xã hội tại tỉnh Lai Châu đã đạt được kết quả rất tích cực nhưng vẫn còn những khiếm khuyết, hạn chế nhất định trong thực tiễn thực hiện. Đứng trước thực trạng vẫn chưa thể đảm bảo đầy đủ, bao phủ chính sách trợ giúp xã hội cho tất cả người cao tuổi trên địa bàn tỉnh, các nhà lãnh đạo, quản lý cần phải coi trọng rà soát, đánh giá tổng thể, toàn diện, xem xét nguyên nhân khách quan, chủ quan để có những định hướng khắc phục. Một trong những biện pháp quan trọng để có thể giải quyết được vấn đề này là tổ chức nghiên cứu kỹ về công tác trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi nói chung và thực tiễn thực hiện tại địa phương nói riêng. Tác giả xin đưa ra một số giải pháp như sau:

Thứ nhất, các sở, ngành, địa phương cần đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, giáo dục sâu, rộng đến cơ sở chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về người cao tuổi và trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi, nhất là những chính sách mới. Mục đích là nhằm nâng cao hơn nữa nhận thức của người dân, các cấp, các ngành, cộng đồng, toàn xã hội đối với người cao tuổi và trách nhiệm chăm sóc, phụng dưỡng, phát huy vai trò của người cao tuổi; giúp người cao tuổi nắm bắt kịp thời, đầy đủ chế độ, chính sách trợ giúp xã hội được hưởng theo quy định; nâng cao hơn nữa trách nhiệm của các cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc xét duyệt, thực hiện trợ giúp xã hội theo quy định cho người cao tuổi, nhất là người cao tuổi trên 80 tuổi.

Thứ hai, xây dựng đội ngũ cán bộ trợ giúp xã hội chuyên nghiệp; thường xuyên tổ chức đào tạo, tập huấn nghiệp vụ về trợ giúp xã hội đối với các cán bộ thực hiện bảo trợ xã hội tại cấp xã, cấp huyện, nhân viên làm công tác trợ giúp xã hội tại các cơ sở bảo trợ xã hội công lập, đội ngũ cộng tác viên công tác xã hội tại xã, phường, thị trấn. Qua đó, nâng cao trình độ và nghiệp vụ, nâng cao năng lực tham mưu, thực hiện nhiệm vụ chuyên môn trong hoạt động trợ giúp xã hội cho người cao tuổi của người làm công tác bảo trợ xã hội, hạn chế tối đa các sai sót về nghiệp vụ của cán bộ làm công tác bảo trợ xã hội, đảm bảo tối đa quyền lợi về trợ giúp xã hội cho người cao tuổi, nhất là người cao tuổi trên 80 tuổi theo quy định của pháp luật.

Thứ ba, quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, bố trí nhân sự hợp lý để thực hiện chuyên trách công tác quản lý, tổng hợp, theo dõi, lưu trữ số liệu đối với các hoạt động trợ giúp xã hội cho người cao tuổi trên địa bàn cấp huyện trở lên. Qua đó, đảm bảo công tác lưu trữ, công tác quản lý đối tượng người cao tuổi được trợ giúp xã hội nói chung, người cao tuổi trên 80 tuổi nói riêng, góp phần nâng cao chất lượng quản lý về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi. Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý chính sách, phê duyệt đối tượng, chi trả trợ giúp xã hội cho người cao tuổi; xây dựng cơ sở dữ liệu về trợ giúp xã hội của các địa phương thống nhất với cơ sở dữ liệu của tỉnh.

Thứ tư, ban hành chính sách, cơ chế vận động, khuyến khích khu vực tư nhân đầu tư các cơ sở chăm sóc người cao tuổi như: Phát triển các cơ sở chăm sóc người cao tuổi; cung cấp các loại hình dịch vụ đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, văn hóa, giải trí của người cao tuổi; cung cấp dịch vụ chăm sóc xã hội tập trung chủ yếu ở cộng đồng và dựa vào cộng đồng là chính; hỗ trợ miễn, giảm thuế; ưu tiên cho thuê đất, cấp đất; ban hành khung giá dịch vụ phù hợp. Chú trọng phát triển chuyên ngành lão khoa trong bệnh viện đa khoa tỉnh và các cơ sở y tế cấp huyện có điều kiện. Đẩy mạnh xã hội hóa, vận động tổ chức, cá nhân chung tay, góp sức để trợ giúp người cao tuổi có hoàn cảnh khó khăn thông qua xây dựng, phát triển Quỹ chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã.

Thứ năm, thực hiện tốt công tác phối hợp giữa các sở, ngành với Hội người cao tuổi, Ban đại diện người cao tuổi cấp tỉnh và phòng, ban chuyên môn với Ban đại diện người cao tuổi cấp huyện trong công tác chăm sóc, phụng dưỡng người cao tuổi và phát huy vai trò của người cao tuổi. Phát huy vai trò, trách nhiệm của các thành viên Ban công tác người cao tuổi, tăng cường phối hợp chặt chẽ trong triển khai thực hiện từng chính sách đối với người cao tuổi trên mỗi địa bàn. Thực hiện có hiệu quả, kịp thời, đúng đối tượng, không bỏ sót đối tượng chính sách trợ giúp xã hội tại cộng đồng; nghiên cứu tổ chức nuôi dưỡng người cao tuổi có thu phí đáp ứng nhu cầu xã hội, trước mắt thực hiện ở khu vực thành phố.

Thứ sáu, lồng ghép các chương trình trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi với thực hiện các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên mỗi địa bàn. Quan tâm khuyến khích, phát huy vai trò của người cao tuổi, xem họ là lực lượng lao động trong xã hội, góp phần phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo. Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh và nâng cao nhận thức, trách nhiệm của chính bản thân người cao tuổi.

Thứ bảy, các sở, ngành, địa phương tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện hệ thống chính sách trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi trên từng địa bàn. Chú trọng kiểm tra việc thực hiện pháp luật về thủ tục trợ giúp xã hội cho người cao tuổi, người cao tuổi trên 80 tuổi; chính sách trợ giúp thường xuyên, đột xuất; việc thẩm định hồ sơ, thẩm định thực tế; thẩm định việc điều chỉnh tăng giảm đối tượng thụ hưởng, chết, chuyển nơi cư trú, thoát nghèo...; kiểm tra các cơ sở trợ giúp xã hội; kiểm tra thường xuyên đối với đơn vị tổ chức dịch vụ chi trả trợ giúp xã hội hằng tháng cho người cao tuổi (bưu điện cấp huyện, thành phố). Chỉ rõ những nơi làm chưa tốt, tập trung khắc phục những hạn chế để đảm bảo quyền lợi về trợ giúp xã hội cho người cao tuổi; xử lý, nhắc nhở, chấn chỉnh thực hiện theo luật định. Tăng cường công tác kiểm tra việc chấp hành quy định, quy chuẩn, xử lý vi phạm đối với các công trình xây dựng công cộng không bảo đảm tiếp cận đối với người cao tuổi.

Thứ tám, thay thế công chức lao động - thương binh và xã hội ở cấp xã có trình độ chuyên môn không phù hợp vị trí việc làm, không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, trách nhiệm không cao; tuyển dụng, bố trí bổ sung công chức lao động - thương binh và xã hội ở một số huyện, xã còn thiếu.

Với mục tiêu không để ai bị bỏ lại phía sau, mong muốn trong thời gian tới, hệ thống chính sách pháp luật về người cao tuổi tiếp tục được điều chỉnh và hoàn thiện nhằm cụ thể hóa chủ trương của Đảng về chăm sóc và phát huy vai trò của người cao tuổi, tạo ra cơ hội bình đẳng và điều kiện thuận lợi để người cao tuổi tiếp tục được thụ hưởng các thành quả phát triển kinh tế - xã hội, từ đó, ngày càng khẳng định vị thế của họ trong đời sống xã hội, thúc đẩy xã hội hóa hoạt động trợ giúp người cao tuổi dựa vào cộng đồng một cách hiệu quả hơn.

Trần Quốc Khanh
Huyện ủy Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: