Thứ bảy 15/08/2026 14:11
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực tiễn công tác thi hành án treo ở thành phố Cần thơ và những kiến nghị

Tóm tắt: Án treo luôn khẳng định được tính ưu việt sự kết hợp hài hoà giữa phương châm trừng trị với khoan hồng trong hệ thống pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Đồng thời, thể hiện sự tham gia của cộng đồng vào việc giám sát, giáo dục, cải tạo người phạm tội, để họ hoàn lương trở thành người có ích cho xã hội. Bài viết này, các tác giả tập trung bàn luận và trao đổi về thực tiễn thi hành án treo của lực lượng thi hành án hình hình sự và hỗ trợ tư pháp Công an thành phố Cần Thơ, từ đó đưa những kiến nghị, giải pháp khắc phục những khó khăn trong việc áp dụng chế định này.


Abstract: Suspended sentence always asserts prevalence of balanced combination between punishment and tolerance in the Vietnamese legal system. It also shows the participation of the community in the supervision, education, re-education of the convicted so that they can mend their ways and become useful people in the society. This paper concentrates on discussing the practice of suspended sentence execution of criminal judgment execution and justice support police in the Can Tho City and from there, proposes some recommendations to overcome difficulties in the application of this institution.

Án treo là một chế định pháp lý hình sự ra đời từ rất sớm cùng với sự phát triển của Luật Hình sự Việt Nam. Đây là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được áp dụng đối với người bị phạt không quá 03 năm tù, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và xét thấy không cần bắt họ phải chấp hành án phạt tù. Từ khi áp dụng và thi hành hình phạt này cho đến nay, án treo luôn khẳng định được tính ưu việt và biểu hiện rõ nét sự kết hợp hài hòa giữa phương châm trừng trị với khoan hồng trong hệ thống pháp luật của Nhà nước, đồng thời thể hiện sự tham gia của cộng đồng vào việc giám sát, giáo dục, cải tạo người phạm tội, để họ hoàn lương trở thành người có ích cho xã hội.

Tổ chức và thi hành hình phạt án treo được quy định từ Điều 61 đến Điều 70 Luật Thi hành án hình sự năm 2010. Đây là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật giám sát, giáo dục người bị phạt tù nhưng cho hưởng án treo tại địa phương. Theo thống kê, hiện nay, toàn thành phố có 292 đối tượng đang chấp hành án treo, chiếm tỉ lệ 97,5% trong tổng số 302 đối tượng đang chấp hành các án phạt khác tại xã, phường, thị trấn như: Cải tạo không giam giữ (04 đối tượng), quản chế (01 đối tượng), biện pháp bắt buộc chữa bệnh (05 đối tượng), cải tạo không giam giữ (04 đối tượng)[1].

Xuất phát từ tầm quan trọng của công tác thi hành án và đặc điểm của các loại án phạt được chấp hành tại địa phương. Công an thành phố Cần Thơ đã xây dựng nhiều chương trình kế hoạch tổ chức triển khai, thực hiện có hiệu quả như: Kế hoạch triển khai thực hiện Luật Thi hành án hình sự trong đó đặc biệt chú ý đối tượng đang chấp hành án treo, tham mưu Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố ban hành Chỉ thị số 05/2012/CT-UBND ngày 13/8/2012 về nâng cao hiệu quả công tác thi hành án hình sự, xây dựng mô hình “Cộng đồng giúp đỡ người chấp hành án tại địa phương”. Phối hợp với các cơ quan tiến hành tố tụng Viện kiểm sát, Tòa án thực hiện công tác điều tra, khảo sát tình hình người đang chấp hành án tại địa phương, tổ chức nhiều đoàn kiểm tra thực tế công tác thi hành án hình sự và tái hòa nhập cộng đồng tại công an 09 quận, huyện và 27 UBND xã, phường, thị trấn để kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong công tác quản lý, giám sát, giáo dục, nhận xét đối tượng đang chấp hành án treo. Qua đó, đã nâng cao nhận thức cho lực lượng công an và chính quyền địa phương tại cơ sở trong công tác thi hành án, đồng thời tạo bước chuyển tốt trong tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, giáo dục kỹ năng sống, tư vấn, trợ giúp về tâm lý, định hướng nghề nghiệp, dạy nghề… nhằm giúp cho các đối tượng đang chấp hành án treo có kiến thức pháp luật, định hướng đúng đắn về tương lai, tạo điều kiện ổn định cuộc sống, nhanh chóng tái hòa nhập cộng đồng khi đã chấp hành án xong.

Nhìn chung, sau khi được triển khai và thực hiện, công tác thi hành án hình sự đối với loại án treo luôn được lực lượng công an và UBND các cấp chú trọng, đặc biệt quan tâm, tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định và đã đạt được một số kết quả nhất định góp phần bảo vệ pháp luật, giữ gìn trật tự an toàn xã hội tại địa phương, tạo được niềm tin vững chắc của quần chúng nhân dân vào đường lối, chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước. Tuy nhiên, trong thực tiễn thi hành án treo còn rất nhiều khó khăn, bất cập giữa quy định của pháp luật và thực tiễn, ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả công tác thi hành án như:

Thứ nhất, xác định thời điểm bắt đầu tính thời hạn của án treo

Khi quyết định cho người bị kết án được hưởng án treo, Tòa án phải tuyên thời gian thử thách đối với người phạm tội. Đây là khoảng thời gian để người phạm tội tự giác cải tạo trở thành người tốt cho xã hội. Tuy nhiên, thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách có 02 hướng khác nhau:

(i) Thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án đầu tiên cho hưởng án treo[2]. Theo đó, nếu Tòa án cấp sơ thẩm cho người bị kết án hưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; còn nếu Tòa án sơ thẩm không cho hưởng án treo nhưng Tòa án Phúc thẩm cho hưởng án treo thì thì tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

(ii) Thời gian thử thách của án treo được tính từ ngày cơ quan, tổ chức giám sát giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án[3]. Theo đó, khoản 5 Điều 5 Nghị định số 61/2000/NĐ-CP ngày 30/10/2000 của Chính phủ quy định hình phạt tù cho hưởng án treo quy định “người được hưởng án treo là cán bộ, công chức, quân nhân, công nhân quốc phòng, người lao động làm công ăn lương… thời gian thử thách được tính từ ngày cơ quan, tổ chức giám sát giáo dục người đó nhận được quyết định thi hành bản án và trích lục bản án”. Mục 3 Công văn số 81/2002/TANDTC ngày 10/6/2002 của Tòa án nhân dân tối cao về việc giải đáp các vấn đề nghiệp vụ lại tiếp tục khẳng định nội dung trên.

Tuy nhiên, theo quy định khoản 1 Điều 62 Luật Thi hành án hình sự năm 2010 về thi hành án treo lại quy định: “Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có nhiệm vụ triệu tập người được hưởng án treo, người đại diện hợp pháp của người được hưởng án treo là người chưa thành niên đến trụ sở cơ quan thi hành án để ấn định thời gian người được hưởng án treo phải có mặt tại UBND cấp xã nơi người đó cư trú, đơn vị quân đội nơi người đó làm việc và cam kết việc chấp hành án, lập hồ sơ thi hành án” và khoản 2 Điều 62 cũng quy định: “Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày triệu tập người được hưởng án treo, người đại diện hợp pháp của người được hưởng án treo thì cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải giao hồ sơ thi hành án cho UBND cấp xã, đơn vị quân đội được giao nhiệm vụ giám sát, giáo dục người được hưởng án treo”. Như vậy, thời hạn để tính án treo là khi nào đã dẫn đến UBND cấp xã và các đơn vị chức năng lúng túng trong quá trình xác định thời hạn của hình phạt này.

Thứ hai, về thi hành quyết định thi hành án treo

Điều 62 Luật Thi hành án hình sự năm 2010 quy định: “Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện có nhiệm vụ triệu tập người được hưởng án treo, người đại diện hợp pháp của người được hưởng án treo là người chưa thành niên đến trụ sở cơ quan thi hành án để ấn định thời gian người được hưởng án treo phải có mặt tại UBND cấp xã nơi người đó cư trú và cam kết việc chấp hành án, lập hồ sơ thi hành án”. Trong thực tiễn, việc áp dụng điều luật này gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc mà nguyên nhân là đối tượng chấp hành án đã không có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan thi hành án cấp huyện để ấn định thời gian có mặt tại UBND cấp xã và cam kết chấp hành án. Tiến hành xác minh tại địa phương thì đối tượng đã bỏ nhà đi, gia đình, địa phương không biết đi đâu, làm gì? Do đó, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện không ấn định được thời gian người phải chấp hành án treo đến UBND cam kết việc thi hành án và đương nhiên hồ sơ thi hành án treo không được bàn giao cho UBND cấp xã để tổ chức thực hiện. Dưới đây là một trong rất nhiều trường hợp xảy ra trong thực tế, chúng tôi xin được nêu lên để minh chứng:

Ông Trần Hải H ở xã G, huyện P bị Tòa án nhân dân xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999. Do bản án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị nên ngày 12/7/2016, Chánh án Tòa án nhân dân huyện ra Quyết định thi hành án. Ngày 19/8/2016, Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện P triệu tập bị án H để làm thủ tục thi hành án nhưng H không đến. Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện P xác minh thì được biết H theo anh ruột đi lên tỉnh Đ làm thuê (gia đình không rõ địa chỉ ở đâu). Chính vì không có mặt ở địa phương, nên H không đến để làm việc theo giấy triệu tập. Vì vậy, Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện P không ấn định được thời gian người phải thi hành án treo đến UBND xã, cam kết việc chấp hành án và đương nhiên hồ sơ thi hành án treo của H không được bàn giao cho UBND xã để tổ chức thi hành.

Thứ ba, công tác quản lý đối tượng thi hành án treo

Công tác kiểm tra, giám sát thi hành án treo tại UBND cấp xã còn lỏng lẻo có trường hợp đối tượng thi hành án treo bỏ trốn khỏi địa phương hoặc được triệu tập nhưng không đến để làm việc đã gây khó khăn cho công tác quản lý, giám sát, giáo dục người thi hành án treo tại địa phương. Cho đến nay, luật chưa quy định chế tài nghiêm khắc trong các trường hợp nêu trên, thường chỉ là kiểm điểm, nặng hơn thì phạt hành chính. Nhưng dù có xử phạt thì họ cũng không chấp hành khiến các địa phương đều “ngại” tiếp nhận giáo dục người bị án treo. Do đó dẫn đến tình trạng không thể quản lý, giám sát giáo dục người đang chấp hành án treo và người đang bị án treo vẫn “nhởn nhơ” ngoài xã hội, gây ra một hệ lụy lớn đối với các cơ quan tiến hành tố tụng như: Không xác định người đó đã thi hành án xong hay chưa, có phạm tội trong thời gian thử thách hay chỉ là tái phạm, tái phạm nguy hiểm, ngoài ra còn liên quan đến vấn đề tổng hợp hình phạt của Tòa án nếu họ thực hiện hành vi phạm tội mới...

Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 63 Luật Thi hành án hình sự năm 2010 thì: “Giải quyết cho người được hưởng án treo được vắng mặt ở nơi cư trú theo quy định của Luật này và pháp luật về cư trú”. Đối với nhiều bị án có hoàn cảnh gia đình rất khó khăn nên để giúp đỡ gia đình, cải thiện cuộc sống họ phải đi làm thuê ở nơi khác, thậm chí rất xa. Vì vậy, trong thời gian chấp hành án họ không có mặt ở địa phương, nên nhiều nghĩa vụ của người chấp hành án không được thực hiện như: Không có bản tự nhận xét của cá nhân họ (03 tháng 01 lần) để lưu vào hồ sơ; họ không thể có mặt khi UBND cấp xã yêu cầu... Trên thực tế, việc quản lý, giám sát, giáo dục của UBND cấp xã đối với những trường hợp này chỉ trên giấy tờ, ngay cả trường hợp Luật Thi hành án hình sự có quy định nếu người được hưởng án treo đi khỏi nơi cư trú từ 03 tháng đến 06 tháng, thì phải có nhận xét của công an cấp xã nơi người đó đến lưu trú hoặc tạm trú để trình với UBND cấp xã được giao giám sát, giáo dục người đó cũng không thể thực hiện được. Bởi vì, có những trường hợp địa điểm mà các bị án đi làm thuê không cố định, thường xuyên di chuyển... vì thế nên lưu trú không rõ ràng nên việc thực hiện quy định trên là rất khó.

Công tác quản lý, giáo dục người chấp hành án tại địa phương của UBND cấp xã chưa thực hiện nghiêm túc còn giao phó cho lực lượng công an, một số nơi thì buông lỏng do thiếu cán bộ hoặc cán bộ chưa qua đào tạo chuyên sâu nên việc thực hiện chưa đồng bộ; mặt khác, chế độ thông tin báo cáo thực hiện chưa được thường xuyên, nhân sự quản lý giáo dục tại địa phương thường xuyên thay đổi nên hiệu quả đạt được chưa cao. Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền pháp luật của một số đơn vị chức năng đến quần chúng nhân dân còn nhiều hạn chế; sự phối hợp giữa các đơn vị không liên tục, ít trao đổi thông tin trong việc quản lý, giáo dục người chấp hành án treo tại địa phương.

Thứ tư, nhận thức của người chấp hành án

Do nhận thức pháp luật còn kém, nhiều đối tượng được hưởng án treo cho rằng án treo thì cũng như không có án vì họ không bị quản chế nghiêm khắc như án tù giam. Một số khác hầu như không quan tâm đến việc xét duyệt và trả tự do cho chính bản thân họ. Nguyên nhân xuất phát từ ý thức chủ quan của người chấp hành án, ngại khơi lại chuyện cũ khi phải đưa ra lấy ý kiến bình xét của tổ dân cư và ban ấp hoặc do họ bị mặc cảm, tự ti trước những định kiến xã hội. Vì vậy, nhiều đối tượng đã để mất quyền công dân đầy đủ của mình do không đến cơ quan chức năng làm thủ tục chấp hành án xong hoặc xóa án tích khi hết thời gian thử thách.

Để kịp thời khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn thi hành án treo của lực lượng cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp, chúng tôi có một số kiến nghị và đề xuất sau:

Thứ nhất, thời điểm bắt đầu tính án treo. Cần thống nhất cách tính thời hạn án treo kể từ thời điểm UBND xã nhận bàn giao hồ sơ thi hành án hình sự là phù hợp với thực tiễn và quy định tại Mục 3 Chương V Luật Thi hành án hình sự năm 2010, vì đó chính là thời điểm phát sinh trách nhiệm thi hành của cơ quan có thẩm quyền thi hành, đồng thời bảo đảm thực hiện nghĩa vụ chấp hành cũng như không mất đi các quyền luật định khác đối với bị án. Nếu bị án không có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan thi hành án hình sự thì đương nhiên hồ sơ không thể chuyển cho UBND cấp xã, thời gian chấp hành án chưa được tính. Việc này sẽ khắc phục được bất cập trong trường hợp sau xét xử, bị án bỏ địa phương đi nơi khác làm ăn dẫn đến không thi hành được bản án trên thực tế.

Thứ hai, chế tài đối với người không chấp hành án treo. Luật Thi hành án hình sự cần quy định thêm thẩm quyền của cơ quan thi hành án hình sự cấp huyện được ra lệnh áp giải thi hành án đối với những đối tượng chấp hành án treo cố tình trốn tránh hoặc bỏ đi khỏi địa phương không có lý do chính đáng; bổ sung quyền xử phạt vi phạm hành chính cho cơ quan thi hành án cấp huyện và công an cấp xã khi những người này cố tình trốn tránh không chấp hành theo giấy triệu tập. Trường hợp đã xử lý vi phạm hành chính về hành vi này mà còn tái phạm hoặc người chấp hành án treo cố ý vi phạm các nghĩa vụ được quy định tại Điều 64 Luật Thi hành án hình sự năm 2010 thì “chuyển hình phạt án treo thành hình phạt tù giam có thời hạn” để đảm bảo tính răn đe, nghiêm minh của pháp luật.

Có văn bản hướng dẫn các cơ quan chức năng trong việc khi tổ chức giám sát, giáo dục, xác nhận lưu trú về ý thức chấp hành của người đang chấp hành án treo trong các trường hợp người chấp hành án treo (thu nhập chính của gia đình) phải đi làm ăn xa. Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người chấp hành án, khi nơi họ đang sinh sống (thường trú hoặc tạm trú) có gắn liền với việc làm hàng ngày và thuận tiện hơn cho chính quyền địa phương khi quản lý.

Thứ ba, cơ quan thi hành án hình sự cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, cơ quan thi hành án hình sự cấp huyện thường xuyên theo dõi, kiểm tra, giám sát việc thực hiện thi hành án kết hợp quản lý, giáo dục, cảm hóa, giúp đỡ số đối tượng đang chấp hành án tại địa phương. Định kỳ thống kê, rà soát, phân loại để có biện pháp phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm đối với các đối tượng có hành vi tiếp tục phạm tội hoặc vi phạm pháp luật khác.

Thứ tư, các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương cần nhận thức rõ và có sự quan tâm đúng mức đến công tác tổ chức và thi hành án treo và các án phạt không phải giam giữ như: Án phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ, cấm đi khỏi nơi cư trú, quản chế song song với tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ trực tiếp quản lý, giám sát, giáo dục đối tượng chấp hành và cho chính bản thân đối tượng đang chấp hành án tại địa phương.

Thứ năm, đối với các đối tượng do nhận thức pháp luật còn kém, mặt cảm với xã hội vì đã vi phạm pháp luật dẫn đến phải trốn đi xa khỏi địa phương nhưng có ý định muốn hoàn lương và trở thành người có ích cho xã hội thì chính quyền địa phương phối hợp với cơ quan thi hành án hình sự cấp huyện xác minh làm rõ, động viên, khuyến khích họ trở về địa phương chấp hành án, song song với tạo việc làm, ổn định cuộc sống cho số đối tượng này, nhanh chóng giúp đỡ họ tái hòa nhập cộng đồng tránh sự phân biệt đối xử và kỳ thị theo ý thức chủ quan.

Mặt khác, các đối tượng có biểu hiện bất mãn, chống đối không chấp hành án tại địa phương cần phải phối hợp với các cơ quan chức năng để có các biện pháp mạnh nhằm răng đe và giáo dục làm gương cho những đối tượng khác đang chấp hành án tại địa phương, bảo đảm việc thi hành án đúng quy định pháp luật.

Thứ sáu, Bộ Công an phối hợp với các cơ quan có liên quan ban hành những văn bản quy phạm pháp luật có hướng dẫn cụ thể các biện pháp chế tài xử lý đối với các đối tượng cố tình chống đối, không có mặt theo giấy triệu tập, bỏ trốn khỏi địa phương mà không khai báo… Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng luật và thi hành luật của các cơ quan chức năng, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật “mọi hành vi vi phạm đều phải được phát hiện và xử lý nghiêm”.

Thứ bảy, tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức nghiệp vụ cho cán bộ trực tiếp làm công tác thi hành án treo, án phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ, án phạt cấm cư trú, quản chế cho công an các đơn vị, địa phương và cán bộ tại UBND xã, phường, thị trấn được giao nhiệm vụ giám sát, giáo dục đối tượng chấp hành án.

Các cơ quan chức năng trong chức năng nhiệm vụ quyền hạn của mình cần tuân thủ theo các quy định của pháp luật thi hành án hình sự, xác định rõ phạm vi, trách nhiệm của từng cơ quan, ban ngành, đoàn thể trong việc quản lý, giám sát, giáo dục đối tượng đang chấp hành án để kịp thời nâng cao hiệu quả công tác thi hành án.

Thứ tám, thực hiện nghiêm Nghị định số 80/2011/NĐ-CP ngày 16/9/2011 của Chính phủ quy định các biện pháp bảo đảm tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt về địa phương sinh sống. Trong đó, cần tập trung vào số đối tượng có hoàn cảnh gia đình kinh tế khó khăn, trình độ thấp, thiếu ý thức tự giác chấp hành pháp luật… vì đây là số đối tượng có khả năng tái phạm tội rất cao.

ThS. Trịnh Duy Thuyên & ThS. Nguyễn Tấn Luật

Đại học Cảnh sát nhân dân

Tài liệu tham khảo:

[1]. Cơ quan thi hành án hình sự - Công an thành phố Cần Thơ, Báo cáo công tác năm 2017.

[2]. Điều 4 Nghị quyết số 01/2013/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng Điều 60 của Bộ luật Hình sự về án treo.

[3]. Nghị định số 61/2000/NĐ-CP ngày 30/10/2000 của Chính phủ; Công văn số 81/2002/TANDTC ngày 10/6/2002.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Tóm tắt: Chuyển đổi số đặt ra yêu cầu cấp thiết cần đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là đối với các nhóm đối tượng đặc thù có năng lực số hạn chế. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số trên cơ sở chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và yêu cầu của chuyển đổi số; đánh giá thực trạng quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Thông qua trường hợp cảnh báo về “hợp đồng kỳ nghỉ”, nghiên cứu làm rõ những hạn chế trong việc tiếp cận thông tin pháp luật của người cao tuổi trên môi trường số, từ đó, chỉ ra những bất cập của pháp luật hiện hành. Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số.
Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Trong đợt tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật năm 2026 - một nhiệm vụ trọng yếu được triển khai theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới - nguyên tắc “6 rõ” đã được xác lập như một chuẩn mực kỹ thuật và quản trị cốt lõi. Nội dung của nguyên tắc này bao gồm: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền và rõ kết quả.
Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Ngày 30/7 hằng năm được Đại hội đồng Liên hợp quốc chọn là Ngày Thế giới phòng, chống mua bán người (World Day Against Trafficking in Persons) nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về những hậu quả nghiêm trọng của tội phạm mua bán người, đồng thời kêu gọi các quốc gia tăng cường hợp tác, triển khai các giải pháp phòng ngừa, đấu tranh và bảo vệ nạn nhân.

Theo dõi chúng tôi trên: