Thứ tư 21/01/2026 14:29
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực tiễn hoạt động Thừa phát lại quận Bình Thạnh

Văn phòng Thừa phát lại quận Bình Thạnh là một trong năm văn phòng đầu tiên của cả nước thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại TP. Hồ Chí Minh. Chính thức đi vào hoạt động từ tháng 5/2010 cho đến nay, bên cạnh kết quả đạt được, hoạt động của Văn phòng Thừa phát lại quận Bình Thạnh trong thời gian qua còn gặp không ít khó khăn.

1. Kết quả hoạt động của Văn phòng

Tính đến nay, đội ngũ cán bộ, nhân viên của Văn phòng gồm: Tổng số nhân sự đang làm việc tại Văn phòng là 24; trong đó có: 02 Thừa phát lại, 18 thư ký nghiệp vụ, 01 kế toán và 01 nhân viên văn thư lưu trữ, 01 bảo vệ, 01 tạp vụ. Văn phòng đã tiến hành các hoạt động chuyên môn như sau:

1.1. Lập vi bằng

Có thể nói, vi bằng là “dịch vụ độc quyền” của Thừa phát lại. Ngoài Thừa phát lại, không có một hệ thống cơ quan nào giúp người dân xác lập chứng cứ theo yêu cầu, với thủ tục giản đơn thuận tiện. Đến nay, Văn phòng Thừa phát lại quận Bình Thạnh đã lập và đăng ký tại Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh 1.426 vi bằng, doanh thu 3.521.300.000 đồng. Nội dung vi bằng thể hiện phong phú trên nhiều lĩnh vực.

Trong quan hệ dân sự, vi bằng của Thừa phát lại là công cụ để người dân, doanh nghiệp tự bảo vệ mình trong quá trình đàm phán, ký kết, thực hiện các giao dịch dân sự, cũng như xác lập các chứng cứ để bảo vệ mình trong quá trình hòa giải, thương lượng hoặc xét xử. Việc lập vi bằng do Thừa phát lại chủ động lập và chịu trách nhiệm, việc lập vi bằng rất nhanh chóng, thuận tiện, thường ít phụ thuộc vào sự hợp tác của bên thứ 3. Mặt khác, phạm vi công việc lập vi bằng rất rộng, không hạn chế về thời gian, địa điểm (trong phạm vi địa hạt). Vỉ vậy, có thể thấy rằng, quy định của pháp luật đã tạo điều kiện cho Thừa phát lại phát huy tính chủ động và sáng tạo của Thừa phát lại trong việc lập vi bằng.

Theo quy định của pháp luật hiện hành: “Thừa phát lại có quyền lập vi bằng đối với các sự kiện, hành vi theo yêu cầu của đương sự, trừ các trường hợp quy định tại Điều 6 của Nghị định này; các trường hợp vi phạm quy định về bảo đảm an ninh, quốc phòng; vi phạm bí mật đời tư theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật Dân sự; các trường hợp thuộc thẩm quyền công chứng của tổ chức hành nghề công chứng hoặc thuộc thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân các cấp”. Tuy nhiên, hiểu thế nào về “các trường hợp thuộc thẩm quyền công chứng của tổ chức hành nghề công chứng hoặc thuộc thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân các cấp” còn nhiều ý kiến khác nhau. Chúng tôi cho rằng, nội dung trên cần được hiểu là “các trường hợp mà pháp luật bắt buộc phải công chứng, chứng thực”.

Hiện nay, Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh căn cứ vào Công văn số 1128/BTP-TCTHADS ngày 18/4/2014 của Bộ Tư pháp (về việc tổ chức thực hiện thí điểm Thừa phát lại) từ chối đăng ký các vi bằng có nội dung ghi nhận sự kiện các bên ký tên vào văn bản (hợp đồng, giao dịch không bắt buộc phải công chứng, hoặc các tờ khai, cam kết, xác nhận, trình bày…) với lý do là thuộc lĩnh vực công chứng, chứng thực. Thực chất, các Văn phòng Thừa phát lại chỉ lập vi bằng ghi nhận sự kiện, hành vi, chứ không chứng nhận nội dung hợp đồng, giao dịch hay chứng thực chữ ký. Việc từ chối đăng ký một số vi bằng nêu trên gây khó khăn rất nhiều cho các Văn phòng Thừa phát lại trong quá trình hoạt động, vì trong giai đoạn hiện nay, các Văn phòng Thừa phát lại đang tồn tại với nguồn thu chủ yếu từ vi bằng.

1.2. Tống đạt

Văn phòng đã tiến hành ký hợp đồng tống đạt cho 04 Tòa án nhân dân của các quận: Bình Thạnh, quận 1, quận 9, quận 2, quận 3 và Chi cục Thi hành án dân sự của các quận: Bình Thạnh, quận 9, quận 2. Từ tháng 11/2010 đến nay, tổng số văn bản đã tống đạt là 52.942 văn bản; tổng số tiền thu được là 2.712.330.000 đồng.

Thủ tục tống đạt văn bản của cơ quan thi hành án dân sự đã được Cục Thi hành án dân sự TP. Hồ Chí Minh hướng dẫn thực hiện một cách thống nhất, tạo điều kiện thuận lợi cho các Văn phòng thực hiện tống đạt.

Tuy nhiên, thủ tục tống đạt đối với Tòa án vẫn chưa có sự thống nhất về việc tống đạt theo Điều 152 Bộ luật Tố tụng dân sự, mỗi Tòa có một yêu cầu khác nhau cho cùng một trường hợp tống đạt, gây khó khăn rất nhiều cho Văn phòng Thừa phát lại khi thực hiện. Do vậy, đề nghị Sở Tư pháp sớm phối hợp với Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh thống nhất biểu mẫu, quy trình tống đạt và hướng dẫn về tính hợp lệ của văn bản tống đạt theo hướng đơn giản hóa, hạn chế việc xin dấu của công an, Ủy ban nhân dân, chữ ký của nhiều cấp (tổ dân phố, ban điều hành khu phố, cảnh sát khu vực, tư pháp…) để sử dụng chung cho toàn Thành phố.

Theo quy định thì việc quyết toán chi phí tống đạt cho Văn phòng Thừa phát lại được thực hiện định kỳ hàng tháng, tuy nhiên thực tế thực hiện thì rất chậm trễ. Theo Thông tư liên tịch số 09/2014/TTLT-BTP TANDTC-VKSNDTC-BTC ngày 28/02/2014 có hiệu lực từ ngày 20/4/2014 (Thông tư liên tịch số 09) đã quy định một số nội dung mới rất quan trọng như ký hợp đồng tống đạt và thanh toán phí tống đạt. Tuy nhiên, khi Văn phòng Thừa phát lại liên hệ với các Tòa án, Chi cục Thi hành án dân sự đề nghị ký lại hợp đồng theo quy định mới, thì các cơ quan này đề nghị chờ văn bản hướng dẫn của Tòa án nhân dân và Cục Thi hành án dân sự TP. Hồ Chí Minh . Cho đến nay, vẫn chưa có hướng dẫn ký lại hợp đồng tống đạt theo quy định mới.

1.3. Tổ chức thi hành án

Với sự ra đời của Thừa phát lại, người dân có quyền lựa chọn dịch vụ thi hành án tốt nhất, đáp ứng nhu cầu của người dân trong việc thực thi bản án, quyết định của Tòa án một cách nhanh chóng, chính xác, kịp thời. Thừa phát lại được kỳ vọng như một lực lượng mới, có thể sẻ chia trách nhiệm với hệ thống cơ quan thi hành án hiện hành, gánh vác một phần trách nhiệm về tổ chức thi hành án.

Văn phòng Thừa phát lại có thẩm quyền tổ chức thi hành án dân sự tương đương Chi cục Thi hành án dân sự nơi Văn phòng Thừa phát lại có trụ sở đối với án theo đơn yêu cầu. Thời gian qua, Văn phòng Thừa phát lại quận Bình Thạnh đã thụ lý tổng cộng 54 vụ, trong đó đã thi hành xong 14 vụ và trả đơn yêu cầu thi hành án 13 vụ, với tổng giá trị thi hành được là 19.969.431.000 đồng.

Mặc dù số lượng việc thi hành án còn thấp, nhưng bước đầu đã được sự thừa nhận và tin tưởng của xã hội, điển hình là Văn phòng Thừa phát lại quận Bình Thạnh đã thụ lý và đang tiến hành tổ chức thi hành án đối với Công ty cổ phần đầu tư Kiến Quân theo đơn yêu cầu của Công ty tài chính TNHH Một thành viên Cao su Việt Nam với giá trị về tiền lên đến 148.618.855.000 đồng.

Có thể thấy, số việc thi hành án hiện nay các Văn phòng Thừa phát lại đang thụ lý rất ít so với tiềm năng. Điều này do người dân chưa biết nhiều đến thẩm quyền tổ chức thi hành án của Văn phòng Thừa phát lại. Mặc dù công tác tuyên truyền liên tục được đẩy mạnh, nhưng hiệu quả thực tế chưa cao. Vì vậy, đề nghị Bộ Tư pháp xem xét kiến nghị với Tòa án nhân dân tối cao bổ sung trong phần giải thích về việc thi hành án dân sự của bản án, quyết định để người dân biết mình có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự hoặc Văn phòng Thừa phát lại thi hành bản án, quyết định này.

Có một khó khăn nữa là đối với trường hợp phát sinh điều kiện thi hành án nằm ngoài địa bàn cấp tỉnh nơi đặt Văn phòng Thừa phát lại, Điều 10 Thông tư liên tịch số 09 bắt buộc các bên phải thanh lý hợp đồng và chấm dứt việc thi hành án. Tuy nhiên, thực tế có nhiều trường hợp Văn phòng đang tổ chức thi hành án mà vừa phát sinh điều kiện thi hành án ở địa bàn TP. Hồ Chí Minh, vừa phát sinh điều kiện thi hành án ngoài địa bàn, thì Văn phòng có tiếp tục thi hành án hay phải thanh lý hợp đồng thi hành án với người yêu cầu thi hành án? Hoặc trường hợp Văn phòng Thừa phát lại đang tổ chức thi hành án mà người phải thi hành án có điều kiện thi hành án ở địa bàn TP. Hồ Chí Minh, nhưng chưa xác minh cụ thể được, đồng thời phát sinh điều kiện thi hành án ngoài địa bàn TP. Hồ Chí Minh, thì Văn phòng có tiếp tục thi hành án, hay phải thanh lý hợp đồng thi hành án với người yêu cầu thi hành án?

Về lâu dài, chúng tôi đề nghị nên quy định cơ chế ủy thác giữa các Văn phòng Thừa phát lại với nhau trên cơ sở thỏa thuận giữa các Văn phòng, vì hiện nay, các Văn phòng Thừa phát lại đã được thành lập ở 13 tỉnh, thành trên cả nước, thời gian tới, khi hết thời gian thí điểm, các Văn phòng Thừa phát lại được thành lập trên cả nước, thì việc quy định cơ chế ủy thác càng trở nên cấp bách.

1.4. Xác minh điều kiện thi hành án

Thời gian qua, Văn phòng Thừa phát lại quận Bình Thạnh đã ký được 50 hợp đồng xác minh điều kiện thi hành án. Trong đó tiến hành xác minh được 46 vụ việc; tổng số phí thu được là 325.500.000 đồng.

Hoạt động xác minh điều kiện thi hành án hiện gặp nhiều khó khăn như: cơ quan thuế, các tổ chức tín dụng và một số cơ quan đăng ký tài sản từ chối cung cấp thông tin phục vụ cho việc xác minh điều kiện thi hành án của Thừa phát lại, với lý do luật chuyên ngành không quy định Thừa phát lại là đối tượng được cung cấp thông tin… hoặc các cơ quan này thường cung cấp thông tin rất chậm trễ (một số văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất).

2. Một số đề xuất và kiến nghị

Từ thực tiễn hoạt động của Văn phòng Thừa phát lại quận Bình Thạnh, chúng tôi có một số đề xuất như sau:

Thứ nhất, hoàn thiện pháp luật về tổ chức, hoạt động của Thừa phát lại

Với tính chất là một định chế đang trong thời gian thí điểm, khó có thể đòi hỏi một hệ thống pháp luật hoàn thiện về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại, cũng như các văn bản hiện hành làm cơ sở pháp lý cho hoạt động của Thừa phát lại có giá trị pháp lý cao, vì vậy, trong giai đoạn này, khi chưa thể ban hành ngay Luật về Thừa phát lại, cần có hướng dẫn cho phép áp dụng về mặt nguyên tắc các quy định trong các đạo luật hiện hành cho tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại. Sau khi kết thúc thời gian thí điểm, cần phải ban hành Luật về Thừa phát lại theo hướng cụ thể hóa tất cả các vấn đề về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại trong Luật, bao gồm cả những quy phạm liên quan đến Luật Thi hành án dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Các tổ chức tín dụng, luật thuế... Khi các đạo luật này được sửa đổi, bổ sung thì quy định thêm các quyền, nghĩa vụ của Thừa phát lại tương ứng trong Luật.

Mặt khác, đề nghị cấp có thẩm quyền sớm ban hành văn bản liên tịch hướng dẫn các hoạt động phối hợp xác minh, áp dụng biện pháp bảo đảm, cưỡng chế thi hành án của Thừa phát lại.

Thứ hai, về công tác thông tin, tuyên truyền

Đề nghị tiếp tục tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền về Thừa phát lại, để người dân được biết bên cạnh cơ quan thi hành án dân sự, người dân còn có quyền yêu cầu Văn phòng Thừa phát lại tổ chức thi hành án, đồng thời có quyền yêu cầu Văn phòng Thừa phát lại xác minh điều kiện thi hành án để cung cấp cho cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành, cũng như các công việc khác. Cần tuyên truyền theo hướng giải thích cho người dân hiểu được “khi nào thì nên đến Văn phòng Thừa phát lại?”. Hình thức tuyên truyền cũng cần phải sinh động để pháp luật đến với từng người dân.

Thứ ba, về hoạt động lập vi bằng

Vi bằng không phải là văn bản công chứng, chứng thực, vi bằng của Thừa phát lại chỉ chụp lại sự kiện, hành vi nhất định, trong đó có việc các bên tham gia ký kết, xác nhận một nội dung nhất định. Việc xác định mọi hành vi ký kết văn bản đều là văn bản phải công chứng, chứng thực mà không được lập vi bằng là bó hẹp phạm vi lập vi bằng, hạn chế quyền được yêu cầu lập vi bằng để làm chứng cứ của người dân.

Nên có hướng dẫn xác định cụ thể phạm vi lập vi bằng theo hướng Thừa phát lại được phép lập vi bằng những sự kiện, hành vi bao gồm cả việc ghi nhận việc ký kết văn bản, nếu nội dung đó không thuộc trường hợp bắt buộc phải công chứng, chứng thực.

Thứ tư, về việc triển khai thực hiện Thông tư liên tịch số 09

Văn phòng đề nghị các cấp có thẩm quyền sớm có văn bản hướng dẫn thực hiện Thông tư liên tịch số 09. Trong đó, cho phép các Văn phòng Thừa phát lại được hưởng mức phí tống đạt theo Thông tư liên tịch 09 từ ngày 22/4/2014, đảm bảo kịp thời quyền lợi chính đáng của các Văn phòng Thừa phát lại trong bối cảnh hoạt động còn nhiều khó khăn.

Thứ năm, hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các Văn phòng Thừa phát lại và các cơ quan thi hành án dân sự trong việc phối hợp tổ chức thi hành án, sử dụng kết quả xác minh điều kiện thi hành án do Thừa phát lại cung cấp, nhằm thực hiện nhiệm vụ chung của Ngành Thi hành án dân sự.

Bên cạnh đó, từng bước xây dựng cơ chế phối hợp giữa các Văn phòng Thừa phát lại và các ngành hữu quan như Tòa án, Viện kiểm sát, công an, chính quyền địa phương, tổ chức tín dụng, cơ quan đăng ký quyền sử dụng đất, cơ quan thuế,… để Thừa phát lại thực hiện tốt các chức năng của mình.

Văn phòng Thừa phát lại quận Bình Thạnh

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: