Chủ nhật 25/10/2026 15:50
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực tiễn công chứng văn bản xác nhận tài sản riêng của vợ, chồng

Trong bài viết này, tác giả phân tích thực trạng công chứng văn bản xác nhận tài sản riêng của vợ, chồng, đồng thời đề xuất giải pháp nhằm áp dụng thống nhất cách giải quyết trong hoạt động công chứng về vấn đề này.


Quan hệ vợ chồng được xác lập và được pháp luật bảo vệ khi các bên đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Vợ chồng có thể lựa chọn chế độ tài sản cho mình theo một trong hai hình thức là chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận hoặc theo luật định. Nếu chọn chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn và phải được công chứng hoặc chứng thực. Khi vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì chế độ này có hiệu lực kể từ ngày đăng ký kết hôn. Nếu vợ chồng không lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì chế độ tài sản vợ chồng được mặc nhiên áp dụng theo quy định luật định.

Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014[1]; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung[2]. Việc định đoạt tài sản chung phải được sự đồng ý của cả hai vợ chồng[3]. Trong đời sống xã hội, vì những nguyên nhân khác nhau mà vợ chồng có thể phân chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung theo hình thức lập văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; hoặc để thuận tiện trong việc xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự thì vợ, chồng có thể ủy quyền cho nhau. Thực tiễn hiện nay đã và đang xuất hiện một hình thức khác là vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng lập văn bản xác nhận tài sản giao dịch là tài sản riêng của chồng hoặc vợ, do đó, người chồng hoặc vợ này có thể tự mình xác lập các giao dịch dân sự.

Đối với hình thức công chứng văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, pháp luật về công chứng và hôn nhân và gia đình đã có những quy định rất cụ thể. Theo đó, vợ chồng có quyền thỏa thuận phân chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung để chuyển dịch trở thành tài sản riêng và thuộc quyền sở hữu của vợ hoặc chồng. Sau khi hoàn tất việc công chứng thì thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân sẽ có hiệu lực pháp luật, những tài sản được phân chia sẽ trở thành tài sản riêng của vợ hoặc chồng. Đối với tài sản bắt buộc phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì người được phân chia phải làm thủ tục đăng ký để được cấp quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản được phân chia.

Đối với việc vợ, chồng ủy quyền cho nhau để xác lập giao dịch dân sự đã được quy định cụ thể trong Bộ luật Dân sự. Theo đó, người được ủy quyền sẽ đại diện cho người còn lại để xác lập, thực hiện các hợp đồng, giao dịch nhưng không làm thay đổi bản chất quyền sở hữu, sử dụng tài sản. Tài sản vẫn là tài sản chung của vợ chồng, nhưng chỉ do một người đại diện xác lập bởi người còn lại đã ủy quyền cho chồng/vợ của mình.

Đối với việc công chứng văn bản xác nhận tài sản riêng của vợ/chồng, đây là một hình thức phát sinh từ thực tiễn áp dụng trong đời sống xã hội mà không được quy định cụ thể trong Luật Hôn nhân và gia đình. Theo hình thức này, cả hai vợ chồng hoặc chỉ có người vợ hoặc chồng lập văn bản để xác nhận tài sản cụ thể nào đó là tài sản riêng của người còn lại và người này có toàn quyền của người sở hữu, sử dụng đối với tài sản được xác nhận. Việc công chứng văn bản xác nhận tài sản riêng này hiện nay được thực hiện dưới hai hình thức:

Thứ nhất, cả hai vợ chồng cùng lập văn bản xác nhận tài sản riêng

Theo đó, cả hai vợ chồng sẽ xác nhận tài sản cụ thể nào đó là tài sản riêng của vợ hoặc chồng, do người vợ hoặc chồng này tự tạo lập hoặc dùng tài sản riêng để mua, người còn lại không có công sức đóng góp hình thành tài sản nên người vợ hoặc chồng này được toàn quyền định đoạt đối với tài sản riêng đó. Đối với hình thức xác nhận tài sản riêng này, về bản chất, sẽ làm chuyển dịch tài sản được xác định là tài sản chung của vợ chồng (bởi được hình thành trong thời kỳ hôn nhân và không có cơ sở để chứng minh là tài sản riêng) thành tài sản riêng của vợ hoặc chồng. Tuy nhiên, hình thức này chỉ có thể áp dụng đối với trường hợp xác nhận là tài sản riêng cho người chồng hoặc người vợ đứng tên sở hữu, sử dụng tài sản. Nếu muốn người vợ hoặc chồng còn lại có thể nhận các tài sản này là tài sản riêng thì vợ chồng phải thực hiện theo thủ thục phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Việc công chứng văn bản xác nhận tài sản riêng do vợ chồng cùng lập này phải được thực hiện theo hình thức công chứng đối với hợp đồng, giao dịch, bởi vì nội dung văn bản là các bên cùng nhau thỏa thuận, phân chia và chuyển dịch tài sản chung thành tài sản riêng nên không thể thực hiện theo thủ tục chứng thực chữ ký.

Thứ hai, chỉ có người vợ hoặc chồng lập văn bản xác nhận tài sản riêng cho người còn lại

Theo hình thức này, chỉ có người vợ hoặc người chồng lập văn bản để xác nhận tài sản nào đó là tài sản riêng của người chồng hoặc vợ còn lại và người còn lại này không thể hiện việc đồng ý, chấp thuận trên văn bản xác nhận. Trường hợp này sẽ phát sinh những quan hệ pháp luật khác nhau cần phải được xác định rõ để áp dụng trong hoạt động công chứng. Thực tế, có công chứng viên thực hiện công chứng văn bản xác nhận tài sản riêng do người vợ hoặc chồng lập, nhưng cũng có công chứng viên chỉ chứng thực chữ ký của người lập văn bản. Việc công chứng văn bản xác nhận tài sản riêng hoặc chứng thực chữ ký của người lập văn bản sẽ dẫn đến những hệ quả pháp lý khác nhau đối với văn bản được lập. Cụ thể, nếu văn bản được công chứng theo quy định pháp luật thì nội dung văn bản được công chứng viên xác định là hợp pháp, không trái quy định pháp luật và công chứng viên chịu trách nhiệm đối với việc công chứng văn bản này[4]; còn nếu văn bản được chứng thực chữ ký của người lập thì người lập văn bản chịu trách nhiệm về nội dung văn bản và công chứng viên chỉ chịu trách nhiệm về tính xác thực đối với chữ ký của người lập văn bản[5].

Đối chiếu với các quy định pháp luật hiện hành, việc công chứng hay chứng thực chữ ký đối với văn bản xác nhận tài sản riêng của vợ, chồng được các công chứng viên lập luận dựa trên những góc độ khác nhau để thực hiện.

Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định: “Chủ sở hữu có thể tự chấm dứt quyền sở hữu đối với tài sản của mình bằng cách tuyên bố công khai hoặc thực hiện hành vi chứng tỏ việc mình từ bỏ quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản đó” (Điều 239). Với việc lập văn bản xác nhận tài sản chung là tài sản riêng của người chồng hoặc vợ còn lại, người lập văn bản đã dùng hành vi cụ thể của mình để chứng minh việc từ bỏ quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản. Do đó, việc công chứng viên công chứng văn bản xác nhận tài sản riêng do một người vợ hoặc chồng lập là có cơ sở pháp lý. Tuy nhiên, cũng có quan điểm cho rằng, pháp luật về hôn nhân và gia đình xác định tài sản chung của vợ chồng chỉ có thể chuyển đổi thành tài sản riêng bằng con đường vợ chồng cùng lập văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân[6], tức là phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng; việc một người vợ hoặc chồng tự lập văn bản để xác nhận tài sản chung là tài sản riêng của người còn lại khi chưa được sự đồng ý của người đó là không phù hợp.

Đối với việc chứng thực chữ ký của người lập văn bản xác nhận tài sản riêng, Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch (Nghị định số 23/2015/NĐ-CP) quy định, người lập văn bản chịu trách nhiệm về nội dung và công chứng viên chỉ chịu trách nhiệm về tính xác thực đối với chữ ký của người lập văn bản (Điều 23). Nghị định số 23/2015/NĐ-CP cũng có quy định những trường hợp không được chứng thực chữ ký, trong đó có trường hợp “Giấy tờ, văn bản có nội dung là hợp đồng, giao dịch” (Điều 25). Tuy nhiên, đối chiếu với trường hợp này, người lập văn bản xác nhận tài sản riêng, bằng hành vi pháp lý đơn phương của mình đã thể hiện hành vi từ bỏ quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản mà pháp luật quy định là tài sản chung nên không phải là một “hợp đồng, giao dịch”, nên quy định này của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP không thể được áp dụng, do đó, việc chứng thực chữ ký là đúng pháp luật. Hơn nữa, nội hàm ý nghĩa của quy định chứng thực chữ ký là nhằm xác định tính xác thực về chữ ký của người lập văn bản nên việc chứng thực chữ ký văn bản xác nhận tài sản riêng là một hình thức xác thực sự tự nguyện, sự bày tỏ ý chí và hành vi cụ thể của người lập văn bản nhằm từ bỏ quyền sở hữu tài sản của mình trong khối tài sản chung theo quy định tại Điều 239 Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, việc chứng thực chữ ký hoàn toàn có cơ sở pháp lý.

Với những phân tích nêu trên cho thấy, hiện nay, việc công chứng viên thực hiện công chứng hay chứng thực chữ ký đối với văn bản xác nhận tài sản riêng do một người lập đều có cơ sở pháp lý. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là, hình thức chứng nhận nào là phù hợp pháp luật nhất và an toàn nhất cho cả phía người yêu cầu công chứng và phía công chứng viên? Có thể nhận thấy ưu điểm đầu tiên của hai hình thức chứng nhận này là chỉ cần một người chồng hoặc vợ thực hiện, nên linh hoạt hơn so với việc phải thực hiện bởi cả hai vợ chồng. Về bản chất của văn bản xác nhận tài sản riêng là một người vợ hoặc chồng tuyên bố tài sản chung cụ thể nào đó là tài sản riêng của người chồng hoặc vợ còn lại, người còn lại này được toàn quyền sở hữu, sử dụng tài sản đó. Cả văn bản công chứng hay chứng thực đều có giá trị pháp lý và được pháp luật bảo vệ cho người yêu cầu công chứng. Khi người chồng hoặc vợ còn lại đó sử dụng văn bản xác nhận tài sản riêng để một mình giao kết, thực hiện các hợp đồng, giao dịch thì đồng nghĩa với việc họ đã đồng ý với nội dung văn bản xác nhận tài sản riêng.

Đối với công chứng viên khi công chứng văn bản xác nhận tài sản riêng, đây là hình thức công chứng một hành vi pháp lý đơn phương, phù hợp quy định pháp luật. Tuy nhiên, công chứng viên phải chịu trách nhiệm về tính hợp pháp, xác thực của văn bản và văn bản được công chứng phải được lưu trữ 20 năm[7] nên đảm bảo tính pháp lý nhưng làm gia tăng khả năng rủi ro cho công chứng viên. Đối với công chứng viên chứng thực chữ ký của người lập văn bản, đây là một hình thức xác thực chữ ký của người lập văn bản với nội dung là từ bỏ quyền sở hữu, sử dụng tài sản chung để xác định tài sản nào đó chỉ là tài sản riêng của người chồng/vợ còn lại. Việc chứng thực này là phù hợp với quy định pháp luật, văn bản được chứng thực chỉ phải lưu trữ trong 02 năm[8] và người lập văn bản tự chịu trách nhiệm về nội dung của văn bản nên giảm thiểu rất nhiều rủi ro cho công chứng viên.

Như vậy, cùng là một văn bản xác nhận tài sản riêng do vợ hoặc chồng lập, nhưng nếu công chứng viên thực hiện việc công chứng sẽ làm gia tăng trách nhiệm và rủi ro, còn nếu chỉ thực hiện chứng thực chữ ký sẽ giảm tải rất nhiều áp lực từ lưu trữ, đến khả năng chịu trách nhiệm và rủi ro cho công chứng viên. Thực trạng này dẫn đến hiện tượng là hiện nay có rất nhiều công chứng viên lựa chọn giải pháp chứng thực chữ ký văn bản xác nhận tài sản riêng do một người lập để bảo vệ cho chính mình trong hoạt động hành nghề.

Văn bản xác nhận tài sản riêng do một người lập là một hành vi pháp lý đơn phương, không phải là một “hợp đồng, giao dịch” nên không thuộc trường hợp không được chứng thực chữ ký theo Nghị định số 23/2015/NĐ-CP. Do đó, hiện nay, việc chứng thực chữ ký vẫn được áp dụng bên cạnh việc công chứng theo pháp luật công chứng. Tuy nhiên, thực trạng hiện nay mỗi nơi áp dụng khác nhau, mỗi công chứng viên thực hiện khác nhau cho cả hai hình thức công chứng hoặc chứng thực. Thiết nghĩ, nên sớm có văn bản hướng dẫn lựa chọn hình thức thống nhất là công chứng hay chứng thực đối với văn bản xác nhận tài sản riêng do một người lập. Chỉ khi có sự hướng dẫn mới có cơ sở để thống nhất áp dụng, tránh tình trạng áp dụng khác nhau tùy theo lập luận, quan điểm cá nhân.

ThS. Nguyễn Huy Cường

Văn phòng Công chứng Nguyễn Huy Cường, tỉnh Trà Vinh



[1]. Khoản 1 Điều 40 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì phần tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác…”.

[2]. Khoản 1, khoản 3 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3]. Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4]. Khoản 1 Điều 2 Luật Công chứng năm 2014.

[5]. Điều 23 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch.

[6]. Điều 38 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[7]. Khoản 2 Điều 64 Luật Công chứng năm 2014.

[8]. Khoản 2 Điều 14 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: