Thứ ba 28/04/2026 21:31
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực tiễn tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trải qua sáu năm, kể từ ngày Luật Doanh nghiệp năm 2014 có hiệu lực thi hành cho thấy, doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam có phạm vi, lĩnh vực hoạt động khá phong phú

Tóm tắt: Trải qua sáu năm, kể từ ngày Luật Doanh nghiệp năm 2014 có hiệu lực thi hành cho thấy, doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam có phạm vi, lĩnh vực hoạt động khá phong phú, đang góp phần vào việc tạo ra làn sóng phát triển doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam. Tuy nhiên, phần lớn các doanh nghiệp xã hội đều có quy mô nhỏ với số lượng chưa nhiều, cho nên, đóng góp của doanh nghiệp xã hội đối với nền kinh tế - xã hội cũng còn khá khiêm tốn.


1. Thực tiễn tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư[1], tính đến hết năm 2019, số lượng doanh nghiệp xã hội (DNXH) chiếm khoảng 4% trong tổng số doanh nghiệp ở Việt Nam đang tồn tại và hoạt động. Phạm vi hoạt động của DNXH rất phong phú và đa dạng, có đến 50% DNXH có trụ sở tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, gần 50% còn lại hoạt động ở khu vực nông thôn. DNXH không chỉ hoạt động tại Việt Nam, mà còn có tham vọng vươn lên tầm quốc gia và quốc tế. 30% tổng số DNXH tại Việt Nam đang hoạt động tại thị trường trong nước và 22% hoạt động trên thị trường quốc tế. Trong những năm gần đây, DNXH đã mở rộng phạm vi hoạt động, nhưng lại không đồng đều giữa các tỉnh, thành phố. DNXH có hình thức pháp lý đa dạng. Một số được đăng ký dưới hình thức hoạt động là DNXH, trong khi những doanh nghiệp khác được coi như doanh nghiệp tư nhân thông thường. Một số hoạt động dưới hình thức hợp tác xã hoặc các hình thức khác[2]. Tính đến cuối tháng 4/2020, hình thức pháp lý mà DNXH đã đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh bao gồm: Công ty cổ phần; công ty TNHH một thành viên và công ty TNHH hai thành viên trở lên. Do pháp luật Việt Nam hiện hành chỉ thừa nhận hình thức pháp lý của DNXH là doanh nghiệp nên không có DNXH nào đăng ký thành lập với hình thức pháp lý là hợp tác xã hoặc hộ kinh doanh.

Về quy mô và doanh thu, hầu hết các DNXH hiện nay đều có quy mô nhỏ cả về nguồn nhân lực, tài chính và doanh thu. Đến cuối năm 2019, ước tính các DNXH có dưới 20 nhân viên chiếm tới 70%[3]. DNXH có quy mô nhỏ chiếm 40%, với doanh thu trên dưới 01 tỷ VND; 19% DNXH báo cáo doanh thu từ 01 đến 05 tỷ VND; 23% DNXH báo cáo có doanh thu từ 05 đến 25 tỷ VND; có tới 12% DNXH báo cáo doanh thu trên 25 tỷ VND. Độ tuổi lãnh đạo DNXH từ 25 - 44 chiếm 58,1%; độ tuổi lãnh đạo DNXH từ 45 - 64 chiếm 38% và độ tuổi lãnh đạo DNXH từ 65 trở lên chiếm 3,9%[4]. Ngoài ra, phần lớn các DNXH được dẫn dắt bởi những người có trình độ học vấn cao, 70% lãnh đạo có trình độ đại học, 42% có bằng cử nhân[5]. Những năm gần đây, ở Việt Nam có một làn sóng mới mang tên “Khởi nghiệp doanh nghiệp xã hội”.

Phần lớn các DNXH đều kinh doanh có lợi nhuận. Hơn 70% số doanh nghiệp khảo sát báo cáo rằng, họ đạt kinh doanh có lãi; 18% DNXH hòa vốn và chỉ có 12% DNXH là thua lỗ (các doanh nghiệp lỗ và hòa vốn là những doanh nghiệp được thành lập vào các năm 2016, 2017 vì đang ở giai đoạn khởi sự). Mặc dù quy mô nhỏ, nhưng các DNXH lại có tính hòa nhập khá cao. Khu vực này gồm nhiều tầng lớp xã hội tham gia với 74% công nhân thuộc nhóm người yếu thế. Trong đó, 28% DNXH sử dụng trên 51% lao động đến từ nhóm người khuyết tật, người dân tộc thiểu số và người nghèo. Ngoài ra, các DNXH chủ yếu sử dụng lao động địa phương (90%), trong đó, 53% số lượng DNXH sử dụng trên 51% là người lao động tại địa phương. DNXH cũng rất đa dạng trong ban lãnh đạo, thể hiện qua việc có nhiều người và phụ nữ thuộc các nhóm yếu thế tham gia vào quá trình thành lập và hoạt động của các DNXH. Tỷ lệ khởi nghiệp xã hội là phụ nữ cao hơn nhiều so với con số 25% khu vực doanh nghiệp nói chung tại Việt Nam. Các doanh nghiệp khá lạc quan về triển vọng phát triển, chỉ có 1% cho rằng, doanh thu sẽ giảm, 7% giữ nguyên về doanh thu và 92% dự kiến tăng doanh thu, trong đó, 34% cho rằng, sẽ tăng một cách đáng kể. Có thể nói, so với DNXH của một số quốc gia trên thế giới, DNXH ở Việt Nam hiện nay mới chỉ trong giai đoạn khởi đầu, vì vậy, quy mô và doanh thu vẫn còn rất hạn chế. Nếu Chính phủ có các biện pháp ưu đãi, hỗ trợ thiết thực hơn nữa dành cho DNXH thì loại hình doanh nghiệp này sẽ có nhiều điều kiện để vượt qua nhận định “hầu hết DNXH là những doanh nghiệp có quy mô và doanh thu nhỏ và vừa” như hiện nay.

Về ngành nghề và lĩnh vực hoạt động, DNXH ở Việt Nam hoạt động trong nhiều ngành nghề, lĩnh vực khác nhau, tuy nhiên, tỷ lệ lại không đồng đều. Lĩnh vực phổ biến nhất là nông nghiệp (35%); tiếp theo là y tế (9%), giáo dục (9%) và môi trường (7%); chăm sóc trẻ em (5%); việc làm và kỹ năng (4%); bán lẻ (4%); hỗ trợ kinh doanh (3%); ngành công nghiệp (web; thiết kế, in ấn) chiếm tỷ lệ 2%; chăm sóc sức khỏe (2%); hỗ trợ tài chính cad dịch vụ (2%); chăm sóc xã hội (2%); giao thông (2%); văn hóa và giải trí (1%) và các lĩnh vực khác (13%)[6]. Trên thực tế, rất nhiều vấn đề xã hội, môi trường khác mà Nhà nước và cộng đồng rất cần đến sự chung tay giúp sức của DNXH. Điển hình như đợt dịch Covid - 19 vừa qua, Đảng và Nhà nước ta rất vất vả và khó khăn để đẩy lùi và phòng, chống dịch bệnh bùng phát. Nếu như có nhiều DNXH hoạt động trong lĩnh vực y tế, chăm sóc sức khỏe cùng chung tay với Nhà nước thì công tác phòng và chống dịch bệnh Covid - 19 sẽ bớt khó khăn và đạt hiệu quả cao hơn.

Về những đóng góp của DNXH về kinh tế và xã hội, so với doanh nghiệp thương mại, những đóng góp của DNXH đối với nền kinh tế trong giai đoạn vừa qua vẫn còn rất khiêm tốn. Nhưng trong quá trình tổ chức và hoạt động, DNXH không chỉ tạo ra sản phẩm, dịch vụ cho xã hội, góp phần tăng ngân sách nhà nước thông qua nghĩa vụ nộp thuế, mà còn chia sẻ với Nhà nước nguồn lực tài chính để giải quyết các vấn đề xã hội một cách thường xuyên và lâu dài - điều mà các doanh nghiệp thương mại không thể thực hiện được. Thực tế cho thấy, những đóng góp của DNXH về mặt kinh tế nhiều khi không mang tính định lượng cụ thể, mà mang tính định tính bởi những đóng góp của DNXH nhiều khi không thể tính toán được bằng tiền. Với sự cống hiến của mình cho xã hội, DNXH thực sự là tấm gương sáng góp phần lan tỏa phong trào kinh doanh hướng tới mục tiêu vì xã hội. DNXH đã tạo ra việc làm cho lao động trong nước với nhiều lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là đang hỗ trợ rất tích cực cho những người có hoàn cảnh khó khăn, người khuyết tật hoặc những người thất nghiệp dài hạn - những đối tượng khó có khả năng tìm được công việc phù hợp ở các doanh nghiệp thương mại. Hiện nay, có một số DNXH đã tạo dựng được thương hiệu, điển hình như: Trường Đào tạo nghề nhân đạo Koto với chuỗi nhà hàng ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Trong hơn một thập kỷ phát triển, Koto đã nhận đào tạo nghề nấu ăn, dịch vụ khách sạn, nhà hàng cho rất nhiều trẻ em lang thang, có hoàn cảnh khó khăn. Không ít học viên của Koto sau này đã tự mở được nhà hàng hoặc tìm được việc làm ổn định tại các khách sạn, nhà hàng có tiếng.

Công ty TNHH Thủ công Mai (MVH) là một DNXH đã tạo ra hàng nghìn việc làm cho những người thợ thủ công, trong đó, phần lớn là phụ nữ nghèo tại các vùng quê hẻo lánh. Mục tiêu của MVH là tạo thu nhập và nâng cao khả năng tự lập của người nghèo và chịu thiệt thòi thông qua thương mại công bằng.

Một ví dụ nữa là, DNXH Tò he với mục tiêu tạo ra cơ hội cho trẻ em thiệt thòi, khuyết tật cơ hội sáng tạo nghệ thuật độc đáo, từ đó chọn lọc tạo ra các sản phẩm quần áo, phụ kiện, đồ gia dụng, văn phòng phẩm... phân phối tại thị trường Việt Nam và quốc tế. Một phần lợi nhuận được sử dụng để tiếp tục mở rộng chương trình lớp học sáng tạo và chương trình học bổng cho các em có năng khiếu. Tò he cũng mong muốn gợi ý cho các em nhỏ về một lựa chọn nghề nghiệp trong lĩnh vực sáng tạo nếu các em có khả năng. Qua 09 năm hoạt động, Tò he đã triển khai hơn 150 sân chơi nghệ thuật miễn phí cho hơn 1.000 trẻ em thiệt thòi tại 11 trung tâm bảo trợ xã hội, 03 trường tiểu học ở vùng sâu, vùng xa và sẽ tiếp tục mở rộng sân chơi tới những nơi xa hơn trên khắp đất nước.

Bên cạnh đó, Zó Project là dự án theo đuổi mục tiêu trở thành một DNXH hoạt động trong lĩnh vực bảo tồn và phát triển làng nghề giấy thủ công truyền thống của Việt Nam. Zó Project hướng tới gìn giữ và phát huy kỹ thuật làm giấy cổ xưa của dân dộc, song, có cải thiện quy trình làm giấy theo hướng bền vững về môi trường, tạo thêm giá trị cho giấy thủ công của Việt Nam bằng các sản phẩm thủ công có giá trị kinh tế cao[7].

DNXH ở Việt Nam đang góp phần chia sẻ trách nhiệm và gánh nặng xã hội với Nhà nước bằng các con đường riêng đầy sáng tạo, tiết kiệm, thiết thực và hiệu quả. DNXH cũng mở ra cơ hội cho phụ nữ và thế hệ trẻ đảm nhận vai trò lãnh đạo, góp phần hỗ trợ Chính phủ trong giải quyết các vấn đề xóa đói, giảm nghèo, hỗ trợ và nâng cao năng lực cho các nhóm yếu thế, bảo tồn thiên nhiên, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu; đào tạo kỹ năng nghề cho con em gia đình nghèo, người dân tộc thiểu số, người khuyết tật..., tạo cho họ việc làm ổn định, có thu nhập tương đối cao trong điều kiện chung của xã hội. Như vậy, khi một nền kinh tế ngày càng phát triển đi đôi với hàng loạt các vấn đề xã hội phát sinh về môi trường, giáo dục, y tế, thực phẩm, xử lý rác thải, dịch bệnh... thì sự đồng hành của DNXH cùng với Chính phủ để giải quyết các vấn đề xã hội là những đóng góp vô cùng có ý nghĩa.

2. Một số bất cập trong tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam hiện nay

Một là, trong thực thi pháp luật về doanh nghiệp xã hội

Chính thức được ghi nhận về mặt pháp lý từ Luật Doanh nghiệp năm 2014, điều đó thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với loại hình DNXH. Tuy nhiên, hoạt động theo cơ chế thị trường với triết lý kinh doanh gắn liền với xây dựng cuộc sống bền vững, giải quyết các vấn đề xã hội thay vì lợi nhuận thuần túy, song các quy định của pháp luật về DNXH ở Việt Nam hiện nay chưa có những quy định nhằm khuyến khích DNXH ra đời và phát triển. Thực trạng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, nhưng có thể chỉ ra hai nguyên nhân cơ bản là: (i) Các cá nhân, tổ chức nhận thấy khi chuyển sang mô hình DNXH, họ vừa tốn kém về thời gian và kinh phí, vừa chẳng nhận được những ưu đãi gì đặc biệt từ phía Nhà nước và cộng đồng, vì thế, họ không “tha thiết” với việc đăng ký kinh doanh theo mô hình DNXH; (ii) Một số cá nhân, tổ chức cho rằng, khi để cụm từ DNXH trước tên của doanh nghiệp khiến cho khách hàng nhầm lẫn rằng, doanh nghiệp của họ giống như các tổ chức chuyên làm từ thiện, vì vậy, họ không thuận lợi trong kinh doanh. Việc các cá nhân, tổ chức hoạt động như mô hình DNXH nhưng lại không đăng ký kinh doanh hoạt động theo mô hình DNXH khiến cho các cơ quan quản lý nhà nước khó xác định được sự phát triển cả về chất và lượng của DNXH một cách thực tế. Cùng với đó, phạm vi, lĩnh vực và ngành nghề hoạt động của các DNXH ở Việt Nam được bố trí chưa đồng đều, khiến cho Nhà nước gặp nhiều khó khăn trong quản lý dân cư và giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường. Xảy ra tình trạng này là do phần lớn các DNXH ở Việt Nam được hình thành từ sự tâm huyết của các doanh nhân xã hội là chủ yếu. Vì vậy, hoạt động ở đâu, hoạt động trong lĩnh vực gì là do DNXH tự quyết định theo nhu cầu và khả năng của mình. Việt Nam hiện nay vẫn thiếu cơ quan chuyên trách trợ giúp DNXH phát triển, nên dường như DNXH ở Việt Nam hiện nay thiếu hẳn sự định hướng trong tổ chức và hoạt động. Việc tiếp cận thông tin về ngành nghề, lĩnh vực, phạm vi hoạt động của các doanh nhân xã hội chưa kịp thời và đầy đủ, vì vậy, hoạt động của DNXH chưa theo một kế hoạch hay chiến lược cụ thể nào và gặp rất nhiều khó khăn trong tiếp cận các nguồn tài chính; kinh doanh trên các thị trường có rủi ro cao, lợi suất tài chính thấp nên không hấp dẫn các nhà đầu tư thương mại. Kết quả điều tra cấu trúc tài sản của DNXH cho thấy, phần lớn nguồn vốn của DNXH là vốn tự có (20,3%) và vốn tích lũy từ các hoạt động sản xuất - kinh doanh (45,4%), một phần nhỏ từ tài trợ (5,3%), vốn vay khác như ngân hàng, gia đình, bạn bè chỉ chiếm 28,8%, trong khi đây là nguồn vốn lưu động quan trọng cho phát triển sản xuất, kinh doanh. Các DNXH cũng còn yếu về năng lực quản lý điều hành và sự thiếu hụt những dịch vụ hỗ trợ và nâng cao năng lực phù hợp cho DNXH; truyền thông và phát triển thương hiệu cho các DNXH gặp nhiều khó khăn do nhận thức của cộng đồng về loại hình doanh nghiệp này còn hạn chế.

Hai là, những khó khăn do nhận thức của cộng đồng

Doanh nghiệp xã hội ra đời, phát triển từ lâu ở một số quốc gia trên thế giới và đã có những đóng góp rất quan trọng đối với nền kinh tế và xã hội. Đó là một trong những lý do mà DNXH luôn nhận được sự ủng hộ rất nhiệt tình cả về vật chất lẫn tinh thần từ cộng đồng. Ở Việt Nam, mô hình hoạt động như DNXH đã có trong thời kỳ bao cấp, tuy nhiên, thuật ngữ DNXH thì mới chính thức được ghi nhận từ Luật Doanh nghiệp năm 2014 và đang trong giai đoạn khởi đầu phát triển. Thực tế cho thấy, Luật Doanh nghiệp năm 2014 có hiệu lực gần 06 năm, song, số lượng DNXH đăng ký hoạt động với cơ quan đăng ký kinh doanh tính đến cuối tháng 4/2020 mới khoảng 140 doanh nghiệp. Điều đó chứng tỏ, mô hình DNXH chưa thực sự tạo ra sức hút mạnh mẽ đối với các nhà đầu tư. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do nhận thức của cộng đồng về DNXH phần nào còn hạn chế. Hiện nay, vẫn còn nhiều cá nhân, tổ chức chưa nhìn nhận đúng vị trí, vai trò của DNXH đối với nền kinh tế và xã hội; chưa thấy được sự cống hiến, những vất vả, khó khăn của DNXH trong quá trình tổ chức và hoạt động. Nhận thức của cộng đồng về DNXH bị hạn chế đã dẫn đến hệ quả là DNXH thiếu đi sự cảm thông, chia sẻ, ủng hộ cả về vật chất lẫn tinh thần từ cộng đồng. Phần lớn các sản phẩm mà DNXH cung cấp ra thị trường là được tạo ra từ đôi bàn tay của những người yếu thế (rất nhiều trong số đó là người khuyết tật hoặc bị hạn chế về bằng cấp và trình độ). Vì thế, DNXH rất khó khăn và vất cả trong việc đưa sản phẩm của mình đến tay người tiêu dùng. Nếu cộng đồng xã hội hiểu và nhận thức đúng về DNXH, thì họ dễ dàng cảm thông chia sẻ và sẵn sàng ủng hộ DNXH trong tổ chức, hoạt động. Một bộ phận dân cư trong cộng đồng xã hội có tâm lý hoài nghi về mục tiêu xã hội của DNXH vì họ đã quá quen với nếp nghĩ rằng, mục tiêu tối cao của doanh nghiệp phải là lợi nhuận. Chính vì hoài nghi như vậy, cho nên họ thiếu đi sự cảm thông và không sẵn lòng chia sẻ, ủng hộ DNXH.

Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền, giáo dục kiến thức về DNXH và pháp luật về DNXH ở nước ta còn hạn chế. Từ khi Luật Doanh nghiệp năm 2014 có hiệu lực, rất nhiều cuộc hội thảo trao đổi về DNXH và pháp luật về DNXH đã được tổ chức ở Việt Nam dưới các góc độ và quy mô khác nhau. Tuy nhiên, thành phần tham gia các cuộc hội thảo đó chủ yếu vẫn là các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, vì vậy, cộng đồng xã hội Việt Nam hiện nay vẫn đang thiếu những thông tin về DNXH. Việc thiếu đi sự tin tưởng, ủng hộ từ cộng đồng vô hình trung đã tạo ra những khó khăn nhất định cho DNXH trong quá trình tổ chức và hoạt động. Vì vậy, trong thời gian tới, công tác tuyên truyền, phát triển mô hình DNXH cần được đẩy mạnh hơn nữa.

Nguyễn Thị Diễm Anh

Khoa Luật, Đại học Công đoàn





[1]. Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Ban Các vấn đề xã hội và môi trường (2019), “Phát triển Doanh nghiệp xã hội tạo tác động tại Việt Nam”, xem tại: http://www.ncif.gov.vn/Pages/NewsDetail.aspx?newid=21874.

[2]. Hội đồng Anh, Tổ chức doanh nghiệp xã hội Vương quốc Anh, Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế trung ương (CIEM) (2019), Báo cáo nghiên cứu Hiện trạng doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam, Hà Nội.

[3]. Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Ban Các vấn đề xã hội và môi trường (2019), “Phát triển Doanh nghiệp xã hội tạo tác động tại Việt Nam”, xem tại: http://www.ncif.gov.vn/Pages/NewsDetail.aspx?newid=21874.

[4]. Hội đồng Anh, Tổ chức doanh nghiệp xã hội Vương quốc Anh, Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế trung ương (CIEM) (2019), Báo cáo nghiên cứu Hiện trạng doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam, Hà Nội.

[5]. Hội đồng Anh, Tổ chức doanh nghiệp xã hội Vương quốc Anh, Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế trung ương (CIEM) (2019), Báo cáo nghiên cứu Hiện trạng doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam, Hà Nội.

[6]. Hội đồng Anh, Tổ chức doanh nghiệp xã hội Vương quốc Anh, Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế trung ương (CIEM) (2019), Báo cáo nghiên cứu Hiện trạng doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam, Hà Nội.

[7]. Phát triển doanh nghiệp xã hội vì sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững, http://www.khoahockiemtoan.vn/741-1-ndt/phat-trien-doanh-nghiep-xa-hoi-vi-su-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-ben-vung.sav.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).

Theo dõi chúng tôi trên: