Thứ sáu 23/01/2026 11:29
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực tiễn áp dụng các báo cáo đã được thông qua của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm tại WTO và kinh nghiệm đối với Việt Nam

Báo cáo của Ban hội thẩm (Panel) và Cơ quan phúc thẩm (AB) là kết quả của hai giai đoạn giải quyết tranh chấp tại Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm theo cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO.

1. Khái quát về báo cáo của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm trong khuôn khổ WTO
Báo cáo của Ban hội thẩm (Panel) và Cơ quan phúc thẩm (AB) là kết quả của hai giai đoạn giải quyết tranh chấp tại Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm theo cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO.

Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO chủ yếu được quy định trong Hiệp định về các quy tắc và thủ tục giải quyết tranh chấp (DSU). Cơ quan giải quyết tranh chấp (DSB) không phải là một cơ quan giải quyết tranh chấp độc lập mà chính là Đại hội đồng - một cơ quan thường trực của WTO (khoản 3 Điều IV Hiệp định thành lập WTO).

Trong trình tự, thủ tục tại DSB, sau khi tham vấn không đạt được kết quả, tranh chấp sẽ lần lượt được giải quyết tại Ban hội thẩm và tại Cơ quan phúc thẩm. Kết quả làm việc tại Ban hội thẩm là một báo cáo, được gửi cho các bên tranh chấp và tất cả thành viên WTO. Nếu báo cáo này không bị kháng cáo và DSB thông qua theo nguyên tắc đồng thuận phủ quyết (khoản 4 Điều 16 DSU), thì báo cáo này trở thành “khuyến nghị và phán quyết” của DSB.

Nếu báo cáo của Ban hội thẩm bị kháng cáo, một Cơ quan phúc thẩm gồm 03 thành viên sẽ được thành lập để xem xét kháng cáo. Kết quả làm việc của Cơ quan phúc thẩm cũng là một báo cáo. Báo cáo này cũng sẽ được xem xét để DSB thông qua. Sau khi DSB thông qua, báo cáo của Cơ quan phúc thẩm trở thành “khuyến nghị và phán quyết” của DSB.

Tính đến tháng 8/2019, đã có 586 tranh chấp được đưa ra giải quyết theo thủ tục tại DSB[1]. Với số lượng tranh chấp này, các báo của Ban hội thẩm và tại Cơ quan phúc thẩm được DSB thông qua trở thành một nguồn quan trọng trong hệ thống nguồn của luật thương mại quốc tế[2]. Tuy nhiên, các báo cáo của tại Ban hội thẩm và tại Cơ quan phúc thẩm được DSB thông qua có giá trị pháp lý đối với các tranh chấp xảy ra sau như thế nào, vẫn là một vấn đề còn nhiều tranh luận.

2. Những tranh luận về giá trị pháp lý của các báo cáo của Ban hội thẩm và tại Cơ quan phúc thẩm được DSB thông qua

Giá trị pháp lý của các báo cáo của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm được DSB thông qua chỉ được quy định trực tiếp tại khoản 2 Điều 3 DSU. Theo đó, các báo cáo của Ban hội thẩm hoặc Cơ quan phúc thẩm được DSB thông qua sẽ có giá trị pháp lý ràng buộc các bên trong tranh chấp cụ thể và không làm tăng thêm hoặc giảm bớt quyền và nghĩa vụ quy định trong các hiệp định liên quan. Ngoài ra, không có quy định nào khác của DSU quy định về việc liệu các báo cáo này có hay không có giá trị pháp lý ràng buộc các Ban hội thẩm, Cơ quan phúc thẩm trong các vụ việc sau.

Theo đó, các phán quyết trước của DSB không có giá trị ràng buộc với Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm trong các tranh chấp tiếp theo. Điều này có nghĩa là một Ban hội thẩm cũng không bắt buộc phải tuân theo các báo cáo của Cơ quan phúc thẩm trước đó, ngay cả khi Cơ quan phúc thẩm đã phát triển một cách giải thích nhất định về chính xác các điều khoản hiện đang có vấn đề trước Ban hội thẩm. Cơ quan phúc thẩm cũng không bắt buộc phải duy trì các diễn giải pháp lý mà nó đã phát triển trong các tranh chấp trước đó[3].

Ngược lại, thực tế giải quyết tranh chấp tại WTO cho thấy, nếu lập luận được đưa ra trong báo cáo trước đó có thể hỗ trợ cho việc giải thích quy định của WTO, có sức thuyết phục đối với Ban hội thẩm hoặc Cơ quan phúc thẩm trong tranh chấp xảy ra sau đó, thì rất có khả năng Ban hội thẩm hoặc Cơ quan phúc thẩm sẽ lặp lại và thực hiện theo báo cáo trước. Điều này cũng phù hợp với mục tiêu chính của cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO là tạo ra sự an toàn và khả năng dự đoán trước cho hệ thống thương mại đa phương (khoản 2 Điều 3 của DSU). Báo cáo của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm tạo ra những kỳ vọng hợp pháp cho các thành viên WTO, và do đó, nên được tính đến khi chúng có liên quan đến bất kỳ tranh chấp nào[4].

3. Áp dụng các báo cáo của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm đã được thông qua tại WTO trong một số tranh chấp cụ thể

Về hình thức, trong các báo cáo của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm thường xuyên có phần trích dẫn trược tiếp hoặc gián tiếp nội dung cụ thể của các báo cáo đã được thông qua trước đó. Thậm chí, trong nhiều báo cáo còn có bảng thống kê các vụ tranh chấp được viện dẫn.

Về nội dung, thực tiễn giải quyết tranh chấp tại WTO cho thấy, báo cáo đã được thông qua của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm được áp dụng theo hai cách thức: (i) Một là, báo cáo trước đó được viện dẫn nhằm bổ trợ cho lập luận của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm; (ii) Hai là, báo cáo trước đó được viện dẫn để Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm áp dụng theo.

3.1. Báo cáo trước đó được viện dẫn nhằm bổ trợ cho lập luận của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm

Với cách thức áp dụng này, báo cáo của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm trước đó được viện dẫn để phân tích, giải thích các quy định cụ thể trong các hiệp định của WTO, qua đó tăng tính thuyết phục cho lập luận của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm.

- Vụ US - Clove Cigarettes[5]

Đối với vụ việc này, báo cáo của Cơ quan phúc thẩm vụ EC - Asbestos[6] được viện dẫn để xác định “sản phẩm tương tự” theo Điều 2.1 Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại (Hiệp định TBT) của vụ US - Clove Cigarettes.

Trong vụ US - Clove Cigarettes, Indonesia đã khiếu kiện Hoa Kỳ về Mục 907 (a) (1) (A) của Đạo luật Thực phẩm, Dược phẩm và Mỹ phẩm Liên bang (FF FFAA) không phù hợp với Điều III: 4 của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại năm 1994 (GATT 1994), Điều 2 của Hiệp định TBT và các điều khoản khác nhau của Hiệp định về các biện pháp kiểm dịch động - thực vật (Hiệp định SPS). Do Mục 907 (a) (1) (A) cấm sản xuất và bán thuốc lá có chứa đinh hương, cũng như hầu hết các loại thuốc lá có hương vị khác tại Hoa Kỳ. Tuy nhiên, biện pháp cấm này không áp dụng với thuốc lá có hương vị bạc hà.

Khi xác định lệnh cấm của Hoa Kỳ vi phạm nghĩa vụ đối xử quốc gia tại Điều 2.1 của Hiệp định TBT, Ban hội thẩm đã xem xét thuốc lá có hương vị đinh hương có là sản phẩm tương tự với thuốc lá có hương vị bạc hà hay không? Hiệp định TBT không có định nghĩa “sản phẩm tương tự”, nên Ban hội thẩm đã dựa trên các tiêu chí truyền thống của WTO để xác định gồm: Đặc điểm vật lý, mục đích sử dụng cuối cùng, thị hiếu và thói quen của người tiêu dùng và phân loại thuế quan[7]. Ban hội thẩm cho rằng, thuốc là hương vị đinh hương với thuốc lá hương vị bạc hà là sản phẩm tương tự và chúng có cùng mục đích sử dụng là để hút.

Cơ quan phúc thẩm mặc dù cũng đồng ý thuốc là hương vị đinh hương với thuốc lá hương vị bạc hà là sản phẩm tương tự, nhưng không đồng ý với quan điểm hai loại thuốc lá này cùng mục đích sử dụng là để hút. Theo Cơ quan phúc thẩm, mục đích sử dụng cuối cùng được dùng để mô tả các chức năng của sản phẩm. Để khẳng định cho quan điểm của mình, tại đoạn 125 của báo cáo, họ trích dẫn lại báo cáo của Cơ quan phúc thẩm vụ EC - Asbestos cũng có quan điểm tương tự. Cơ quan phúc thẩm vụ EC - Asbestos đã mô tả mục đích sử dụng cuối cùng là “mức độ mà các sản phẩm có khả năng thực hiện là như nhau, hoặc chúng tương tự với nhau về chức năng".

Do đó, "để hút" không thể mô tả chính xác các chức năng của thuốc lá, bởi xì - gà (cigar), hay thuốc lá rời (loose tobacco) cũng có chức năng này. Cuối cùng, Cơ quan phúc thẩm cho rằng, mục đích sử dụng cuối cùng của hai loại thuốc lá trên là thỏa mãn cơn nghiện nicotine và tạo ra một trải nghiệm thú vị liên quan đến hương vị của thuốc lá và hương vị thơm của khói.[8]

- Vụ Indonesia - Autos[9]

Đối với vụ Indonesia - Autos, báo cáo của Cơ quan phúc thẩm vụ Canada - Periodicals[10] và EC - Bananas III[11] được viện dẫn để khẳng định Chương trình xe ô tô quốc gia của Indonesia bị điều chỉnh đồng thời bởi Hiệp định trợ cấp và các biện pháp đối kháng (Hiệp định SCM) và Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (Hiệp định TRIMs) trong vụ Indonesia - Autos.

Trong vụ Indonesia - Autos, Indonesia bị khởi kiện bởi Cộng đồng Châu Âu (DS54), Nhật Bản (DS55 và DS64) và Hoa Kỳ (DS59). Các nguyên đơn đều khiếu kiện về Chương trình xe ô tô quốc gia Indonesia (Indonesia’s National Car Programme) vi phạm quy định của Điều I và III của GATT 1994, Điều 2 của Hiệp định TRIMs và Điều 3 của Hiệp định SCM. Nội dung chính của Chương trình xe ô tô quốc gia là yêu cầu sử dụng “hàm lượng nội địa” đối với sản xuất ô tô trong nước là điều kiện để doanh nghiệp được hưởng ưu đãi về thuế quan và thuế tiêu thụ đặc biệt.

Indonesia đưa ra lập luận rằng Hiệp định TRIMs không thể được áp dụng trong tranh chấp này. Chương trình xe ô tô của Indonesia được Chính phủ trợ cấp, và được điều chỉnh bởi Hiệp định SCM, vì vậy, Chương trình này không thể được xem xét là một biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại theo quy định của Hiệp định TRIMs. Do đó, Ban hội thẩm đã xem xét liệu chính sách về ô tô quốc gia của Indonesia có đồng thời bị điều chỉnh bởi cả hai Hiệp định SCM và Hiệp định TRIMs hay không?

Để giải thích vấn đề trên, Ban hội thẩm cho rằng[12]: (i) Hiệp định SCM và Hiệp định TRIMS có đối tượng điều chỉnh khác nhau; (ii) hai hiệp định đều nằm trong Phụ lục 1A của Hiệp định thành lập WTO, nhưng Hiệp định thành lập WTO không có quy định về mối quan hệ giữa Hiệp định SCM và Hiệp định TRIMs; (iii) Vì vậy, cần xem xét hai Hiệp định này có tồn tại xung đột, hay tạo ra sự loại trừ nghĩa vụ của nhau khi điều chỉnh cùng một vấn đề hay không; (iv) Về bản chất của nghĩa vụ, mặc dù cùng liên quan đến “yêu cầu về hàm lượng nội địa”, nhưng Hiệp định SCM và Hiệp định TRIMs điều chỉnh các nghĩa vụ và đối tượng khác nhau. Đối tượng Hiệp định SCM điều chỉnh là “trợ cấp” đối với hàng hóa nội địa, chứ không phải là các yêu cầu sử dụng hàng hóa nội địa. Đối tượng Hiệp định TRIMs điều chỉnh là các biện pháp đầu tư, tồn tại dưới hình thức yêu cầu hàm lượng nội địa, chứ không phải là việc mang lại lợi ích, như các khoản trợ cấp.

Do đó, giữa Hiệp định SCM và Hiệp định TRIMs không có sự xung đột, không tạo ra sự loại trừ nghĩa vụ của nhau khi điều chỉnh cùng một vấn đề. Cả hai Hiệp định sẽ cùng được áp dụng để giải quyết tranh chấp giữa Indonesia và các nguyên đơn. Để ủng hộ cho quan điểm này, Ban hội thẩm đã nhắc lại quy tắc xác định mối quan hệ giữa hai hiệp định có giá trị pháp lý ngang nhau (WTO agreements at the same level) của WTO được phát triển từ báo cáo của Cơ quan phúc thẩm trong hai vụ tranh chấp Canada - Periodicals và EC - Bananas III, các hiệp định khác nhau sẽ điều chỉnh những khía cạnh khác nhau của cùng một đối tượng. Nên tranh chấp giữa Indonesia với các nguyên đơn được xem xét theo hai khía cạnh khác nhau cơ bản: (i) Liên quan đến sự tồn tại của yêu cầu hàm lượng nội địa vi phạm quy định của Hiệp định TRIMs; (ii) Liên quan tới sự tồn tại của trợ cấp, gây thiệt hại cho thành viên khác theo quy định của Hiệp định SCM.

3.2. Báo cáo trước đó được viện dẫn để Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm áp dụng theo

Cách thức áp dụng này có thể thấy trong một số vụ tranh chấp liên quan đến trình tự áp dụng ngoại lệ chung theo quy định tại Điều XX của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT).

Trong vụ US - Shrimp[13], Ấn Độ, Malaysia, Pakistan và Thái Lan đã khiếu kiện Hoa Kỳ áp dụng lệnh cấm nhập khẩu tôm và các sản phẩm tôm từ những nước này theo Mục 609 của Luật Công cộng Hoa Kỳ 101-162 là vi phạm các Điều I, XI và XIII của GATT 1994. Nhưng, Hoa Kỳ cho rằng các biện pháp liên quan được đưa ra theo Mục 609, mặc dù không phù hợp với Điều XI:1 của GATT 1994, nhưng được phép thực hiện theo Điều XX (b) và (g) của GATT 1994.

Trong vụ kiện này, Ban hội thẩm đã xem xét việc liệu biện pháp do Hoa Kỳ áp dụng có đáp ứng các điều kiện nêu trong Đoạn mở đầu của Điều XX hay không? Nếu có, Ban hội thẩm sẽ tiến hành xem xét liệu biện pháp đó có được điều chỉnh bởi Điều XX (b) hoặc (g) hay không.

Nhưng Cơ quan phúc thẩm đã không đồng ý các bước áp dụng Điều XX của GATT của Ban hội thẩm. Tại đoạn 118, 119 khẳng định lại kết luận tại trang 22 của Cơ quan phúc thẩm trong vụ United States - Gasoline[14] thông qua trước đó về cách thức viện dẫn Điều XX, đó là phép phân tích gồm hai bước:

Bước 1: Phải xác định xem, liệu biện pháp đang xem xét có thuộc phạm vi của một trong các khoản của Điều XX về ngoại lệ chung hay không?

Bước 2: Nếu biện pháp đang xem xét đúng là đã thuộc một trong các khoản từ (a) đến (j) của Điều này, khi đó cần phải xem xét liệu biện pháp này có thoả mãn yêu cầu tại đoạn mở đầu của Điều này hay không?

Tương tự, trong vụ Brazil - Retreaded Tyres, Cộng đồng Châu Âu (EC) đã yêu cầu tham vấn với Brazil về việc áp dụng các biện pháp ảnh hưởng xấu đến việc xuất khẩu lốp xe tái chế từ EC sang thị trường Brazil. EC cho rằng các biện pháp nêu trên không phù hợp với nghĩa vụ của Brazil, theo các Điều I: 1, III: 4, XI: 1 và XIII: 1 của GATT 1994. Nhưng Brazil cho rằng biện pháp của họ được thực hiện theo các ngoại lệ được quy định trong Điều XX (b) và (d) của GATT 1994.

Khi xem xét biện pháp của Brazil liệu có phù hợp với Điều XX của GATT, Cơ quan phúc thẩm đã nhắc lại phép phân tích hai bước trong báo cáo của Cơ quan phúc thẩm vụ United States - Gasoline. Để xác định một biện pháp có phù hợp với Điều XX của GATT hay không trước hết, Ban hội thẩm phải kiểm tra xem một biện pháp có thuộc một trong các trường hợp ngoại lệ được liệt kê trong các khoản cụ thể trong Điều XX hay không. Sau đó, Ban hội thẩm tiếp tục kiểm tra xem biện pháp này có thỏa mãn các điều kiện áp dụng nêu tại Đoạn mở đầu của Điều XX hay không[15].

4. Kinh nghiệm đối với Việt Nam

Mặc dù, theo khoản 2 Điều 3 DSU, báo cáo của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm sau khi được DSB thông qua không có giá trị pháp lý bắt buộc áp dụng đối với Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm trong các vụ việc sau. Nhưng nhu cầu viện dẫn lại các báo cáo của Ban hội thẩm và đặc biệt là của Cơ quan phúc thẩm[16] đã được thông qua tại WTO luôn đặt ra. Bởi phạm vi chính xác của các quyền và nghĩa vụ có trong các hiệp định của WTO không phải lúc nào cũng rõ ràng từ việc đọc các quy định trong hiệp định,mà luôn cần có sự giải thích trong quá trình giải quyết tranh chấp, nhưng phải đảm bảo “tạo ra sự an toàn và khả năng dự đoán trước cho hệ thống thương mại đa phương” (khoản 2 Điều 3 của DSU).

Thực tiễn áp dụng các các báo cáo của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm đã được thông qua tại WTO như phân tích ở trên cho thấy:

- Báo cáo của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm đã được thông qua được Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm trong những vụ tranh chấp sau thừa nhận theo hai cách thức là báo cáo trước đó được viện dẫn nhằm bổ trợ cho lập luận của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm và báo cáo trước đó được viện dẫn để Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm áp dụng theo. Dưới góc độ này, có tác giả cho rằng, những báo cáo đã được thông qua có giá trị tham khảo và có thể được xem như một dạng án lệ không ràng buộc về mặt pháp lý.[17]

- Việc viện dẫn báo cáo của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm đã được thông qua trong vụ việc nào trước đó, hoàn toàn phụ thuộc vào quyết định của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm. Do đó, nếu trong vụ việc này, Ban hội thẩm viện dẫn báo cáo của vụ tranh chấp DS “X” nào đó, thì với khi xem xét vấn đề tương tự trong vụ tranh chấp khác, Ban hội thẩm cũng không bắt buộc phải viện dẫn báo cáo của vụ tranh chấp DS “X” kia.

- Khi cần giải thích một vấn đề pháp lý cụ thể, Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm có xu hướng viện dẫn một số báo cáo nhất định đã được DSB thông qua. Như trong hai vụ US - Shrimp và Brazil - Retreaded Tyres nêu trên, Cơ quan phúc thẩm đều viện dẫn đến báo cáo của Cơ quan phúc thẩm trong vụ United States - Gasoline để xác định trình tự áp dụng ngoại lệ chung theo quy định tại Điều XX của GATT.

Việc nghiên cứu, làm rõ thực tiễn áp dụng các báo cáo đã được thông qua trong cơ chế giải quyết tranh chấp tại WTO nêu trên, là cơ sở để các nước thành viên WTO nói chung và Việt Nam nói riêng khi tham gia giải quyết tranh chấp: (i) Có quyền viện dẫn các báo cáo đã được DSB thông qua để tăng tính thuyết phục cho lập luận của mình; (ii) Nên viện dẫn những báo cáo thường được Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm áp dụng khi xem xét vấn đề tương tự; (iii) Các báo cáo đã được thông qua do các bên tham gia tranh chấp đưa ra cũng có thể coi là một đề xuất để Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm lựa chọn, qua đó mang lại lợi thế cho chính bản thân họ.

ThS. Tào Thị Huệ

Đại học Luật Hà Nội


[1]WTO, “Chronological list of disputes cases”, xem tại: https://www.wto.org/english/tratop_e/dispu_e/dispu_status_e.htm (truy cập ngày 01/9/2019).

[2] Hanoi Law University (2017), Textbook International Trade and Business Law, People’s Public Security Publishing House, Hanoi (Giáo trình song ngữ Anh - Việt do Liên minh Châu Âu (EU) tài trợ trong khuôn khổ Dự án EU - Việt Nam MUTRAP III), tr. 607.

[3] WTO, “Legal effect of panel and appellate body reports and DSB recommendations and rulings”, xem tại: https://www.wto.org/english/tratop_e/dispu_e/disp_settlement_cbt_e/c7s2p1_e.htm (truy cập ngày 31/8/2019).

[4]Appellate Body Report, Japan - Alcoholic Beverages II, p.14 (Japan - Alcoholic Beverages II là tên viết tắt của vụ DS8: Japan - Taxes on Alcoholic Beverages, https://www.wto.org/english/tratop_e/dispu_e/cases_e/ds8_e.htm (truy cập ngày 31/8/2019).

[5]US - Clove Cigarettes là tên viết tắt của vụ DS406: United States - Measures Affecting the Production and Sale of Clove Cigarettes, xem tại: https://www.wto.org/english/tratop_e/dispu_e/cases_e/ds406_e.htm (truy cập ngày 31/8/2019).

[6]EC - Asbestos là tên viết tắt của vụ DS135: European Communities — Measures Affecting Asbestos and Products Containing Asbestos, https://www.wto.org/english/tratop_e/dispu_e/cases_e/ds135_e.htm (truy cập ngày 31/8/2019).

[7] Panel Report, US - Clove Cigarettes, para. 7.244.

[8] Appellate Body Report, US - Clove Cigarettes, para. 132.

[9] Indonesia - Autos là tên viết tắt của vụ DS54, DS 55, DS 59, DS64: Indonesia - Certain Measures Affecting the Automobile Industry, https://www.wto.org/english/tratop_e/dispu_e/cases_e/ds59_e.htm (truy cập ngày 31/8/2019).

[10] Canada - Periodicals là tên viết tắt của vụ DS31: Canada - Certain Measures Concerning Periodicals, https://www.wto.org/english/tratop_e/dispu_e/cases_e/ds31_e.htm (truy cập ngày 31/8/2019).

[11] EC - Bananas III là viết tắt của vụ DS27: European Communities - Regime for the Importation, Sale and Distribution of Bananas, https://www.wto.org/english/tratop_e/dispu_e/cases_e/ds27_e.htm (truy cập ngày 31/8/2019).

[12] Xem: Panel Report, Indonesia - Autos, p. 334, 335.

[13]US - Shrimp là tên viết tắt của vụ DS58: United States - Import Prohibition of Certain Shrimp and Shrimp Products, xem tại: https://www.wto.org/english/tratop_e/dispu_e/cases_e/ds58_e.htm (truy cập ngày 31/8/2019).

[14]United States - Gasoline là tên viết tắt của vụ DS2: United States - Standards for Reformulated and Conventional Gasoline, xem tại: https://www.wto.org/english/tratop_e/dispu_e/cases_e/ds2_e.htm (truy cập ngày 31/8/2019).

[15] Appellate Body Report, Brazil - Retreaded Tyres, para. 139.

[16] Do thẩm quyền của Cơ quan phúc thẩm là chỉ được xem xét kháng cáo về những vấn đề về pháp lý được đề cập đến trong báo cáo của ban hội thẩm và những giải thích pháp luật của ban hội thẩm (khoản 6 Điều 17 DSU). Cơ quan Phúc thẩm có quyền giữ nguyên, sửa đổi hoặc quyết định ngược lại các ý kiến và kết luận của ban hội thẩm (khoản 13 Điều 17 DSU).

[17] Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế, TS. Nguyễn Bá Bình chủ biên, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2018, tr. 66.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: