Thứ năm 11/06/2026 08:35
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực tiễn công chứng văn bản xác nhận tài sản riêng của vợ, chồng

Trong bài viết này, tác giả phân tích thực trạng công chứng văn bản xác nhận tài sản riêng của vợ, chồng, đồng thời đề xuất giải pháp nhằm áp dụng thống nhất cách giải quyết trong hoạt động công chứng về vấn đề này.


Quan hệ vợ chồng được xác lập và được pháp luật bảo vệ khi các bên đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Vợ chồng có thể lựa chọn chế độ tài sản cho mình theo một trong hai hình thức là chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận hoặc theo luật định. Nếu chọn chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn và phải được công chứng hoặc chứng thực. Khi vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì chế độ này có hiệu lực kể từ ngày đăng ký kết hôn. Nếu vợ chồng không lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì chế độ tài sản vợ chồng được mặc nhiên áp dụng theo quy định luật định.

Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014[1]; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung[2]. Việc định đoạt tài sản chung phải được sự đồng ý của cả hai vợ chồng[3]. Trong đời sống xã hội, vì những nguyên nhân khác nhau mà vợ chồng có thể phân chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung theo hình thức lập văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; hoặc để thuận tiện trong việc xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự thì vợ, chồng có thể ủy quyền cho nhau. Thực tiễn hiện nay đã và đang xuất hiện một hình thức khác là vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng lập văn bản xác nhận tài sản giao dịch là tài sản riêng của chồng hoặc vợ, do đó, người chồng hoặc vợ này có thể tự mình xác lập các giao dịch dân sự.

Đối với hình thức công chứng văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, pháp luật về công chứng và hôn nhân và gia đình đã có những quy định rất cụ thể. Theo đó, vợ chồng có quyền thỏa thuận phân chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung để chuyển dịch trở thành tài sản riêng và thuộc quyền sở hữu của vợ hoặc chồng. Sau khi hoàn tất việc công chứng thì thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân sẽ có hiệu lực pháp luật, những tài sản được phân chia sẽ trở thành tài sản riêng của vợ hoặc chồng. Đối với tài sản bắt buộc phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì người được phân chia phải làm thủ tục đăng ký để được cấp quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản được phân chia.

Đối với việc vợ, chồng ủy quyền cho nhau để xác lập giao dịch dân sự đã được quy định cụ thể trong Bộ luật Dân sự. Theo đó, người được ủy quyền sẽ đại diện cho người còn lại để xác lập, thực hiện các hợp đồng, giao dịch nhưng không làm thay đổi bản chất quyền sở hữu, sử dụng tài sản. Tài sản vẫn là tài sản chung của vợ chồng, nhưng chỉ do một người đại diện xác lập bởi người còn lại đã ủy quyền cho chồng/vợ của mình.

Đối với việc công chứng văn bản xác nhận tài sản riêng của vợ/chồng, đây là một hình thức phát sinh từ thực tiễn áp dụng trong đời sống xã hội mà không được quy định cụ thể trong Luật Hôn nhân và gia đình. Theo hình thức này, cả hai vợ chồng hoặc chỉ có người vợ hoặc chồng lập văn bản để xác nhận tài sản cụ thể nào đó là tài sản riêng của người còn lại và người này có toàn quyền của người sở hữu, sử dụng đối với tài sản được xác nhận. Việc công chứng văn bản xác nhận tài sản riêng này hiện nay được thực hiện dưới hai hình thức:

Thứ nhất, cả hai vợ chồng cùng lập văn bản xác nhận tài sản riêng

Theo đó, cả hai vợ chồng sẽ xác nhận tài sản cụ thể nào đó là tài sản riêng của vợ hoặc chồng, do người vợ hoặc chồng này tự tạo lập hoặc dùng tài sản riêng để mua, người còn lại không có công sức đóng góp hình thành tài sản nên người vợ hoặc chồng này được toàn quyền định đoạt đối với tài sản riêng đó. Đối với hình thức xác nhận tài sản riêng này, về bản chất, sẽ làm chuyển dịch tài sản được xác định là tài sản chung của vợ chồng (bởi được hình thành trong thời kỳ hôn nhân và không có cơ sở để chứng minh là tài sản riêng) thành tài sản riêng của vợ hoặc chồng. Tuy nhiên, hình thức này chỉ có thể áp dụng đối với trường hợp xác nhận là tài sản riêng cho người chồng hoặc người vợ đứng tên sở hữu, sử dụng tài sản. Nếu muốn người vợ hoặc chồng còn lại có thể nhận các tài sản này là tài sản riêng thì vợ chồng phải thực hiện theo thủ thục phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Việc công chứng văn bản xác nhận tài sản riêng do vợ chồng cùng lập này phải được thực hiện theo hình thức công chứng đối với hợp đồng, giao dịch, bởi vì nội dung văn bản là các bên cùng nhau thỏa thuận, phân chia và chuyển dịch tài sản chung thành tài sản riêng nên không thể thực hiện theo thủ tục chứng thực chữ ký.

Thứ hai, chỉ có người vợ hoặc chồng lập văn bản xác nhận tài sản riêng cho người còn lại

Theo hình thức này, chỉ có người vợ hoặc người chồng lập văn bản để xác nhận tài sản nào đó là tài sản riêng của người chồng hoặc vợ còn lại và người còn lại này không thể hiện việc đồng ý, chấp thuận trên văn bản xác nhận. Trường hợp này sẽ phát sinh những quan hệ pháp luật khác nhau cần phải được xác định rõ để áp dụng trong hoạt động công chứng. Thực tế, có công chứng viên thực hiện công chứng văn bản xác nhận tài sản riêng do người vợ hoặc chồng lập, nhưng cũng có công chứng viên chỉ chứng thực chữ ký của người lập văn bản. Việc công chứng văn bản xác nhận tài sản riêng hoặc chứng thực chữ ký của người lập văn bản sẽ dẫn đến những hệ quả pháp lý khác nhau đối với văn bản được lập. Cụ thể, nếu văn bản được công chứng theo quy định pháp luật thì nội dung văn bản được công chứng viên xác định là hợp pháp, không trái quy định pháp luật và công chứng viên chịu trách nhiệm đối với việc công chứng văn bản này[4]; còn nếu văn bản được chứng thực chữ ký của người lập thì người lập văn bản chịu trách nhiệm về nội dung văn bản và công chứng viên chỉ chịu trách nhiệm về tính xác thực đối với chữ ký của người lập văn bản[5].

Đối chiếu với các quy định pháp luật hiện hành, việc công chứng hay chứng thực chữ ký đối với văn bản xác nhận tài sản riêng của vợ, chồng được các công chứng viên lập luận dựa trên những góc độ khác nhau để thực hiện.

Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định: “Chủ sở hữu có thể tự chấm dứt quyền sở hữu đối với tài sản của mình bằng cách tuyên bố công khai hoặc thực hiện hành vi chứng tỏ việc mình từ bỏ quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản đó” (Điều 239). Với việc lập văn bản xác nhận tài sản chung là tài sản riêng của người chồng hoặc vợ còn lại, người lập văn bản đã dùng hành vi cụ thể của mình để chứng minh việc từ bỏ quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản. Do đó, việc công chứng viên công chứng văn bản xác nhận tài sản riêng do một người vợ hoặc chồng lập là có cơ sở pháp lý. Tuy nhiên, cũng có quan điểm cho rằng, pháp luật về hôn nhân và gia đình xác định tài sản chung của vợ chồng chỉ có thể chuyển đổi thành tài sản riêng bằng con đường vợ chồng cùng lập văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân[6], tức là phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng; việc một người vợ hoặc chồng tự lập văn bản để xác nhận tài sản chung là tài sản riêng của người còn lại khi chưa được sự đồng ý của người đó là không phù hợp.

Đối với việc chứng thực chữ ký của người lập văn bản xác nhận tài sản riêng, Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch (Nghị định số 23/2015/NĐ-CP) quy định, người lập văn bản chịu trách nhiệm về nội dung và công chứng viên chỉ chịu trách nhiệm về tính xác thực đối với chữ ký của người lập văn bản (Điều 23). Nghị định số 23/2015/NĐ-CP cũng có quy định những trường hợp không được chứng thực chữ ký, trong đó có trường hợp “Giấy tờ, văn bản có nội dung là hợp đồng, giao dịch” (Điều 25). Tuy nhiên, đối chiếu với trường hợp này, người lập văn bản xác nhận tài sản riêng, bằng hành vi pháp lý đơn phương của mình đã thể hiện hành vi từ bỏ quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản mà pháp luật quy định là tài sản chung nên không phải là một “hợp đồng, giao dịch”, nên quy định này của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP không thể được áp dụng, do đó, việc chứng thực chữ ký là đúng pháp luật. Hơn nữa, nội hàm ý nghĩa của quy định chứng thực chữ ký là nhằm xác định tính xác thực về chữ ký của người lập văn bản nên việc chứng thực chữ ký văn bản xác nhận tài sản riêng là một hình thức xác thực sự tự nguyện, sự bày tỏ ý chí và hành vi cụ thể của người lập văn bản nhằm từ bỏ quyền sở hữu tài sản của mình trong khối tài sản chung theo quy định tại Điều 239 Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, việc chứng thực chữ ký hoàn toàn có cơ sở pháp lý.

Với những phân tích nêu trên cho thấy, hiện nay, việc công chứng viên thực hiện công chứng hay chứng thực chữ ký đối với văn bản xác nhận tài sản riêng do một người lập đều có cơ sở pháp lý. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là, hình thức chứng nhận nào là phù hợp pháp luật nhất và an toàn nhất cho cả phía người yêu cầu công chứng và phía công chứng viên? Có thể nhận thấy ưu điểm đầu tiên của hai hình thức chứng nhận này là chỉ cần một người chồng hoặc vợ thực hiện, nên linh hoạt hơn so với việc phải thực hiện bởi cả hai vợ chồng. Về bản chất của văn bản xác nhận tài sản riêng là một người vợ hoặc chồng tuyên bố tài sản chung cụ thể nào đó là tài sản riêng của người chồng hoặc vợ còn lại, người còn lại này được toàn quyền sở hữu, sử dụng tài sản đó. Cả văn bản công chứng hay chứng thực đều có giá trị pháp lý và được pháp luật bảo vệ cho người yêu cầu công chứng. Khi người chồng hoặc vợ còn lại đó sử dụng văn bản xác nhận tài sản riêng để một mình giao kết, thực hiện các hợp đồng, giao dịch thì đồng nghĩa với việc họ đã đồng ý với nội dung văn bản xác nhận tài sản riêng.

Đối với công chứng viên khi công chứng văn bản xác nhận tài sản riêng, đây là hình thức công chứng một hành vi pháp lý đơn phương, phù hợp quy định pháp luật. Tuy nhiên, công chứng viên phải chịu trách nhiệm về tính hợp pháp, xác thực của văn bản và văn bản được công chứng phải được lưu trữ 20 năm[7] nên đảm bảo tính pháp lý nhưng làm gia tăng khả năng rủi ro cho công chứng viên. Đối với công chứng viên chứng thực chữ ký của người lập văn bản, đây là một hình thức xác thực chữ ký của người lập văn bản với nội dung là từ bỏ quyền sở hữu, sử dụng tài sản chung để xác định tài sản nào đó chỉ là tài sản riêng của người chồng/vợ còn lại. Việc chứng thực này là phù hợp với quy định pháp luật, văn bản được chứng thực chỉ phải lưu trữ trong 02 năm[8] và người lập văn bản tự chịu trách nhiệm về nội dung của văn bản nên giảm thiểu rất nhiều rủi ro cho công chứng viên.

Như vậy, cùng là một văn bản xác nhận tài sản riêng do vợ hoặc chồng lập, nhưng nếu công chứng viên thực hiện việc công chứng sẽ làm gia tăng trách nhiệm và rủi ro, còn nếu chỉ thực hiện chứng thực chữ ký sẽ giảm tải rất nhiều áp lực từ lưu trữ, đến khả năng chịu trách nhiệm và rủi ro cho công chứng viên. Thực trạng này dẫn đến hiện tượng là hiện nay có rất nhiều công chứng viên lựa chọn giải pháp chứng thực chữ ký văn bản xác nhận tài sản riêng do một người lập để bảo vệ cho chính mình trong hoạt động hành nghề.

Văn bản xác nhận tài sản riêng do một người lập là một hành vi pháp lý đơn phương, không phải là một “hợp đồng, giao dịch” nên không thuộc trường hợp không được chứng thực chữ ký theo Nghị định số 23/2015/NĐ-CP. Do đó, hiện nay, việc chứng thực chữ ký vẫn được áp dụng bên cạnh việc công chứng theo pháp luật công chứng. Tuy nhiên, thực trạng hiện nay mỗi nơi áp dụng khác nhau, mỗi công chứng viên thực hiện khác nhau cho cả hai hình thức công chứng hoặc chứng thực. Thiết nghĩ, nên sớm có văn bản hướng dẫn lựa chọn hình thức thống nhất là công chứng hay chứng thực đối với văn bản xác nhận tài sản riêng do một người lập. Chỉ khi có sự hướng dẫn mới có cơ sở để thống nhất áp dụng, tránh tình trạng áp dụng khác nhau tùy theo lập luận, quan điểm cá nhân.

ThS. Nguyễn Huy Cường

Văn phòng Công chứng Nguyễn Huy Cường, tỉnh Trà Vinh



[1]. Khoản 1 Điều 40 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì phần tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác…”.

[2]. Khoản 1, khoản 3 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3]. Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4]. Khoản 1 Điều 2 Luật Công chứng năm 2014.

[5]. Điều 23 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch.

[6]. Điều 38 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[7]. Khoản 2 Điều 64 Luật Công chứng năm 2014.

[8]. Khoản 2 Điều 14 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.

Theo dõi chúng tôi trên: