Thứ ba 10/02/2026 07:07
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực hiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi trên địa bàn tỉnh Lai Châu

Trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi là truyền thống mang tính nhân văn sâu sắc, thể hiện đạo lý tốt đẹp của dân tộc ta. Với ý nghĩa đó, Nhà nước cần bảo đảm đầy đủ các chế độ chính sách để thực hiện, mà công cụ giúp Nhà nước chính là hệ thống pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi. Ở Việt Nam, hệ thống pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi được xây dựng khá muộn nhưng đến nay cơ bản cũng tương đối toàn diện.

Tuy nhiên, vấn đề ở đây là việc thực hiện pháp luật, bên cạnh mặt tích cực thì cũng đã và đang bộc lộ những vướng mắc, bất cập,. Trong đó, tỉnh Lai Châu là một trong những địa phương dù đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận nhưng cũng còn gặp không ít khó khăn, hạn chế trong việc thực hiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi, như kinh phí còn rất hạn hẹp, cơ chế phối hợp liên ngành còn hạn chế... Trong bài viết này, tác giả tập trung nêu và phân tích những khó khăn, vướng mắc về thực hiện pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi trên địa bàn tỉnh Lai Châu, đồng thời đưa ra các giải pháp khắc phục thực trạng đó. Những giải pháp có thể kể đến như: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật; xây dựng đội ngũ cán bộ trợ giúp xã hội chuyên nghiệp; đầu tư cơ sở vật chất; khuyến khích khu vực tư nhân đầu tư; thực hiện tốt công tác phối hợp liên ngành; tăng cường kiểm tra, giám sát…

Việt Nam là một trong những quốc gia Đông Nam Á đang có xu hướng “già hóa dân số”. Đây là hệ quả tất yếu của sự phát triển kinh tế - xã hội, khoa học - công nghệ và y học. Già hóa dân số mang lại nhiều thách thức, áp lực đối với hệ thống an sinh xã hội của quốc gia và các địa phương, khi mà số người trong độ tuổi lao động có xu hướng ngày càng giảm và số người cao tuổi - những người không còn đủ sức khỏe tham gia lao động, sản xuất lại có xu hướng ngày càng tăng lên. Người cao tuổi, lớp người đã có những cống hiến, đóng góp lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, có sức ảnh hưởng sâu sắc tới thế hệ trẻ tương lai. Tuy nhiên, người cao tuổi cũng là đối tượng yếu thế, có đặc điểm riêng biệt về tâm lý, sinh lý nên họ rất cần được bảo vệ trước những khó khăn và được chăm sóc, phụng dưỡng, tiếp tục phát huy vai trò.

Trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi là truyền thống mang tính nhân văn sâu sắc, thể hiện đạo lý tốt đẹp “uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây” của dân tộc ta. Vì vậy, Nhà nước cần phải đảm bảo đầy đủ các chế độ trợ giúp xã hội dành cho người cao tuổi, công cụ giúp Nhà nước thực hiện điều đó là hệ thống pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi. Pháp luật về trợ giúp xã hội cho người cao tuổi ra đời để đảm bảo sự quản lý của Nhà nước đối với việc thực hiện các hoạt động này theo quy định. Trong xã hội, cũng có nhiều hình thức giúp đỡ, trợ giúp xã hội cho người cao tuổi từ các cá nhân, tổ chức như cứu tế, cứu trợ, hoạt động từ thiện... tuy nhiên, hoạt động trợ giúp xã hội của Nhà nước có tính ổn định và lâu dài.

Hệ thống pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi của Việt Nam được xây dựng khá muộn, bên cạnh mặt tích cực thì cũng đã và đang bộc lộ những vướng mắc, bất cập. Trong đó, Lai Châu là tỉnh miền núi, biên giới, điều kiện kinh tế còn khó khăn, thu ngân sách trên địa bàn năm 2019 mới đạt 2.207 tỷ đồng, đứng thứ 59/63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nên việc bố trí kinh phí từ ngân sách địa phương để chủ động thực hiện các hoạt động chăm sóc và phát huy vai trò của người cao tuổi còn rất ít. Cũng do ngân sách còn thiếu, chưa có khả năng cân đối, bố trí riêng cho công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến chính sách về an sinh xã hội, trợ giúp xã hội, vì vậy, hình thức thông tin, tuyên truyền mới chỉ lồng ghép trong các hoạt động sinh hoạt tập thể của các thôn, bản nên hiệu quả chưa cao. Cơ chế phối hợp liên ngành trong lập kế hoạch, phân bổ ngân sách và chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện còn hạn chế, dẫn đến khó khăn trong việc bảo đảm và huy động nguồn lực. Không chỉ vậy, diễn biến kinh tế những năm gần đây có thời điểm làm cho lạm phát tăng cao, ảnh hưởng lớn đến đời sống của người dân, làm giảm đi ý nghĩa của các chính sách trợ giúp xã hội, nhất là đối với những nhóm đối tượng dễ bị tổn thương, trong đó có người cao tuổi, người cao tuổi đặc biệt khó khăn, người cao tuổi thuộc đồng bào dân tộc thiểu số nghèo. Có thể thấy, quá trình áp dụng quy định pháp luật về trợ giúp xã hội tại tỉnh Lai Châu đã đạt được kết quả rất tích cực nhưng vẫn còn những khiếm khuyết, hạn chế nhất định trong thực tiễn thực hiện. Đứng trước thực trạng vẫn chưa thể đảm bảo đầy đủ, bao phủ chính sách trợ giúp xã hội cho tất cả người cao tuổi trên địa bàn tỉnh, các nhà lãnh đạo, quản lý cần phải coi trọng rà soát, đánh giá tổng thể, toàn diện, xem xét nguyên nhân khách quan, chủ quan để có những định hướng khắc phục. Một trong những biện pháp quan trọng để có thể giải quyết được vấn đề này là tổ chức nghiên cứu kỹ về công tác trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi nói chung và thực tiễn thực hiện tại địa phương nói riêng. Tác giả xin đưa ra một số giải pháp như sau:

Thứ nhất, các sở, ngành, địa phương cần đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, giáo dục sâu, rộng đến cơ sở chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về người cao tuổi và trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi, nhất là những chính sách mới. Mục đích là nhằm nâng cao hơn nữa nhận thức của người dân, các cấp, các ngành, cộng đồng, toàn xã hội đối với người cao tuổi và trách nhiệm chăm sóc, phụng dưỡng, phát huy vai trò của người cao tuổi; giúp người cao tuổi nắm bắt kịp thời, đầy đủ chế độ, chính sách trợ giúp xã hội được hưởng theo quy định; nâng cao hơn nữa trách nhiệm của các cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc xét duyệt, thực hiện trợ giúp xã hội theo quy định cho người cao tuổi, nhất là người cao tuổi trên 80 tuổi.

Thứ hai, xây dựng đội ngũ cán bộ trợ giúp xã hội chuyên nghiệp; thường xuyên tổ chức đào tạo, tập huấn nghiệp vụ về trợ giúp xã hội đối với các cán bộ thực hiện bảo trợ xã hội tại cấp xã, cấp huyện, nhân viên làm công tác trợ giúp xã hội tại các cơ sở bảo trợ xã hội công lập, đội ngũ cộng tác viên công tác xã hội tại xã, phường, thị trấn. Qua đó, nâng cao trình độ và nghiệp vụ, nâng cao năng lực tham mưu, thực hiện nhiệm vụ chuyên môn trong hoạt động trợ giúp xã hội cho người cao tuổi của người làm công tác bảo trợ xã hội, hạn chế tối đa các sai sót về nghiệp vụ của cán bộ làm công tác bảo trợ xã hội, đảm bảo tối đa quyền lợi về trợ giúp xã hội cho người cao tuổi, nhất là người cao tuổi trên 80 tuổi theo quy định của pháp luật.

Thứ ba, quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, bố trí nhân sự hợp lý để thực hiện chuyên trách công tác quản lý, tổng hợp, theo dõi, lưu trữ số liệu đối với các hoạt động trợ giúp xã hội cho người cao tuổi trên địa bàn cấp huyện trở lên. Qua đó, đảm bảo công tác lưu trữ, công tác quản lý đối tượng người cao tuổi được trợ giúp xã hội nói chung, người cao tuổi trên 80 tuổi nói riêng, góp phần nâng cao chất lượng quản lý về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi. Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý chính sách, phê duyệt đối tượng, chi trả trợ giúp xã hội cho người cao tuổi; xây dựng cơ sở dữ liệu về trợ giúp xã hội của các địa phương thống nhất với cơ sở dữ liệu của tỉnh.

Thứ tư, ban hành chính sách, cơ chế vận động, khuyến khích khu vực tư nhân đầu tư các cơ sở chăm sóc người cao tuổi như: Phát triển các cơ sở chăm sóc người cao tuổi; cung cấp các loại hình dịch vụ đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, văn hóa, giải trí của người cao tuổi; cung cấp dịch vụ chăm sóc xã hội tập trung chủ yếu ở cộng đồng và dựa vào cộng đồng là chính; hỗ trợ miễn, giảm thuế; ưu tiên cho thuê đất, cấp đất; ban hành khung giá dịch vụ phù hợp. Chú trọng phát triển chuyên ngành lão khoa trong bệnh viện đa khoa tỉnh và các cơ sở y tế cấp huyện có điều kiện. Đẩy mạnh xã hội hóa, vận động tổ chức, cá nhân chung tay, góp sức để trợ giúp người cao tuổi có hoàn cảnh khó khăn thông qua xây dựng, phát triển Quỹ chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã.

Thứ năm, thực hiện tốt công tác phối hợp giữa các sở, ngành với Hội người cao tuổi, Ban đại diện người cao tuổi cấp tỉnh và phòng, ban chuyên môn với Ban đại diện người cao tuổi cấp huyện trong công tác chăm sóc, phụng dưỡng người cao tuổi và phát huy vai trò của người cao tuổi. Phát huy vai trò, trách nhiệm của các thành viên Ban công tác người cao tuổi, tăng cường phối hợp chặt chẽ trong triển khai thực hiện từng chính sách đối với người cao tuổi trên mỗi địa bàn. Thực hiện có hiệu quả, kịp thời, đúng đối tượng, không bỏ sót đối tượng chính sách trợ giúp xã hội tại cộng đồng; nghiên cứu tổ chức nuôi dưỡng người cao tuổi có thu phí đáp ứng nhu cầu xã hội, trước mắt thực hiện ở khu vực thành phố.

Thứ sáu, lồng ghép các chương trình trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi với thực hiện các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên mỗi địa bàn. Quan tâm khuyến khích, phát huy vai trò của người cao tuổi, xem họ là lực lượng lao động trong xã hội, góp phần phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo. Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh và nâng cao nhận thức, trách nhiệm của chính bản thân người cao tuổi.

Thứ bảy, các sở, ngành, địa phương tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện hệ thống chính sách trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi trên từng địa bàn. Chú trọng kiểm tra việc thực hiện pháp luật về thủ tục trợ giúp xã hội cho người cao tuổi, người cao tuổi trên 80 tuổi; chính sách trợ giúp thường xuyên, đột xuất; việc thẩm định hồ sơ, thẩm định thực tế; thẩm định việc điều chỉnh tăng giảm đối tượng thụ hưởng, chết, chuyển nơi cư trú, thoát nghèo...; kiểm tra các cơ sở trợ giúp xã hội; kiểm tra thường xuyên đối với đơn vị tổ chức dịch vụ chi trả trợ giúp xã hội hằng tháng cho người cao tuổi (bưu điện cấp huyện, thành phố). Chỉ rõ những nơi làm chưa tốt, tập trung khắc phục những hạn chế để đảm bảo quyền lợi về trợ giúp xã hội cho người cao tuổi; xử lý, nhắc nhở, chấn chỉnh thực hiện theo luật định. Tăng cường công tác kiểm tra việc chấp hành quy định, quy chuẩn, xử lý vi phạm đối với các công trình xây dựng công cộng không bảo đảm tiếp cận đối với người cao tuổi.

Thứ tám, thay thế công chức lao động - thương binh và xã hội ở cấp xã có trình độ chuyên môn không phù hợp vị trí việc làm, không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, trách nhiệm không cao; tuyển dụng, bố trí bổ sung công chức lao động - thương binh và xã hội ở một số huyện, xã còn thiếu.

Với mục tiêu không để ai bị bỏ lại phía sau, mong muốn trong thời gian tới, hệ thống chính sách pháp luật về người cao tuổi tiếp tục được điều chỉnh và hoàn thiện nhằm cụ thể hóa chủ trương của Đảng về chăm sóc và phát huy vai trò của người cao tuổi, tạo ra cơ hội bình đẳng và điều kiện thuận lợi để người cao tuổi tiếp tục được thụ hưởng các thành quả phát triển kinh tế - xã hội, từ đó, ngày càng khẳng định vị thế của họ trong đời sống xã hội, thúc đẩy xã hội hóa hoạt động trợ giúp người cao tuổi dựa vào cộng đồng một cách hiệu quả hơn.

Trần Quốc Khanh
Huyện ủy Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:

Theo dõi chúng tôi trên: