Thứ năm 05/03/2026 07:32
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực tiễn công chứng văn bản xác nhận tài sản riêng của vợ, chồng

Trong bài viết này, tác giả phân tích thực trạng công chứng văn bản xác nhận tài sản riêng của vợ, chồng, đồng thời đề xuất giải pháp nhằm áp dụng thống nhất cách giải quyết trong hoạt động công chứng về vấn đề này.


Quan hệ vợ chồng được xác lập và được pháp luật bảo vệ khi các bên đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Vợ chồng có thể lựa chọn chế độ tài sản cho mình theo một trong hai hình thức là chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận hoặc theo luật định. Nếu chọn chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn và phải được công chứng hoặc chứng thực. Khi vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì chế độ này có hiệu lực kể từ ngày đăng ký kết hôn. Nếu vợ chồng không lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì chế độ tài sản vợ chồng được mặc nhiên áp dụng theo quy định luật định.

Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014[1]; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung[2]. Việc định đoạt tài sản chung phải được sự đồng ý của cả hai vợ chồng[3]. Trong đời sống xã hội, vì những nguyên nhân khác nhau mà vợ chồng có thể phân chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung theo hình thức lập văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; hoặc để thuận tiện trong việc xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự thì vợ, chồng có thể ủy quyền cho nhau. Thực tiễn hiện nay đã và đang xuất hiện một hình thức khác là vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng lập văn bản xác nhận tài sản giao dịch là tài sản riêng của chồng hoặc vợ, do đó, người chồng hoặc vợ này có thể tự mình xác lập các giao dịch dân sự.

Đối với hình thức công chứng văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, pháp luật về công chứng và hôn nhân và gia đình đã có những quy định rất cụ thể. Theo đó, vợ chồng có quyền thỏa thuận phân chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung để chuyển dịch trở thành tài sản riêng và thuộc quyền sở hữu của vợ hoặc chồng. Sau khi hoàn tất việc công chứng thì thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân sẽ có hiệu lực pháp luật, những tài sản được phân chia sẽ trở thành tài sản riêng của vợ hoặc chồng. Đối với tài sản bắt buộc phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì người được phân chia phải làm thủ tục đăng ký để được cấp quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản được phân chia.

Đối với việc vợ, chồng ủy quyền cho nhau để xác lập giao dịch dân sự đã được quy định cụ thể trong Bộ luật Dân sự. Theo đó, người được ủy quyền sẽ đại diện cho người còn lại để xác lập, thực hiện các hợp đồng, giao dịch nhưng không làm thay đổi bản chất quyền sở hữu, sử dụng tài sản. Tài sản vẫn là tài sản chung của vợ chồng, nhưng chỉ do một người đại diện xác lập bởi người còn lại đã ủy quyền cho chồng/vợ của mình.

Đối với việc công chứng văn bản xác nhận tài sản riêng của vợ/chồng, đây là một hình thức phát sinh từ thực tiễn áp dụng trong đời sống xã hội mà không được quy định cụ thể trong Luật Hôn nhân và gia đình. Theo hình thức này, cả hai vợ chồng hoặc chỉ có người vợ hoặc chồng lập văn bản để xác nhận tài sản cụ thể nào đó là tài sản riêng của người còn lại và người này có toàn quyền của người sở hữu, sử dụng đối với tài sản được xác nhận. Việc công chứng văn bản xác nhận tài sản riêng này hiện nay được thực hiện dưới hai hình thức:

Thứ nhất, cả hai vợ chồng cùng lập văn bản xác nhận tài sản riêng

Theo đó, cả hai vợ chồng sẽ xác nhận tài sản cụ thể nào đó là tài sản riêng của vợ hoặc chồng, do người vợ hoặc chồng này tự tạo lập hoặc dùng tài sản riêng để mua, người còn lại không có công sức đóng góp hình thành tài sản nên người vợ hoặc chồng này được toàn quyền định đoạt đối với tài sản riêng đó. Đối với hình thức xác nhận tài sản riêng này, về bản chất, sẽ làm chuyển dịch tài sản được xác định là tài sản chung của vợ chồng (bởi được hình thành trong thời kỳ hôn nhân và không có cơ sở để chứng minh là tài sản riêng) thành tài sản riêng của vợ hoặc chồng. Tuy nhiên, hình thức này chỉ có thể áp dụng đối với trường hợp xác nhận là tài sản riêng cho người chồng hoặc người vợ đứng tên sở hữu, sử dụng tài sản. Nếu muốn người vợ hoặc chồng còn lại có thể nhận các tài sản này là tài sản riêng thì vợ chồng phải thực hiện theo thủ thục phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Việc công chứng văn bản xác nhận tài sản riêng do vợ chồng cùng lập này phải được thực hiện theo hình thức công chứng đối với hợp đồng, giao dịch, bởi vì nội dung văn bản là các bên cùng nhau thỏa thuận, phân chia và chuyển dịch tài sản chung thành tài sản riêng nên không thể thực hiện theo thủ tục chứng thực chữ ký.

Thứ hai, chỉ có người vợ hoặc chồng lập văn bản xác nhận tài sản riêng cho người còn lại

Theo hình thức này, chỉ có người vợ hoặc người chồng lập văn bản để xác nhận tài sản nào đó là tài sản riêng của người chồng hoặc vợ còn lại và người còn lại này không thể hiện việc đồng ý, chấp thuận trên văn bản xác nhận. Trường hợp này sẽ phát sinh những quan hệ pháp luật khác nhau cần phải được xác định rõ để áp dụng trong hoạt động công chứng. Thực tế, có công chứng viên thực hiện công chứng văn bản xác nhận tài sản riêng do người vợ hoặc chồng lập, nhưng cũng có công chứng viên chỉ chứng thực chữ ký của người lập văn bản. Việc công chứng văn bản xác nhận tài sản riêng hoặc chứng thực chữ ký của người lập văn bản sẽ dẫn đến những hệ quả pháp lý khác nhau đối với văn bản được lập. Cụ thể, nếu văn bản được công chứng theo quy định pháp luật thì nội dung văn bản được công chứng viên xác định là hợp pháp, không trái quy định pháp luật và công chứng viên chịu trách nhiệm đối với việc công chứng văn bản này[4]; còn nếu văn bản được chứng thực chữ ký của người lập thì người lập văn bản chịu trách nhiệm về nội dung văn bản và công chứng viên chỉ chịu trách nhiệm về tính xác thực đối với chữ ký của người lập văn bản[5].

Đối chiếu với các quy định pháp luật hiện hành, việc công chứng hay chứng thực chữ ký đối với văn bản xác nhận tài sản riêng của vợ, chồng được các công chứng viên lập luận dựa trên những góc độ khác nhau để thực hiện.

Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định: “Chủ sở hữu có thể tự chấm dứt quyền sở hữu đối với tài sản của mình bằng cách tuyên bố công khai hoặc thực hiện hành vi chứng tỏ việc mình từ bỏ quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản đó” (Điều 239). Với việc lập văn bản xác nhận tài sản chung là tài sản riêng của người chồng hoặc vợ còn lại, người lập văn bản đã dùng hành vi cụ thể của mình để chứng minh việc từ bỏ quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản. Do đó, việc công chứng viên công chứng văn bản xác nhận tài sản riêng do một người vợ hoặc chồng lập là có cơ sở pháp lý. Tuy nhiên, cũng có quan điểm cho rằng, pháp luật về hôn nhân và gia đình xác định tài sản chung của vợ chồng chỉ có thể chuyển đổi thành tài sản riêng bằng con đường vợ chồng cùng lập văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân[6], tức là phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng; việc một người vợ hoặc chồng tự lập văn bản để xác nhận tài sản chung là tài sản riêng của người còn lại khi chưa được sự đồng ý của người đó là không phù hợp.

Đối với việc chứng thực chữ ký của người lập văn bản xác nhận tài sản riêng, Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch (Nghị định số 23/2015/NĐ-CP) quy định, người lập văn bản chịu trách nhiệm về nội dung và công chứng viên chỉ chịu trách nhiệm về tính xác thực đối với chữ ký của người lập văn bản (Điều 23). Nghị định số 23/2015/NĐ-CP cũng có quy định những trường hợp không được chứng thực chữ ký, trong đó có trường hợp “Giấy tờ, văn bản có nội dung là hợp đồng, giao dịch” (Điều 25). Tuy nhiên, đối chiếu với trường hợp này, người lập văn bản xác nhận tài sản riêng, bằng hành vi pháp lý đơn phương của mình đã thể hiện hành vi từ bỏ quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản mà pháp luật quy định là tài sản chung nên không phải là một “hợp đồng, giao dịch”, nên quy định này của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP không thể được áp dụng, do đó, việc chứng thực chữ ký là đúng pháp luật. Hơn nữa, nội hàm ý nghĩa của quy định chứng thực chữ ký là nhằm xác định tính xác thực về chữ ký của người lập văn bản nên việc chứng thực chữ ký văn bản xác nhận tài sản riêng là một hình thức xác thực sự tự nguyện, sự bày tỏ ý chí và hành vi cụ thể của người lập văn bản nhằm từ bỏ quyền sở hữu tài sản của mình trong khối tài sản chung theo quy định tại Điều 239 Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, việc chứng thực chữ ký hoàn toàn có cơ sở pháp lý.

Với những phân tích nêu trên cho thấy, hiện nay, việc công chứng viên thực hiện công chứng hay chứng thực chữ ký đối với văn bản xác nhận tài sản riêng do một người lập đều có cơ sở pháp lý. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là, hình thức chứng nhận nào là phù hợp pháp luật nhất và an toàn nhất cho cả phía người yêu cầu công chứng và phía công chứng viên? Có thể nhận thấy ưu điểm đầu tiên của hai hình thức chứng nhận này là chỉ cần một người chồng hoặc vợ thực hiện, nên linh hoạt hơn so với việc phải thực hiện bởi cả hai vợ chồng. Về bản chất của văn bản xác nhận tài sản riêng là một người vợ hoặc chồng tuyên bố tài sản chung cụ thể nào đó là tài sản riêng của người chồng hoặc vợ còn lại, người còn lại này được toàn quyền sở hữu, sử dụng tài sản đó. Cả văn bản công chứng hay chứng thực đều có giá trị pháp lý và được pháp luật bảo vệ cho người yêu cầu công chứng. Khi người chồng hoặc vợ còn lại đó sử dụng văn bản xác nhận tài sản riêng để một mình giao kết, thực hiện các hợp đồng, giao dịch thì đồng nghĩa với việc họ đã đồng ý với nội dung văn bản xác nhận tài sản riêng.

Đối với công chứng viên khi công chứng văn bản xác nhận tài sản riêng, đây là hình thức công chứng một hành vi pháp lý đơn phương, phù hợp quy định pháp luật. Tuy nhiên, công chứng viên phải chịu trách nhiệm về tính hợp pháp, xác thực của văn bản và văn bản được công chứng phải được lưu trữ 20 năm[7] nên đảm bảo tính pháp lý nhưng làm gia tăng khả năng rủi ro cho công chứng viên. Đối với công chứng viên chứng thực chữ ký của người lập văn bản, đây là một hình thức xác thực chữ ký của người lập văn bản với nội dung là từ bỏ quyền sở hữu, sử dụng tài sản chung để xác định tài sản nào đó chỉ là tài sản riêng của người chồng/vợ còn lại. Việc chứng thực này là phù hợp với quy định pháp luật, văn bản được chứng thực chỉ phải lưu trữ trong 02 năm[8] và người lập văn bản tự chịu trách nhiệm về nội dung của văn bản nên giảm thiểu rất nhiều rủi ro cho công chứng viên.

Như vậy, cùng là một văn bản xác nhận tài sản riêng do vợ hoặc chồng lập, nhưng nếu công chứng viên thực hiện việc công chứng sẽ làm gia tăng trách nhiệm và rủi ro, còn nếu chỉ thực hiện chứng thực chữ ký sẽ giảm tải rất nhiều áp lực từ lưu trữ, đến khả năng chịu trách nhiệm và rủi ro cho công chứng viên. Thực trạng này dẫn đến hiện tượng là hiện nay có rất nhiều công chứng viên lựa chọn giải pháp chứng thực chữ ký văn bản xác nhận tài sản riêng do một người lập để bảo vệ cho chính mình trong hoạt động hành nghề.

Văn bản xác nhận tài sản riêng do một người lập là một hành vi pháp lý đơn phương, không phải là một “hợp đồng, giao dịch” nên không thuộc trường hợp không được chứng thực chữ ký theo Nghị định số 23/2015/NĐ-CP. Do đó, hiện nay, việc chứng thực chữ ký vẫn được áp dụng bên cạnh việc công chứng theo pháp luật công chứng. Tuy nhiên, thực trạng hiện nay mỗi nơi áp dụng khác nhau, mỗi công chứng viên thực hiện khác nhau cho cả hai hình thức công chứng hoặc chứng thực. Thiết nghĩ, nên sớm có văn bản hướng dẫn lựa chọn hình thức thống nhất là công chứng hay chứng thực đối với văn bản xác nhận tài sản riêng do một người lập. Chỉ khi có sự hướng dẫn mới có cơ sở để thống nhất áp dụng, tránh tình trạng áp dụng khác nhau tùy theo lập luận, quan điểm cá nhân.

ThS. Nguyễn Huy Cường

Văn phòng Công chứng Nguyễn Huy Cường, tỉnh Trà Vinh



[1]. Khoản 1 Điều 40 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì phần tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác…”.

[2]. Khoản 1, khoản 3 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3]. Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4]. Khoản 1 Điều 2 Luật Công chứng năm 2014.

[5]. Điều 23 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch.

[6]. Điều 38 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[7]. Khoản 2 Điều 64 Luật Công chứng năm 2014.

[8]. Khoản 2 Điều 14 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: