Thứ hai 13/04/2026 08:50
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực thi pháp luật sở hữu trí tuệ trong kỷ nguyên Cách mạng công nghiệp 4.0

Nhiều quốc gia đang phát triển đã bị lỡ cơ hội tận dụng các thành tựu của các cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trước đó để phát triển đất nước. Vì thế, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư được cho là cơ hội vàng để các nước đang phát triển nắm bắt cơ hội và vươn lên. Để tận dụng cơ hội này, mỗi quốc gia cần xác định những tác động của nó đối với từng lĩnh vực. Trong bối cảnh đó, lĩnh vực sở hữu trí tuệ cũng không ngoại lệ, cần được đặt trọng tâm ưu tiên nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Trong bài viết “Thực thi pháp luật sở hữu trí tuệ trong kỷ nguyên Cách mạng công nghiệp 4.0” tác giả Bùi Thị Huyền và Nguyễn Hữu Quảng đã đi sâu phân tích những nội dung chính sau: (i) Tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0 đến vấn đề thực thi pháp luật sở hữu trí tuệ; (ii) Tình hình thực thi pháp luật sở hữu trí tuệ ở Việt Nam thời gian qua; (iii) Khuyến nghị nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật sở hữu trí tuệ trong thời gian tới.


1. Tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0 đến vấn đề thực thi pháp luật sở hữu trí tuệ

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) diễn ra mạnh mẽ trên quy mô toàn cầu, với tốc độ nhanh hơn những gì đã xảy ra từ trước đến nay và được dự báo làm thay đổi toàn bộ hệ thống sản xuất, quản lý và quản trị trên toàn thế giới. Cuộc cách mạng này làm cho thế giới chúng ta “phẳng hơn”, bé hơn và phụ thuộc lẫn nhau hơn. Mỗi quốc gia đều đang đứng trước những cơ hội và thách thức. Nhiều quốc gia đang phát triển đã bị lỡ cơ hội tận dụng các thành tựu của các cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trước đó để phát triển đất nước. Vì thế, CMCN 4.0 được cho là cơ hội vàng để các nước đang phát triển nắm bắt cơ hội và vươn lên. Để tận dụng cơ hội từ cuộc CMCN 4.0, mỗi quốc gia cần xác định những tác động của nó đối với từng lĩnh vực. Trong bối cảnh đó, lĩnh vực sở hữu trí tuệ cũng không ngoại lệ, cần được đặt trọng tâm ưu tiên nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Trong thời đại CMCN 4.0, sở hữu trí tuệ trở thành một trong những công cụ được sử dụng để nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp và cả nền kinh tế.

CMCN 4.0 với internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn (Big data), trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ phần mềm, các mô hình kinh doanh mới… đặt ra những vấn đề cấp bách về chuyên môn. Đó là các vấn đề liên quan tới xác lập quyền trong xử lý đơn liên ngành hay ứng dụng AI vào xử lý đơn, sử dụng Big data cho hoạt động của cơ quan sở hữu trí tuệ và bảo hộ AI cùng những kết quả tạo ra từ AI… Cuộc CMCN 4.0 tác động mạnh mẽ đến sự phát triển, thay đổi của hệ thống sở hữu trí tuệ. Theo thống kê, năm 2016 có hơn 5.000 đơn sáng chế liên quan đến IoT đã được nộp tại Cơ quan sáng chế châu Âu và tăng trưởng 54% chỉ trong 03 năm (từ 2014 - 2016). Điều này khẳng định, các đơn sáng chế thuộc các lĩnh vực công nghệ thông minh sẽ gia tăng nhanh chóng cùng với sự ra đời của các vật liệu mới và các sáng chế được tạo ra bằng trí tuệ nhân tạo. Đồng thời cũng đặt ra thách thức không nhỏ trong việc bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp, ví dụ như bảo hộ kiểu dáng công nghiệp cho các sản phẩm in bằng công nghệ 3D. Trên thực tế, việc đăng ký bằng sáng chế trong thế giới IoT rất có giá trị. Tuy nhiên, việc bảo hộ tài sản trí tuệ cũng khó khăn hơn và dễ dẫn tới nhiều vụ kiện xâm hại bằng sáng chế. Bởi thiết bị IoT của các nhà sản xuất khác nhau buộc phải có khả năng tương thích với nhau. Mà mỗi một hệ thống IoT, dù nhỏ cũng có thể phải tích hợp hàng nghìn sáng chế. Điều này dẫn tới việc rất nhiều bằng sáng chế bị chồng chéo nhau[1].

Bên cạnh đó, việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong môi trường số sẽ trở nên khó khăn hơn, vì vậy, các chính sách cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng để vừa không ngăn cản sự phát triển khoa học và công nghệ, vừa đảm bảo được an ninh, bảo mật và đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ được bảo hộ thỏa đáng. Dưới góc độ doanh nghiệp, cần bảo vệ và sử dụng có chiến lược quyền sở hữu trí tuệ trong bối cảnh CMCN 4.0 xây dựng chiến lược toàn cầu hóa về sở hữu trí tuệ và đạt được mức tăng trưởng mạnh nhờ sở hữu trí tuệ.

Giáo sư Mitsuyyoshi Hiratsuka đến từ Đại học Tokyo nêu vấn đề “Liệu chiến lược sở hữu trí tuệ có dịch chuyển từ độc quyền sang cạnh tranh?” và việc sở hữu trí tuệ có vai trò như thế nào trong quá trình mở rộng thị trường sẽ cho biết năng lực công nghệ của công ty đó. Vì vậy, Giáo sư Mitsuyyoshi Hiratsuka cho rằng, nói đến triển vọng của sở hữu trí tuệ trong thời đại CMCN 4.0 là xác định vai trò của nó như một công cụ nhằm đạt lợi thế cạnh tranh trên thị trường tự do và công bằng bằng cách nhìn vào mô hình kinh doanh của công ty đó[2].

Một trong những nhiệm vụ quan trọng đặt ra cho hệ thống sở hữu trí tuệ là phải được xây dựng và vận hành thực sự hiệu quả, đóng vai trò kiến tạo cho đổi mới sáng tạo, thúc đẩy thương mại hóa tài sản trí tuệ, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Vấn đề sở hữu trí tuệ đã vượt ra khỏi biên giới một quốc gia và bản thân mỗi quốc gia riêng rẽ không thể xử lý được[3].

Ở Việt Nam, Nghị quyết số 52/NQ-TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Nghị quyết số 52/NQ-TW) khẳng định, cuộc CMCN 4.0 mở ra nhiều cơ hội, đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức đối với mỗi quốc gia, tổ chức và cá nhân; đã và đang tác động ngày càng mạnh mẽ đến tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội đất nước. CMCN 4.0 yêu cầu phải đổi mới tư duy về quản lý kinh tế, quản lý xã hội, xây dựng, hoàn thiện thể chế cho phù hợp; cần có cách tiếp cận mở, sáng tạo, cho thí điểm đối với những vấn đề thực tiễn mới đặt ra, tạo mọi thuận lợi cho đổi mới sáng tạo.

2. Tình hình thực thi pháp luật sở hữu trí tuệ ở Việt Nam thời gian qua

Ở Việt Nam, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 - được sửa đổi, bổ sung năm 2009 và năm 2019 (say đây gọi là Luật Sở hữu trí tuệ) là văn bản pháp luật quan trọng, điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến loại tài sản đặc biệt - tài sản trí tuệ. Qua thực tiễn thi hành, Luật Sở hữu trí tuệ đã phát huy vai trò to lớn trong việc tạo hành lang pháp lý cho các tổ chức, cá nhân xác lập, khai thác và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh cho hoạt động sản xuất - kinh doanh, góp phần khuyến khích hoạt động sáng tạo, đẩy mạnh chuyển giao công nghệ, thu hút đầu tư nước ngoài, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Thời gian qua, nhận thức của các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp của Việt Nam đã tăng lên đáng kể. Bên cạnh đó, Luật Sở hữu trí tuệ còn là nền tảng đưa hệ thống bảo hộ sở hữu trí tuệ của Việt Nam đạt chuẩn mực theo Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).

Nhằm thúc đẩy hoạt động sở hữu trí tuệ, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1068/QĐ-TTg ngày 22/8/2019 phê duyệt Chiến lược sở hữu trí tuệ đến năm 2030; Quốc hội phê chuẩn Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) ngày 12/11/2018. Ngày 14/6/2019, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm và Luật Sở hữu trí tuệ để thi hành các nghĩa vụ theo Hiệp định CPTPP. Để tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ, hiện nay, Bộ Khoa học và Công nghệ đã đề nghị xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ.

Bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn thi hành Luật Sở hữu trí tuệ cho thấy còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập nhất định cần được sửa đổi, bổ sung nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, yêu cầu của cải cách thủ tục hành chính cũng như để bảo đảm thi hành các cam kết về sở hữu trí tuệ trong thời đại CMCN 4.0. Trên thực tế, tình hình quản lý, thực thi và tuân thủ quyền sở hữu trí tuệ vẫn còn yếu kém; tình trạng vi phạm các quyền sở hữu trí tuệ rất tràn lan, phổ biến, phức tạp và khó kiểm soát, chủ yếu tập trung nhiều vào các nội dung quyền tác giả trong sách báo, phim ảnh, bản quyền phần mềm máy tính… Vấn đề bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với phần mềm máy tính hiện nay vẫn đang là vấn đề còn nhiều ý kiến khác nhau và cần có những nghiên cứu cụ thể hơn về lợi ích cũng như thách thức trong việc đề ra chính sách cũng như tiêu chí bảo hộ cụ thể đối với phần mềm. Một vấn đề quan trọng khác là chính sách, pháp luật để đối xử với những “sáng chế thiết yếu đặc biệt” liên quan đến các tiêu chuẩn kỹ thuật mới phát sinh. Mặc dù có ý kiến cho rằng, khoản 3 Điều 7 Luật Sở hữu trí tuệ có thể áp dụng trong trường hợp này, tuy nhiên, trong thực tiễn, việc áp dụng quy định “buộc chủ thể quyền sở hữu trí tuệ phải cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng một hoặc một số quyền của mình với những điều kiện phù hợp” chưa được thực hiện tại Việt Nam, đặc biệt là đối với sáng chế. Cũng liên quan đến trí tuệ nhân tạo, nếu như một sản phẩm mới được tạo ra không phải do nghiên cứu của con người thì câu hỏi đặt ra là việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ sẽ được thực hiện như thế nào? Cụ thể là đối với việc xác định tác giả, xác định quyền nhân thân, thực hiện quy định về quyền tài sản của tác giả sáng chế... Ngoài ra, trong trường hợp trí tuệ nhân tạo được tạo ra bởi một công ty nhưng việc sử dụng trí tuệ nhân tạo đó để tạo ra sản phẩm có khả năng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ lại được thực hiện bởi một công ty khác thì việc xác định chủ sở hữu của đối tượng quyền sở hữu trí tuệ cũng chưa rõ ràng. Ngoài ra, một vấn đề liên quan đến dữ liệu khác cũng cần được xem xét là sự phát triển của công nghệ về hệ thống 3D. Theo đó, việc dùng các máy in 3D tạo ra các sản phẩm sẽ không còn phụ thuộc vào thiết bị chế tạo hay bản thân sản phẩm, mà chỉ cần các dữ liệu số hóa 3D của sản phẩm đó. Cùng với công nghệ được tiêu chuẩn hóa, chỉ cần có dữ liệu này là bất kỳ máy in 3D nào cũng có thể in ra/tạo ra sản phẩm và trong trường hợp sản phẩm đó được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, thì phạm vi quyền của chủ sở hữu sản phẩm đó có mở rộng đối với dữ liệu số hóa 3D của sản phẩm đó hay không, và việc xử lý hành vi xâm phạm quyền đối với các dữ liệu này trên internet sẽ được thực hiện như thế nào[4].

Hiện nay, chế tài của Luật Sở hữu trí tuệ mới dừng lại ở việc xử lý hành chính, mà thiếu hình sự. Trong khi đó, xử lý hành chính thì vẫn còn rườm rà. Để nâng cao hiệu quả thực thi, bản thân doanh nghiệp phải là đối tượng chủ động, vì đây là quyền lợi và nghĩa vụ của doanh nghiệp. Doanh nghiệp hãy tự tạo ra một rào chắn bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của doanh nghiệp mình, khi đó, doanh nghiệp có kêu cứu thì các cơ quan có liên quan mới có cơ sở để bảo vệ và hỗ trợ kịp thời.

Trong giai đoạn hội nhập hiện nay, sở hữu trí tuệ ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, giúp nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp vẫn chưa nhận thức được tầm quan trọng của sở hữu trí tuệ. Tình trạng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ chưa có chiều hướng thuyên giảm. Nhiều hàng hóa trong nước có uy tín bị làm giả, làm nhái. Điều này gây thiệt hại cho người tiêu dùng, xâm phạm quyền của các chủ sở hữu, làm cho doanh nghiệp sụt giảm về doanh số và lợi nhuận.

3. Khuyến nghị nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật sở hữu trí tuệ trong thời gian tới

Một trong những chủ trương, chính sách quan trọng để chủ động tham gia CMCN 4.0 được Bộ Chính trị đưa ra tại Nghị quyết số 52/NQ-TW là hoàn thiện thể chế tạo thuận lợi cho chủ động tham gia cuộc CMCN 4.0 và quá trình chuyển đổi số quốc gia, trong đó có hoàn thiện pháp luật, trước hết là pháp luật về doanh nghiệp, khởi nghiệp sáng tạo, sở hữu trí tuệ, thương mại, đầu tư, kinh doanh để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chuyển đổi số quốc gia và phát triển các sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh tế mới dựa trên nền tảng công nghệ số, internet và không gian mạng; đồng thời ngăn chặn kịp thời các tác động tiêu cực cả về kinh tế và xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng. Đối với lĩnh vực sở hữu trí tuệ, Nghị quyết số 52/NQ-TW yêu cầu hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ, bảo hộ và khai thác hiệu quả, hợp lý các tài sản trí tuệ do Việt Nam tạo ra; khuyến khích thương mại hóa và chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là đối với các sáng chế tại Việt Nam trên cơ sở tuân thủ pháp luật trong nước và bảo đảm lợi ích an ninh quốc gia.

Theo đó, một trong những nhiệm vụ quan trọng đặt ra cho hệ thống sở hữu trí tuệ là phải được xây dựng và vận hành thực sự hiệu quả, kiến tạo cho đổi mới sáng tạo, thúc đẩy thương mại hóa tài sản trí tuệ, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Để làm được như vậy, tác giả đưa ra một số khuyến nghị cụ thể như sau:

Thứ nhất, hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để giải quyết những vấn đề phát sinh từ cuộc CMCN 4.0. Cụ thể: Mở rộng phạm vi đối tượng được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và đổi mới cơ chế bảo hộ sở hữu trí tuệ cho các đối tượng sở hữu trí tuệ mới được tạo ra từ CMCN 4.0 (như bảo hộ sáng chế trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, internet vạn vật, in 3D, công nghệ nano, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới…); nâng cấp và hoàn thiện các quy định về bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan trong môi trường internet (quy định trách nhiệm nhà cung cấp dịch vụ internet; bổ sung các quy định về chứng cứ xác định hàng giả, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, yêu cầu bồi thường thiệt hại khi thực thi quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường internet...); quy định các chế tài đủ mạnh đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

Thứ hai, nâng cao năng lực chuyên môn về sở hữu trí tuệ và năng lực thực thi công vụ cho các cơ quan, lực lượng chức năng, đặc biệt là năng lực ứng dụng công nghệ mới vào quản lý, xử lý đơn đăng ký các đối tượng mới; áp dụng chính các công nghệ mới này trong việc vận hành cơ quan sở hữu trí tuệ, đặc biệt là các công nghệ blockchain, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo[5]. Việc bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ thực thi quyền sở hữu trí tuệ là yêu cầu bức thiết, do đó, cần nghiên cứu, xây dựng các chương trình đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về sở hữu trí tuệ cho các cơ quan, lực lượng thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Hỗ trợ, đáp ứng yêu cầu tăng cường năng lực cho các cơ quan thực thi về con người và cơ sở vật chất thông qua các chương trình xây dựng, huấn luyện cho các đầu mối về thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại các cơ quan thực thi ở trung ương và địa phương.

Thứ ba, bảo đảm cơ chế bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ hiệu quả, hợp lý và khả thi thông qua việc đẩy mạnh biện pháp dân sự, thu hẹp phạm vi áp dụng biện pháp hành chính, hoàn thiện quy định về thực thi quyền trong môi trường kỹ thuật số, xử lý tên miền vi phạm pháp luật sở hữu trí tuệ, tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan để đảm bảo thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong việc cấp, thu hồi và sử dụng tên miền; tăng cường xử lý những hành vi mới chỉ là tiền đề xâm phạm quyền; nâng cao hiệu quả thực thi quyền tác giả, đặc biệt là đối với phần mềm máy tính và dữ liệu đặc biệt là trên môi trường internet…

Thứ tư, đối với doanh nghiệp, cần có hướng dẫn về quản lý và thực thi quyền sở hữu trí tuệ, nâng cao nhận thức về sở hữu trí tuệ.

Thứ năm, thúc đẩy hợp tác về bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ ở quy mô khu vực và toàn cầu, tiếp tục tận dụng một cách có hiệu quả kinh nghiệm và sự hỗ trợ từ các tổ chức quốc tế trong công tác thực thi quyền sở hữu trí tuệ cũng như trong công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực hiện tại và tương lai cho các cơ quan, lực lượng thực thi. Bởi vì, nhiều vấn đề sở hữu trí tuệ đã vượt ra khỏi biên giới một quốc gia và bản thân mỗi quốc gia riêng rẽ không thể xử lý được.

ThS. Bùi Thị Huyền

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật

Nguyễn Hữu Quảng

Bộ Tư pháp



[1]. Theo tài liệu Hội thảo “Bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong bối cảnh CMCN 4.0” do Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) phối hợp với Cơ quan Sáng chế Nhật Bản (JPO) tổ chức ngày 08/10/2019, tại Hà Nội.

[2]. Nguồn http://sromost.gov.vn/vi/tin-tuc-su-kien/1035-bao-ho-va-thuc-thi-quyen-so-huu-tri-tue-trong-boi-canh-moi, ngày 11/10/2019.

[3]. Nguồn http://www.hanoimoi.com.vn/tin-tuc/Khoa-hoc/948484/so-huu-tri-tue-trong-cach-mang-cong-nghiep-40-dap-ung-yeu-cau-hoi-nhap-quoc-te, ngày 22/10/2019.

[4]. Tài liệu Hội thảo khoa học cấp quốc gia “Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những vấn đề pháp lý đặt ra cho việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam” do Bộ Tư pháp tổ chức ngày 24/6/2019, tại Hà Nội.

[5]. Tại Hội thảo “Bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong bối cảnh CMCN 4.0” do Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) phối hợp với Cơ quan Sáng chế Nhật Bản (JPO) tổ chức ngày 08/10/2019, tại Hà Nội.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.

Theo dõi chúng tôi trên: