Thứ ba 17/02/2026 03:20
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực tiễn bảo vệ quyền của nạn nhân bạo lực gia đình

Bài viết phân tích thực tiễn bảo vệ quyền của nạn nhân bạo lực gia đình, qua đó khuyến nghị các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình.


1. Thực tiễn bảo vệ quyền của nạn nhân bạo lực gia đình

Bạo lực gia đình là một hình thức bạo lực trên cơ sở giới, bạo lực gia đình tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau như bạo lực về thể chất, bạo lực về tinh thần, về kinh tế… Dù tồn tại dưới bất cứ hình thức nào thì bạo lực gia đình đều gây ra những hậu quả đối với người phải gánh chịu hành vi bạo lực gia đình.

Nạn nhân bạo lực gia đình có thể là bất cứ ai. Tuy nhiên, ở Việt Nam, xuất phát từ định kiến giới cho nên nạn nhân bạo lực gia đình phổ biến là phụ nữ. Theo nghiên cứu quốc gia về bạo lực gia đình, có ít nhất 58% phụ nữ từng là nạn nhân của hành vi bạo lực gia đình[1]. Theo số liệu thống kê của Vụ Gia đình - Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, tính từ năm 2011 – 2015, cứ mỗi ngày ở Việt Nam lại có 64 phụ nữ, 10 trẻ em là nạn nhân của bạo lực gia đình. Trong tổng số 157.859 vụ bạo lực gia đình được phát hiện từ năm 2011 tới năm 2015, nạn nhân là phụ nữ (từ 16 - 59 tuổi) chiếm tới 74,24%[2]. Trong những năm gần đây, mặc dù Việt Nam rất nỗ lực trong việc hạn chế tình trạng bạo lực gia đình nhưng tình hình bạo lực gia đình vẫn chưa thuyên giảm và tính chất mức độ còn có chiều hướng nghiêm trọng hơn. Theo một thống kê chưa đầy đủ, 06 tháng đầu năm 2016 đã có 20 phụ nữ và trẻ em bị tước đi tính mạng vì bạo lực gia đình. Điều đáng nói là những con số thống kê trên đây chưa thể kiểm soát được toàn diện các vụ bạo lực gia đình vì trên thực tế còn nhiều vụ việc bạo lực gia đình chưa được phát hiện do nạn nhân và người thực hiện hành vi che dấu. Chỉ có một nửa số phụ nữ bị chồng gây bạo lực từng tiết lộ chuyện này với một người nào đó trong cộng đồng nơi họ sinh sống và rất hiếm khi phụ nữ tìm kiếm sự hỗ trợ từ một cơ quan hay người có thẩm quyền. Theo Báo cáo tình hình thực thi Luật Phòng, chống bạo lực gia đình ở 02 tỉnh Hòa Bình và Hà Nam của Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng khoa học về giới - gia đình - phụ nữ (CSAGA) thì những phụ nữ chưa từng tìm kiếm sự hỗ trợ từ bất cứ nguồn chính thống nào đã cho biết lý do phổ biến mà họ không tìm kiếm sự hỗ trợ là do họ quan niệm rằng những gì đang xảy ra là “bình thường và không nghiêm trọng” đối với họ. Những lý do khác liên quan đến kỳ thị của xã hội về bạo lực do chồng gây ra và lo ngại về hậu quả. Từ số liệu thống kê cho thấy 60,5% phụ nữ bị bạo lực thể xác và bạo lực tình dục nói lý do họ không tìm kiếm sự giúp đỡ của các cơ quan hay người có trách nhiệm là vì họ coi chuyện bạo lực là bình thường và không nghiêm trọng. Số chị em có quan niệm như vậy ở nông thôn cao hơn thành thị (63% so với 53,5%). Lý do khác nữa là họ sợ gia đình mang tiếng (41,3%), xấu hổ (22,8%), sợ vợ chồng bỏ nhau (6,2%) và sợ hậu quả (5,5%)[3]. Thực tế này cũng làm cho công tác phòng, chống bạo lực gia đình nói chung, bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân nói riêng gặp nhiều khó khăn.

Thực tế, bảo vệ quyền của nạn nhân bạo lực gia đình cũng cho thấy, việc nạn nhân tố cáo hành vi vi phạm của người thực hiện hành vi nhưng không được xử lý kịp thời, sự thờ ơ của cơ quan chức năng trong việc đấu tranh với hành vi vi phạm cũng sẽ tạo ra tâm lý nạn nhân không muốn tố giác hành vi vi phạm. Vì thế, nhiều trường hợp bị bạo lực gia đình nhưng nạn nhân không tố cáo hành vi vi phạm vì cho rằng, việc tố cáo cũng không giải quyết được vấn đề. Do vậy, quyền được bảo vệ danh dự, tính mạng, sức khỏe của nạn nhân không được đảm bảo. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân như: (i) Tâm lý coi bạo lực gia đình là vấn đề riêng tư của mỗi gia đình; (ii) Chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc giải quyết các vụ việc bạo lực gia đình và hành vi vi phạm không được phát hiện kịp thời. Đây cũng là nguyên nhân chính dẫn đến các vụ việc bạo lực gia đình để lại hậu quả nghiêm trọng đối với nạn nhân bạo lực gia đình.

Về thực hiện quyền yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền thực hiện biện pháp ngăn chặn, bảo vệ, cấm tiếp xúc: Đây chính là biện pháp nhằm cách ly nạn nhân với người thực hiện hành vi bạo lực gia đình đề phòng các hậu quả xấu đối với nạn nhân. Thực tế thực hiện pháp luật cho thấy, phần lớn nạn nhân không yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn, cấm tiếp xúc vì nạn nhân không biết về quyền này. Số nạn nhân biết về quyền lại không thể cách ly người thực hiện hành vi vì nhiều lý do khác nhau, trong đó nhiều nạn nhân sợ rằng mâu thuẫn càng trầm trọng hơn và lo sợ gia đình tan vỡ.

Về quyền được cung cấp dịch vụ y tế, tâm lý, pháp luật: Pháp luật hiện hành quy định cụ thể về quyền được cung cấp các dịch vụ y tế, tâm lý, pháp luật của nạn nhân và quy định rõ trách nhiệm của các chủ thể có thẩm quyền cung cấp các dịch vụ này cho nạn nhân bạo lực gia đình. Quyền được cung cấp các dịch vụ y tế, tâm lý, pháp lý có mối liên hệ mật thiết với quyền yêu cầu các cơ quan chức năng bảo vệ sức khỏe, danh dự và tính mạng của nạn nhân. Vì vậy, thực tế cho thấy phần lớn nạn nhân bạo lực gia đình khi yêu cầu cơ quan chức năng bảo vệ sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm thì nạn nhân cũng đồng thời được bảo vệ quyền được cung cấp các dịch vụ này. Mặc dù trên thực tế, có rất ít phụ nữ đã từng tìm đến sự hỗ trợ của các cơ quan hoặc chính quyền, nhưng hầu hết phụ nữ đã từng làm việc này cho biết rằng họ hài lòng với kết quả hỗ trợ. Tỷ lệ hài lòng cao nhất là đối với những hỗ trợ từ bệnh viện và cơ sở y tế (93%), tiếp theo là các tổ chức xã hội (85,8%), sau đó là lãnh đạo địa phương và thấp nhất là công an hoặc Ủy ban nhân dân (chỉ có 66% cho biết họ hài lòng). Mức độ hài lòng đối với tất cả các nguồn hỗ trợ ở khu vực nông thôn thấp hơn so với thành thị[4].

Về việc bảo đảm quyền được bố trí nơi tạm lánh, được giữ bí mật về nơi tạm lánh và thông tin khác theo quy định của pháp luật: Theo quy định của pháp luật hiện hành, từ cấp địa phương đã phải có đủ các dịch vụ hỗ trợ như tư vấn, địa chỉ an toàn, chỗ tạm lánh cho nạn nhân bạo lực gia đình, song trên thực tế, hầu hết các địa phương trên cả nước, các địa chỉ an toàn cho nạn nhân còn thiếu và yếu. Theo Báo cáo giám sát tình hình thực thi Luật Phòng, chống bạo lực gia đình của Trung tâm Nghiên cứu và ứng dụng khoa học về giới - gia đình - phụ nữ tại 02 tỉnh Hòa Bình và Hà Nam thì tại cả hai địa bàn này đều không có các địa chỉ an toàn cho nạn nhân bạo lực gia đình. Khi người phụ nữ bị bạo lực, họ thường tìm đến người quen, hàng xóm và cán bộ đại diện cho đoàn thể mà họ là thành viên, chủ yếu là Hội Phụ nữ và Hội Nông dân. Người bị bạo lực cũng đến hoặc được Tổ hòa giải tiếp cận để hỗ trợ, tuy nhiên sự hỗ trợ chỉ dừng lại ở việc dàn hòa, tư vấn đơn giản. Tại những xã có dự án nước ngoài thì cũng có phòng tư vấn, tuy nhiên cán bộ tư vấn chỉ được đào tạo 01 - 02 khóa và không được đào tạo nâng cao một cách thường xuyên nên chất lượng tư vấn vẫn còn khiêm tốn. Ngoài ra, chỗ tạm lánh cũng là một dịch vụ hỗ trợ vô cùng cần thiết, dù cho chúng ở hình thức nào. Nếu không có nhà tạm lánh với đầy đủ các tiêu chuẩn thì địa chỉ tin cậy cũng là một nơi cần phải có để hỗ trợ người bị bạo lực. Các địa chỉ này đang tồn tại ở một số nơi, nhưng ở cả hai địa bàn thực hiện đánh giá, khái niệm này chưa được biết đến và không có một địa chỉ nào mà phụ nữ có thể tìm đến để chắc chắn có sự trợ giúp an toàn, hiệu quả một cách toàn diện.

Từ báo cáo này cũng cho thấy, khi bị thương, người bị bạo lực có tìm đến trạm y tế, nhưng đa số đều không nói rằng vết thương là do hậu quả của bạo lực. Hơn nữa, cán bộ y tế có phát hiện ra người bị bạo lực cũng không biết nên chuyển họ cho cơ quan, đoàn thể nào hỗ trợ tiếp vì chưa có cơ chế phối hợp[5]. Vì thế, việc hỗ trợ không đạt được hiệu quả cao, tạo ra tâm lý không muốn khai báo của nạn nhân bạo lực gia đình gây khó khăn cho công tác phòng ngừa bạo lực gia đình.

2. Kết luận và khuyến nghị

Đảm bảo tốt các quyền của nạn nhân bạo lực gia đình theo quy định của pháp luật không chỉ hạn chế những hậu quả xấu đối với nạn nhân bạo lực gia đình, bảo đảm an toàn tính mạng cho nạn nhân mà còn góp phần phòng ngừa tình trạng bạo lực gia đình. Tuy nhiên, từ thực tế thi hành, áp dụng pháp luật về bảo vệ quyền của nạn nhân bạo lực gia đình cho thấy việc bảo vệ các quyền của nạn nhân bạo lực gia đình chưa thực sự hiệu quả. Vì thế, để thực hiện tốt việc bảo đảm quyền cho nạn nhân bạo lực gia đình, chúng tôi cho rằng cần phải thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

Một là, cần thực hiện tốt hơn nữa việc phổ biến, tuyên truyền kiến thức pháp lý và kỹ năng bảo vệ quyền cho nạn nhân bạo lực gia đình. Như chúng tôi đã phân tích ở trên, việc bảo vệ quyền của nạn nhân bạo lực gia đình phụ thuộc nhiều vào chính bản thân nạn nhân. Trong nhiều trường hợp, sự thiếu hiểu biết về quyền của nạn nhân là nguyên nhân dẫn đến việc can thiệp không kịp thời của các cơ quan có thẩm quyền làm cho tình trạng bạo lực gia đình càng trầm trọng, nạn nhân không được hỗ trợ, bảo vệ.

Hai là, cần phải đẩy mạnh các biện pháp tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện việc bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình. Thực trạng bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình cho thấy việc bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình chưa hiệu quả có nguyên nhân từ sự phối hợp chưa chặt chẽ của các cơ quan có thẩm quyền. Trong một số trường hợp sự đùn đẩy trách nhiệm giữa các cơ quan đã tạo ra tâm lý lo ngại của nạn nhân khi đề nghị cơ quan có thẩm quyền thực hiện can thiệp và hỗ trợ, do vậy cũng dẫn đến tình trạng nạn nhân không muốn khai báo vì thấy rằng sự can thiệp của cơ quan chức năng không có hiệu quả.

Ba là, cần phải xem xét kiện toàn lại hệ thống các cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình, đặc biệt là ở cấp địa phương vì đây là cấp có thẩm quyền đầu tiên có trách nhiệm phát hiện và can thiệp, hỗ trợ, bảo vệ nạn nhân bạo lực gia đình. Hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra rằng ở cấp địa phương đều chưa xây dựng được mạng lưới cơ sở làm công tác bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình. Một số địa phương duy trì được vì có sự tài trợ của một số tổ chức phi chính phủ, tuy nhiên điều đáng lo ngại sau khi kết thúc các dự án sự duy trì trên chỉ mang tính chất hình thức cho nên việc bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân trên thực tế cũng gặp không ít khó khăn.

Bốn là, cần tiếp tục nâng cao kiến thức và kỹ năng bảo vệ, hỗ trợ cho nạn nhân bạo lực gia đình phù hợp với từng nhóm đối tượng thực hiện việc bảo vệ, hỗ trợ. Việc bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình thuộc trách nhiệm của nhiều cơ quan, người có thẩm quyền. Việc xử lý các vụ việc bạo lực gia đình đòi hỏi cơ quan, người có thẩm quyền phải có cách thức giải quyết phù hợp, thực tế cho thấy, nhiều trường hợp, người có thẩm quyền tiến hành can thiệp, bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân chưa hiệu quả có nguyên nhân từ việc thiếu kỹ năng giải quyết các vấn đề có liên quan đến bạo lực gia đình. Do vậy, cần phải tăng cường mở các lớp tập huấn kỹ năng cho cán bộ, nhân viên làm công tác bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình. Theo đó, phải chú trọng đến từng nhóm cụ thể như nhóm công an viên, nhân viên y tế, nhân viên các tổ chức xã hội, nhân viên công tác xã hội… để có biện pháp bổ sung các kỹ năng cần thiết cho phù hợp với từng đối tượng.

Năm là, mở rộng gói hỗ trợ tối thiểu cho các nạn nhân bạo lực gia đình. Từ năm 2012, Quỹ dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA) đã triển khai Dự án “Phòng, chống bạo lực gia đình, kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh và chăm sóc người cao tuổi” tại hai tỉnh là Bến Tre và Hải Dương nhằm hỗ trợ các tỉnh này xây dựng, triển khai thí điểm theo dõi, phân tích chi phí, hiệu quả mô hình can thiệp về phòng, chống bạo lực gia đình, làm cơ sở cho việc vận động, đề xuất các lựa chọn chính sách nhân rộng mô hình trong phạm vi tỉnh và toàn quốc.

Tổng kết hoạt động của mô hình này tại Hải Dương cho thấy, gói can thiệp thối thiểu tại cộng đồng về phòng, chống bạo lực gia đình đã được triển khai từ tỉnh huyện đến xã, từ năm 2012 - 2016 tổ chức được nhiều sự kiện như: Mít tinh, truyền thông đại chúng, các hoạt động nâng cao kiến thức, kỹ năng cho đội ngũ cán bộ làm công tác gia đình các cấp. Ban quản lý dự án đã phối hợp với Sở Y tế tập huấn cho các bác sỹ tuyến huyện và các trạm y tế kiến thức về bạo lực gia đình, các bước của quy trình sàng lọc bệnh nhân; thành lập phòng tư vấn, phát hiện nhiều ca có dấu hiệu của bạo lực gia đình tại bệnh viện huyện, trạm y tế; phối hợp với Văn phòng luật sư Thành Đông triển khai đường dây nóng phòng, chống bạo lực gia đình từ năm 2012 - 2015. Năm 2016 đường dây nóng đã được hỗ trợ trang bị lắp đặt hệ thống máy điện thoại tại Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh, có đội ngũ tư vấn viên trực 24/24[6].

Tại Bến Tre, sau 05 năm thực hiện Dự án đã đạt được các chỉ tiêu chính về gói can thiệp tối thiểu, toàn diện về phòng, chống bạo lực gia đình có tính tới chi phí - hiệu quả được triển khai thí điểm và hoàn thiện. Cơ chế điều phối liên ngành chỉ đạo việc thực hiện gói can thiệp tối thiểu, toàn diện về phòng, chống bạo lực gia đình ở cấp tỉnh, huyện, xã được chỉnh sửa, triển khai và hoàn thiện. Khung theo dõi, đánh giá việc thực hiện Kế hoạch hành động của tỉnh về phòng, chống bạo lực gia đình được xây dựng, triển khai và hoàn thiện. Kết quả là tỷ lệ người biết đến Luật Phòng, chống bạo lực gia đình tăng gần 40%, tỷ lệ người dân biết đến các dịch vụ có sẵn và đường dây nóng trong phòng, chống bạo lực gia đình tăng gần 50%. Hành vi bạo lực gia đình đã giảm đi nhiều so với trước đây, trong đó bạo lực về mặt thể xác đã giảm một cách rõ rệt. Số vụ bạo lực gia đình càng lúc càng giảm, năm 2012 có 642 vụ nhưng đến năm 2016 chỉ còn 178 vụ, giảm hơn 70%[7]. Như vậy, nếu mở rộng triển khai mô hình này thì việc bảo vệ quyền của nạn nhân bạo lực gia đình sẽ phát huy được hiệu quả như mong đợi.

Có thể nói việc hạn chế và phòng ngừa hậu quả của bạo lực gia đình đối với nạn nhân phụ thuộc rất nhiều vào việc thực hiện tốt các hoạt động bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình. Vì vậy, việc thực hiện đồng bộ các giải pháp trên sẽ góp phần nâng cao chất lượng bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình, giúp nạn nhân được bảo vệ các quyền con người nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống và hướng tới một cộng đồng không bạo lực, sống và hành động vì con người, vì các giá trị nhân văn của pháp luật về bảo vệ các quyền con người.

TS. Bùi Thị Mừng

Đại học Luật Hà Nội





[1]. Xem Tổng cục thống kê (2010), Báo cáo quốc gia về bạo lực gia đình.

[2]. Xem Vụ Gia đình - Bộ Văn hóa, Thể Thao và Du lịch (2015), Thống kê tình hình bạo lực gia đình từ năm 2011-2015.

[3]. Xem Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng khoa học về giới - gia đình - phụ nữ (2012), Báo cáo giám sát tình hình thực thi Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 02 tỉnh Hòa Bình và Hà Nam.

[4]. Xem Tổng cục thống kê (2010), Báo cáo quốc gia về bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam.

[5]. Mặc dù Quyết định số 21/2016/QĐ-TTg ngày 17/5/2016 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Quy chế phối hợp liên ngành về phòng chống bạo lực gia đình đã quy định tại Điều 6 về việc phối hợp phát hiện sớm vụ việc bạo lực gia đình và thực hiện các biện pháp bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình nhưng thực tế vẫn chưa tạo ra cơ chế phối hợp có hiệu quả trong việc bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình.

[6]. Xem: Kim Dung, Tổng kết mô hình thí điểm “Gói can thiệp tối thiểu về phòng chống bạo lực gia đình tại cộng đồng” giai đoạn 2012 - 2016, Cổng thông tin điện tử Tỉnh Hải Dương, cập nhật ngày 10/2/2016.

[7]. Xem: Bến Tre tổ chức hội thảo Tổng kết mô hình thí điểm “Gói can thiệp tối thiểu về phòng chống bạo lực gia đình tại cộng đồng” giai đoạn 2012 - 2016, Cổng thông tin điện tử tỉnh Bến Tre, cập nhật ngày 15/4/2018.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.
Mô hình bệnh viện - dưỡng lão tích hợp: Giải pháp chăm sóc sức khỏe Nhân dân

Mô hình bệnh viện - dưỡng lão tích hợp: Giải pháp chăm sóc sức khỏe Nhân dân

Trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn già hóa dân số nhanh, nhu cầu chăm sóc sức khỏe toàn diện và mô hình dưỡng lão chuyên nghiệp ngày càng trở nên cấp thiết. Sự kết hợp giữa y học cổ truyền với phục hồi chức năng, chăm sóc người cao tuổi được xem là hướng đi chiến lược, phù hợp với định hướng lớn của Đảng, Nhà nước về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân.
Phát huy tinh thần, khí thế Đại hội XIV của Đảng, quyết tâm tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Phát huy tinh thần, khí thế Đại hội XIV của Đảng, quyết tâm tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng là nền tảng vững chắc để đẩy mạnh công tác chuẩn bị và tổ chức thắng lợi cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Trên cơ sở phân tích ý nghĩa, những điểm mới và yêu cầu đối với công tác bầu cử, làm rõ các nhiệm vụ trọng tâm về chuẩn bị nhân sự, công tác tuyên truyền, bảo đảm quyền của cử tri, cơ sở vật chất, hoạt động giám sát, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, Đồng chí Nguyễn Thị Thanh - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội khẳng định quyết tâm của Đảng ủy Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thành công cuộc bầu cử là hành động thiết thực để triển khai kịp thời khí thế, tinh thần chỉ đạo mạnh mẽ của Nghị quyết Đại hội XIV và Chỉ thị số 01-CT/TW ngày 23/01/2026 của Bộ Chính trị.
Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.

Theo dõi chúng tôi trên: