Thứ ba 22/09/2026 21:24
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực tiễn hoạt động Thừa phát lại quận Bình Thạnh

Văn phòng Thừa phát lại quận Bình Thạnh là một trong năm văn phòng đầu tiên của cả nước thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại TP. Hồ Chí Minh. Chính thức đi vào hoạt động từ tháng 5/2010 cho đến nay, bên cạnh kết quả đạt được, hoạt động của Văn phòng Thừa phát lại quận Bình Thạnh trong thời gian qua còn gặp không ít khó khăn.

1. Kết quả hoạt động của Văn phòng

Tính đến nay, đội ngũ cán bộ, nhân viên của Văn phòng gồm: Tổng số nhân sự đang làm việc tại Văn phòng là 24; trong đó có: 02 Thừa phát lại, 18 thư ký nghiệp vụ, 01 kế toán và 01 nhân viên văn thư lưu trữ, 01 bảo vệ, 01 tạp vụ. Văn phòng đã tiến hành các hoạt động chuyên môn như sau:

1.1. Lập vi bằng

Có thể nói, vi bằng là “dịch vụ độc quyền” của Thừa phát lại. Ngoài Thừa phát lại, không có một hệ thống cơ quan nào giúp người dân xác lập chứng cứ theo yêu cầu, với thủ tục giản đơn thuận tiện. Đến nay, Văn phòng Thừa phát lại quận Bình Thạnh đã lập và đăng ký tại Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh 1.426 vi bằng, doanh thu 3.521.300.000 đồng. Nội dung vi bằng thể hiện phong phú trên nhiều lĩnh vực.

Trong quan hệ dân sự, vi bằng của Thừa phát lại là công cụ để người dân, doanh nghiệp tự bảo vệ mình trong quá trình đàm phán, ký kết, thực hiện các giao dịch dân sự, cũng như xác lập các chứng cứ để bảo vệ mình trong quá trình hòa giải, thương lượng hoặc xét xử. Việc lập vi bằng do Thừa phát lại chủ động lập và chịu trách nhiệm, việc lập vi bằng rất nhanh chóng, thuận tiện, thường ít phụ thuộc vào sự hợp tác của bên thứ 3. Mặt khác, phạm vi công việc lập vi bằng rất rộng, không hạn chế về thời gian, địa điểm (trong phạm vi địa hạt). Vỉ vậy, có thể thấy rằng, quy định của pháp luật đã tạo điều kiện cho Thừa phát lại phát huy tính chủ động và sáng tạo của Thừa phát lại trong việc lập vi bằng.

Theo quy định của pháp luật hiện hành: “Thừa phát lại có quyền lập vi bằng đối với các sự kiện, hành vi theo yêu cầu của đương sự, trừ các trường hợp quy định tại Điều 6 của Nghị định này; các trường hợp vi phạm quy định về bảo đảm an ninh, quốc phòng; vi phạm bí mật đời tư theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật Dân sự; các trường hợp thuộc thẩm quyền công chứng của tổ chức hành nghề công chứng hoặc thuộc thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân các cấp”. Tuy nhiên, hiểu thế nào về “các trường hợp thuộc thẩm quyền công chứng của tổ chức hành nghề công chứng hoặc thuộc thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân các cấp” còn nhiều ý kiến khác nhau. Chúng tôi cho rằng, nội dung trên cần được hiểu là “các trường hợp mà pháp luật bắt buộc phải công chứng, chứng thực”.

Hiện nay, Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh căn cứ vào Công văn số 1128/BTP-TCTHADS ngày 18/4/2014 của Bộ Tư pháp (về việc tổ chức thực hiện thí điểm Thừa phát lại) từ chối đăng ký các vi bằng có nội dung ghi nhận sự kiện các bên ký tên vào văn bản (hợp đồng, giao dịch không bắt buộc phải công chứng, hoặc các tờ khai, cam kết, xác nhận, trình bày…) với lý do là thuộc lĩnh vực công chứng, chứng thực. Thực chất, các Văn phòng Thừa phát lại chỉ lập vi bằng ghi nhận sự kiện, hành vi, chứ không chứng nhận nội dung hợp đồng, giao dịch hay chứng thực chữ ký. Việc từ chối đăng ký một số vi bằng nêu trên gây khó khăn rất nhiều cho các Văn phòng Thừa phát lại trong quá trình hoạt động, vì trong giai đoạn hiện nay, các Văn phòng Thừa phát lại đang tồn tại với nguồn thu chủ yếu từ vi bằng.

1.2. Tống đạt

Văn phòng đã tiến hành ký hợp đồng tống đạt cho 04 Tòa án nhân dân của các quận: Bình Thạnh, quận 1, quận 9, quận 2, quận 3 và Chi cục Thi hành án dân sự của các quận: Bình Thạnh, quận 9, quận 2. Từ tháng 11/2010 đến nay, tổng số văn bản đã tống đạt là 52.942 văn bản; tổng số tiền thu được là 2.712.330.000 đồng.

Thủ tục tống đạt văn bản của cơ quan thi hành án dân sự đã được Cục Thi hành án dân sự TP. Hồ Chí Minh hướng dẫn thực hiện một cách thống nhất, tạo điều kiện thuận lợi cho các Văn phòng thực hiện tống đạt.

Tuy nhiên, thủ tục tống đạt đối với Tòa án vẫn chưa có sự thống nhất về việc tống đạt theo Điều 152 Bộ luật Tố tụng dân sự, mỗi Tòa có một yêu cầu khác nhau cho cùng một trường hợp tống đạt, gây khó khăn rất nhiều cho Văn phòng Thừa phát lại khi thực hiện. Do vậy, đề nghị Sở Tư pháp sớm phối hợp với Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh thống nhất biểu mẫu, quy trình tống đạt và hướng dẫn về tính hợp lệ của văn bản tống đạt theo hướng đơn giản hóa, hạn chế việc xin dấu của công an, Ủy ban nhân dân, chữ ký của nhiều cấp (tổ dân phố, ban điều hành khu phố, cảnh sát khu vực, tư pháp…) để sử dụng chung cho toàn Thành phố.

Theo quy định thì việc quyết toán chi phí tống đạt cho Văn phòng Thừa phát lại được thực hiện định kỳ hàng tháng, tuy nhiên thực tế thực hiện thì rất chậm trễ. Theo Thông tư liên tịch số 09/2014/TTLT-BTP TANDTC-VKSNDTC-BTC ngày 28/02/2014 có hiệu lực từ ngày 20/4/2014 (Thông tư liên tịch số 09) đã quy định một số nội dung mới rất quan trọng như ký hợp đồng tống đạt và thanh toán phí tống đạt. Tuy nhiên, khi Văn phòng Thừa phát lại liên hệ với các Tòa án, Chi cục Thi hành án dân sự đề nghị ký lại hợp đồng theo quy định mới, thì các cơ quan này đề nghị chờ văn bản hướng dẫn của Tòa án nhân dân và Cục Thi hành án dân sự TP. Hồ Chí Minh . Cho đến nay, vẫn chưa có hướng dẫn ký lại hợp đồng tống đạt theo quy định mới.

1.3. Tổ chức thi hành án

Với sự ra đời của Thừa phát lại, người dân có quyền lựa chọn dịch vụ thi hành án tốt nhất, đáp ứng nhu cầu của người dân trong việc thực thi bản án, quyết định của Tòa án một cách nhanh chóng, chính xác, kịp thời. Thừa phát lại được kỳ vọng như một lực lượng mới, có thể sẻ chia trách nhiệm với hệ thống cơ quan thi hành án hiện hành, gánh vác một phần trách nhiệm về tổ chức thi hành án.

Văn phòng Thừa phát lại có thẩm quyền tổ chức thi hành án dân sự tương đương Chi cục Thi hành án dân sự nơi Văn phòng Thừa phát lại có trụ sở đối với án theo đơn yêu cầu. Thời gian qua, Văn phòng Thừa phát lại quận Bình Thạnh đã thụ lý tổng cộng 54 vụ, trong đó đã thi hành xong 14 vụ và trả đơn yêu cầu thi hành án 13 vụ, với tổng giá trị thi hành được là 19.969.431.000 đồng.

Mặc dù số lượng việc thi hành án còn thấp, nhưng bước đầu đã được sự thừa nhận và tin tưởng của xã hội, điển hình là Văn phòng Thừa phát lại quận Bình Thạnh đã thụ lý và đang tiến hành tổ chức thi hành án đối với Công ty cổ phần đầu tư Kiến Quân theo đơn yêu cầu của Công ty tài chính TNHH Một thành viên Cao su Việt Nam với giá trị về tiền lên đến 148.618.855.000 đồng.

Có thể thấy, số việc thi hành án hiện nay các Văn phòng Thừa phát lại đang thụ lý rất ít so với tiềm năng. Điều này do người dân chưa biết nhiều đến thẩm quyền tổ chức thi hành án của Văn phòng Thừa phát lại. Mặc dù công tác tuyên truyền liên tục được đẩy mạnh, nhưng hiệu quả thực tế chưa cao. Vì vậy, đề nghị Bộ Tư pháp xem xét kiến nghị với Tòa án nhân dân tối cao bổ sung trong phần giải thích về việc thi hành án dân sự của bản án, quyết định để người dân biết mình có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự hoặc Văn phòng Thừa phát lại thi hành bản án, quyết định này.

Có một khó khăn nữa là đối với trường hợp phát sinh điều kiện thi hành án nằm ngoài địa bàn cấp tỉnh nơi đặt Văn phòng Thừa phát lại, Điều 10 Thông tư liên tịch số 09 bắt buộc các bên phải thanh lý hợp đồng và chấm dứt việc thi hành án. Tuy nhiên, thực tế có nhiều trường hợp Văn phòng đang tổ chức thi hành án mà vừa phát sinh điều kiện thi hành án ở địa bàn TP. Hồ Chí Minh, vừa phát sinh điều kiện thi hành án ngoài địa bàn, thì Văn phòng có tiếp tục thi hành án hay phải thanh lý hợp đồng thi hành án với người yêu cầu thi hành án? Hoặc trường hợp Văn phòng Thừa phát lại đang tổ chức thi hành án mà người phải thi hành án có điều kiện thi hành án ở địa bàn TP. Hồ Chí Minh, nhưng chưa xác minh cụ thể được, đồng thời phát sinh điều kiện thi hành án ngoài địa bàn TP. Hồ Chí Minh, thì Văn phòng có tiếp tục thi hành án, hay phải thanh lý hợp đồng thi hành án với người yêu cầu thi hành án?

Về lâu dài, chúng tôi đề nghị nên quy định cơ chế ủy thác giữa các Văn phòng Thừa phát lại với nhau trên cơ sở thỏa thuận giữa các Văn phòng, vì hiện nay, các Văn phòng Thừa phát lại đã được thành lập ở 13 tỉnh, thành trên cả nước, thời gian tới, khi hết thời gian thí điểm, các Văn phòng Thừa phát lại được thành lập trên cả nước, thì việc quy định cơ chế ủy thác càng trở nên cấp bách.

1.4. Xác minh điều kiện thi hành án

Thời gian qua, Văn phòng Thừa phát lại quận Bình Thạnh đã ký được 50 hợp đồng xác minh điều kiện thi hành án. Trong đó tiến hành xác minh được 46 vụ việc; tổng số phí thu được là 325.500.000 đồng.

Hoạt động xác minh điều kiện thi hành án hiện gặp nhiều khó khăn như: cơ quan thuế, các tổ chức tín dụng và một số cơ quan đăng ký tài sản từ chối cung cấp thông tin phục vụ cho việc xác minh điều kiện thi hành án của Thừa phát lại, với lý do luật chuyên ngành không quy định Thừa phát lại là đối tượng được cung cấp thông tin… hoặc các cơ quan này thường cung cấp thông tin rất chậm trễ (một số văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất).

2. Một số đề xuất và kiến nghị

Từ thực tiễn hoạt động của Văn phòng Thừa phát lại quận Bình Thạnh, chúng tôi có một số đề xuất như sau:

Thứ nhất, hoàn thiện pháp luật về tổ chức, hoạt động của Thừa phát lại

Với tính chất là một định chế đang trong thời gian thí điểm, khó có thể đòi hỏi một hệ thống pháp luật hoàn thiện về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại, cũng như các văn bản hiện hành làm cơ sở pháp lý cho hoạt động của Thừa phát lại có giá trị pháp lý cao, vì vậy, trong giai đoạn này, khi chưa thể ban hành ngay Luật về Thừa phát lại, cần có hướng dẫn cho phép áp dụng về mặt nguyên tắc các quy định trong các đạo luật hiện hành cho tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại. Sau khi kết thúc thời gian thí điểm, cần phải ban hành Luật về Thừa phát lại theo hướng cụ thể hóa tất cả các vấn đề về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại trong Luật, bao gồm cả những quy phạm liên quan đến Luật Thi hành án dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Các tổ chức tín dụng, luật thuế... Khi các đạo luật này được sửa đổi, bổ sung thì quy định thêm các quyền, nghĩa vụ của Thừa phát lại tương ứng trong Luật.

Mặt khác, đề nghị cấp có thẩm quyền sớm ban hành văn bản liên tịch hướng dẫn các hoạt động phối hợp xác minh, áp dụng biện pháp bảo đảm, cưỡng chế thi hành án của Thừa phát lại.

Thứ hai, về công tác thông tin, tuyên truyền

Đề nghị tiếp tục tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền về Thừa phát lại, để người dân được biết bên cạnh cơ quan thi hành án dân sự, người dân còn có quyền yêu cầu Văn phòng Thừa phát lại tổ chức thi hành án, đồng thời có quyền yêu cầu Văn phòng Thừa phát lại xác minh điều kiện thi hành án để cung cấp cho cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành, cũng như các công việc khác. Cần tuyên truyền theo hướng giải thích cho người dân hiểu được “khi nào thì nên đến Văn phòng Thừa phát lại?”. Hình thức tuyên truyền cũng cần phải sinh động để pháp luật đến với từng người dân.

Thứ ba, về hoạt động lập vi bằng

Vi bằng không phải là văn bản công chứng, chứng thực, vi bằng của Thừa phát lại chỉ chụp lại sự kiện, hành vi nhất định, trong đó có việc các bên tham gia ký kết, xác nhận một nội dung nhất định. Việc xác định mọi hành vi ký kết văn bản đều là văn bản phải công chứng, chứng thực mà không được lập vi bằng là bó hẹp phạm vi lập vi bằng, hạn chế quyền được yêu cầu lập vi bằng để làm chứng cứ của người dân.

Nên có hướng dẫn xác định cụ thể phạm vi lập vi bằng theo hướng Thừa phát lại được phép lập vi bằng những sự kiện, hành vi bao gồm cả việc ghi nhận việc ký kết văn bản, nếu nội dung đó không thuộc trường hợp bắt buộc phải công chứng, chứng thực.

Thứ tư, về việc triển khai thực hiện Thông tư liên tịch số 09

Văn phòng đề nghị các cấp có thẩm quyền sớm có văn bản hướng dẫn thực hiện Thông tư liên tịch số 09. Trong đó, cho phép các Văn phòng Thừa phát lại được hưởng mức phí tống đạt theo Thông tư liên tịch 09 từ ngày 22/4/2014, đảm bảo kịp thời quyền lợi chính đáng của các Văn phòng Thừa phát lại trong bối cảnh hoạt động còn nhiều khó khăn.

Thứ năm, hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các Văn phòng Thừa phát lại và các cơ quan thi hành án dân sự trong việc phối hợp tổ chức thi hành án, sử dụng kết quả xác minh điều kiện thi hành án do Thừa phát lại cung cấp, nhằm thực hiện nhiệm vụ chung của Ngành Thi hành án dân sự.

Bên cạnh đó, từng bước xây dựng cơ chế phối hợp giữa các Văn phòng Thừa phát lại và các ngành hữu quan như Tòa án, Viện kiểm sát, công an, chính quyền địa phương, tổ chức tín dụng, cơ quan đăng ký quyền sử dụng đất, cơ quan thuế,… để Thừa phát lại thực hiện tốt các chức năng của mình.

Văn phòng Thừa phát lại quận Bình Thạnh

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: