Thứ tư 26/08/2026 22:47
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực trạng bảo vệ quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Với tư cách là nhóm chủ thể dễ bị xâm phạm quyền trong xã hội, đặc biệt là quyền nhân thân, nhóm người dễ bị tổn thương rất cần có sự quan tâm đặc biệt trong việc hoạch định và thực thi chính sách pháp luật. Bài viết này góp phần chỉ ra những hạn chế, bất cập từ thực trạng bảo vệ quyền nhân thân của nhóm này trong phạm vi một số chủ thể điển hình.


Abstract: As a group of vulnerable subjects of rights in the society, especially personal rights, such people group needs a special concern in the planning and implementing law policy. This article contributes to point out limitations, inadequacies from the real situation of protection of personal rights of this group within some typical subjects.

Theo pháp luật quốc tế về quyền con người, nhóm người dễ bị tổn thương bao gồm: Phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, người cao tuổi, người sống chung với HIV, người di tản hoặc người tìm kiếm nơi lánh nạn, người không quốc tịch, người lao động di trú, người thiểu số (về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo…), người bản địa, nạn nhân chiến tranh, những người bị tước tự do…[1]. Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã rất chú trọng tăng cường các biện pháp nhằm bảo đảm tốt hơn quyền con người, đặc biệt, có nhiều chính sách quan tâm đến nhóm người dễ bị tổn thương.

1. Những thành tựu đáng ghi nhận

Thứ nhất, bảo vệ quyền nhân thân đối với trẻ em. Nhà nước Việt Nam luôn cam kết bảo vệ các quyền và lợi ích của trẻ em và tạo mọi điều kiện để trẻ em được thực thi đầy đủ các quyền của mình trong đó có nhóm quyền nhân thân, thể hiện trước hết qua các quy định của Hiến pháp (Điều 65) và một số văn bản pháp luật như: Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Lao động, Luật Giáo dục, Luật Đất đai, Luật Phòng, chống HIV/AIDS, Luật Bình đẳng giới, Luật Trợ giúp pháp lý, Luật Điện ảnh, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, Luật Tương trợ tư pháp. Đặc biệt, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (nay là Luật Trẻ em) đã cụ thể hóa các nguyên tắc cơ bản của Công ước quyền trẻ em mà Việt Nam là thành viên, trong đó nhấn mạnh nguyên tắc không phân biệt đối xử và vì lợi ích tốt nhất của trẻ; trao cho trẻ em nhiều quyền hơn[2], đồng thời, đã và đang xây dựng được hệ thống các cơ quan bảo vệ quyền trẻ em bao gồm: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Hội Bảo vệ quyền trẻ em, Hội Cứu trợ trẻ em khuyết tật, Hội Bảo trợ người khuyết tật và trẻ mồ côi Việt Nam. Hệ thống tổ chức của các cơ quan này được thiết lập và phát triển ở tất cả các cấp trong toàn quốc.

Thứ hai, bảo vệ quyền nhân thân đối với phụ nữ. Một trong những cam kết quan trọng và hành động thực chất của Việt Nam trong thời gian qua đó là cam kết vì sự tiến bộ của phụ nữ và bình đẳng giới, coi đó là một công cụ quan trọng để tiến tới công bằng và phát triển bền vững. Quan điểm này được thể hiện trong Hiến pháp, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động, Luật Giáo dục, Luật Đất đai, Luật Phòng, chống HIV/AIDS, Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình và nhiều văn bản pháp luật khác về bình đẳng giới. Việt Nam đang tích cực triển khai trên toàn quốc Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam, nhiều chỉ tiêu đã đạt so với kế hoạch đặt ra. Quan điểm giới cũng được lồng ghép vào nhiều văn bản quốc gia quan trọng như Chiến lược tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo, các chiến lược phát triển ngành... Hiện Việt Nam đang nỗ lực thực thi Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020. Việc hành động thực chất và quyết liệt của Nhà nước Việt Nam trong việc bình đẳng giới đối với phụ nữ đã tạo động lực để nhóm này tham gia, phát huy năng lực trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Phụ nữ hiện nay đã có vị thế nhất định, có tiếng nói, được tham gia vào nhiều công việc quan trọng...

Thứ ba, bảo vệ quyền nhân thân đối với nhóm dân tộc thiểu số. Chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam trong vấn đề dân tộc là các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng giúp nhau cùng tiến bộ. Nguyên tắc này được thể hiện trong Hiến pháp năm 2013 và các văn bản luật như: Luật Bầu cử Quốc hội, Luật Quốc tịch, Luật Đầu tư, Luật Ngân sách Nhà nước, Luật Công nghệ thông tin, Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Luật Giáo dục, Luật Xuất bản, Luật Thanh niên, Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em (nay là Luật Trẻ em), Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân, Luật Tương trợ tư pháp, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Bình đẳng giới, Luật Dạy nghề... Việc xây dựng hệ thống pháp luật này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền nhân thân của nhóm yếu thế này trong xã hội. Bên cạnh đó, hệ thống các cơ quan, tổ chức tham mưu và giúp thực hiện các quyền nhân thân của người dân tộc thiểu số bao gồm Ủy ban Dân tộc, Hội đồng Tư vấn dân tộc, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam với phạm vi hoạt động ở tất cả các cấp trong toàn quốc.

Văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số được quan tâm giữ gìn và phát triển. Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, di sản văn hóa vô giá của đồng bào dân tộc đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của thế giới. Tiếng nói và chữ viết của các dân tộc thiểu số đang được chú ý bảo tồn và ngày càng được sử dụng phổ biến hơn. Việt Nam có 30 dân tộc có chữ viết. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng 08 bộ giáo trình cho 08 thứ tiếng dân tộc thiểu số (Khơ-me, Chăm, Hoa, Ê-đê, Gia-rai, Ba-na, Thái và Mông), chính thức đưa vào dạy trong các trường tiểu học và trường phổ thông dân tộc ở 25 tỉnh có tỷ lệ người dân tộc thiểu số cao. Đài Truyền hình Việt Nam đã phát kênh VTV5 bằng 10 thứ tiếng dân tộc; Đài Tiếng nói Việt Nam đã tăng thời lượng phát sóng và sản xuất hơn 4.000 chương trình đặc biệt phát bằng 13 thứ tiếng dân tộc, giúp đồng bào dân tộc tiếp cận thông tin tốt hơn, thông qua đó, việc bảo vệ quyền nhân thân của họ cũng được bảo đảm hơn.

Thứ tư, bảo vệ quyền nhân thân với nhóm người khuyết tật. Hiện nay, Việt Nam có hơn 8 triệu người khuyết tật, chiếm hơn 7,8% dân số[3]. Nhà nước Việt Nam luôn khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho người khuyết tật thực hiện bình đẳng các quyền về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và phát huy khả năng của mình để ổn định đời sống, hòa nhập cộng đồng, tham gia các hoạt động xã hội. Quan điểm này phản ánh quy định trong Hiến pháp năm 2013 và được cụ thể hóa trong một số văn bản luật quan trọng như: Bộ luật Lao động, Luật Giáo dục, Luật Dạy nghề, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (nay là Luật Trẻ em), Luật Trợ giúp pháp lý, Luật Công nghệ thông tin, Luật Người khuyết tật... Nhiều người khuyết tật nặng, thương binh, bệnh binh, người bị di chứng chất độc da cam, trong đó có trẻ em, được Nhà nước trợ cấp và nuôi dưỡng. Mạng lưới chăm sóc sức khoẻ, phục hồi chức năng cho người khuyết tật đã được thiết lập từ trung ương đến cơ sở. Trong 10 năm qua, trên 300.000 người, trong đó có hàng chục ngàn trẻ em, được chỉnh hình phục hồi chức năng và cung cấp dụng cụ chỉnh hình miễn phí, được cung cấp phương tiện trợ giúp như xe lăn, xe đẩy; hàng trăm nghìn người khuyết tật được cấp thẻ bảo hiểm y tế. Việt Nam đang xây dựng mô hình giáo dục hòa nhập, chuyển đổi và thẩm định sách giáo khoa chữ phẳng sang chữ nổi Braille, xây dựng hệ thống ngôn ngữ ký hiệu, thống nhất hệ thống chữ cho người mù. Hàng năm, số trẻ khuyết tật đi học ở bậc trung học và bậc đại học đều tăng, nhiều học sinh khuyết tật đạt kết quả cao trong học tập. Cho đến nay có khoảng 100 cơ sở hướng nghiệp dạy nghề cho người khuyết tật và có khoảng 35.000 người khuyết tật được học nghề. Các công trình xây dựng công cộng, giao thông, văn hóa, thể dục thể thao đã được xây dựng, cải tạo để phù hợp hơn với chuẩn của người khuyết tật...

Thứ năm, bảo vệ quyền nhân thân với nhóm người lao động di trú. Lao động di trú là người lao động nước ngoài vào Việt Nam vì mục đích làm việc, kiếm thu nhập, đảm bảo “sinh kế” của họ và gia đình. Việc bảo vệ quyền nhân thân của nhóm người lao động di trú này có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy giao lưu lao động các quốc gia, thúc đẩy phát triển kinh tế mà cụ thể những quyền nhân thân “sát sườn” nhất đối với nhóm lao động này đó là quyền được làm việc, lao động, sáng tạo; quyền được bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm cũng như được bảo vệ quyền cơ bản khác của con người bình đẳng giữa các quốc gia. Pháp luật Việt Nam hiện hành đã xây dựng được hành lang pháp lý tương đối đầy đủ để hỗ trợ, bảo vệ quyền nhân thân cho nhóm lao động di trú này thông qua quy định trong Bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội, các quy chế bảo vệ công dân qua con đường ngoại giao, lãnh sự... Người lao động di trú được quyền tự do làm việc tại Việt Nam trên cơ sở nhu cầu sử dụng lao động từ người sử dụng lao động hoặc thông qua các dự án thầu có sử dụng lao động di trú[4], không có sự phân biệt đối xử trong quá trình làm việc, được trả lương bình đẳng và bảo đảm thu nhập như lao động Việt Nam, được tham gia các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, đặc biệt là được tham gia đầy đủ các chế độ bảo đảm về cả vật chất và tinh thần cũng như quyền nhân thân của lao động di trú được ghi nhận.

Thứ sáu, bảo vệ quyền nhân thân với nhóm người sống chung với HIV/AIDS. Pháp luật Việt Nam đã có những quy định cụ thể để bảo vệ quyền nhân thân của nhóm này, như nghiêm cấm thái độ và hành vi kỳ thị, phân biệt đối xử dưới bất kỳ hình thức nào với người mắc HIV/AIDS. Điều 4 Luật Phòng, chống HIV/AIDS ghi “quyền được học văn hóa, học nghề, làm việc”, tương ứng với quyền về lao động việc làm và quyền bình đẳng trong tiếp cận với giáo dục. Quyền này cũng ghi rõ trong Điều 59 và Điều 55 của Hiến pháp năm 2013. Những người có HIV/AIDS rất cần được sự hỗ trợ của gia đình và xã hội. Nếu bị kỳ thị và phân biệt đối xử, họ gần như mất chỗ dựa cả về vật chất và tinh thần, làm họ mất hết lòng tự tin và như bị dồn vào ngõ cụt. Ngay cả những đứa trẻ vô tội, ngây thơ cũng trở thành nạn nhân của sự kỳ thị và phân biệt của thế giới người lớn. Sau gần 30 năm thực thi các chính sách, cơ chế ưu tiên, Việt Nam đã thu được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần giảm số lượng người nhiễm mới, kéo dài thời gian sống cho người bệnh, xóa bỏ định kiến xã hội về HIV/AIDS, tăng cường phổ biến kiến thức về HIV/AIDS và phòng, chống HIV/AIDS tới cộng đồng dân cư, góp phần đẩy lùi tác động tiêu cực của HIV/AIDS lên cộng đồng, giảm nguy cơ tổn thương xã hội cho người bệnh cũng chính là tổn thương quyền nhân thân của họ[5].

2. Những vấn đề còn tồn tại, hạn chế

Bên cạnh những kết quả đạt được trong việc bảo vệ quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội, thời gian qua vẫn còn có một số hạn chế nhất định sau đây:

Một là, tình trạng trẻ em bị xâm hại tình dục và bị ngược đãi trong thời gian qua trở nên phổ biến và nghiêm trọng. Theo số liệu từ Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, những năm qua, cả nước có khoảng trên 5.300 vụ xâm hại tình dục trẻ em. Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng, con số này chỉ là những vụ việc được báo cáo, còn rất nhiều vụ nạn nhân bị chính kẻ xâm hại dọa dẫm hoặc vì lý do nào đó đã không được thống kê. Bên cạnh đó là tình trạng trẻ em bị ngược đãi, bạo hành ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe, tinh thần và sự phát triển của trẻ. Bạo lực, xâm hại trẻ em không chỉ diễn ra trong cộng đồng hay tại nơi làm việc mà còn diễn ra ngay tại gia đình, nhà trường và các cơ sở chăm sóc trẻ em tập trung. Đáng lo ngại là tình trạng ngược đãi, xâm hại, bạo lực, bóc lột trẻ em ít được cộng đồng chủ động tố giác, trình báo với các cơ quan chức năng. Nhiều vụ việc để kéo dài nhiều năm, khi tình trạng bạo lực, xâm hại trẻ em ở mức báo động nghiêm trọng mới được các phương tiện thông tin đại chúng phát giác trước công luận. Mặt khác, đa số các hành vi bạo lực, xâm hại trẻ em được thống kê chủ yếu dựa trên các tiêu chí về thể chất, chưa tính đến bạo lực, xâm hại về tinh thần. Do đó, số vụ bạo lực, xâm hại trẻ em bị phát hiện chỉ là một phần nhỏ so với thực tế[6]… Hiện tại, việc giao chức năng quản lý nhà nước về gia đình và trẻ em cho hai Bộ khác nhau quản lý không kèm theo các giải pháp hữu hiệu và khả thi nên các hoạt động trong hai lĩnh vực gia đình và trẻ em không được tiến hành đồng bộ, nên chưa phát huy được hiệu quả theo mong muốn. Bên cạnh đó, Chính phủ chưa ban hành các quy định về cơ chế phối hợp chặt chẽ trong quản lý nhà nước của hai lĩnh vực này, làm nảy sinh nhiều bất cập trong chỉ đạo và triển khai thực hiện nhiệm vụ của chính quyền nhiều địa phương.

Hai là, tình trạng phụ nữ bị bạo lực gia đình, bị phân biệt đối xử giữa nam và nữ giới trong nhiều lĩnh vực đời sống vẫn còn tồn tại và có thiên hướng phức tạp hơn. Bạo lực giới đang gây tổn thất to lớn đến tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và năng suất lao động quốc gia. Theo Liên Hợp Quốc, tại Việt Nam, bạo lực giới gây tổn thất gần 1,41% thu nhập GDP của Việt Nam vào năm 2010, tương đương với khoảng 2.536.000 tỉ đồng. Đồng thời, phụ nữ chịu bạo lực sẽ làm giảm 35% năng suất so với người không bị bạo lực[7]. Sau hơn 30 năm tham gia Công ước CEDAW (Công ước xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ), Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ. Tuy nhiên, tình trạng bạo lực gia đình, sự phân biệt trên cơ sở giới tính vẫn tồn tại, một nhóm không nhỏ phụ nữ vẫn đang phải chịu đựng tình trạng bất bình đẳng.

Không chỉ chịu nhiều thiệt thòi trong việc phân công việc làm hay trách nhiệm nặng nề ở mỗi gia đình của những người phụ nữ, mà ngay cả ở những đứa trẻ cũng vẫn xảy ra tình trạng phân biệt đối xử giữa bé trai và bé gái. Chênh lệch tỷ số giới tính khi sinh liên tục gia tăng. Nếu tình trạng này kéo dài sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự cân bằng giới tính trong dân số (năm 2016, cứ 100 bé gái được sinh ra thì có 113 bé trai cũng ra đời). Các chuyên gia lo ngại, nếu tỷ số giới tính tiếp tục gia tăng và ngày càng lan rộng như hiện nay thì vấn đề về mất cân bằng giới của Việt Nam trong 20 - 25 năm sau là hết sức nghiêm trọng. Sự phân biệt đối xử giữa nam và nữ giới trong những lĩnh vực đời sống đã làm giảm đi cơ hội của nữ giới, làm hạn chế sự phát triển và đi ngược lại với xu hướng chung của xã hội hiện đại.

Ba là, việc tiếp cận một số quyền nhân thân cơ bản của người thiểu số còn gặp nhiều khó khăn. Đối với nhóm người dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay, việc được gìn giữ và phát huy giá trị nhân thân gắn với đời sống tinh thần cộng đồng người dân tộc là một trong những mục tiêu quan trọng của Đảng và Nhà nước trong thời gian vừa qua. Về cơ bản, với chính sách đại đoàn kết toàn dân, người dân tộc thiểu số vẫn được bảo đảm các quyền của công dân cũng như quyền nhân thân của họ. Tuy nhiên, với đặc thù điều kiện kinh tế khó khăn, cơ sở hạ tầng còn nhiều hạn chế mà trong thời gian qua, quyền tiếp cận giáo dục, tri thức, được học tập của con em dân tộc thiểu số vẫn còn rất nhiều hạn chế, đặc biệt là hạn chế trong việc học tập tiếng Việt cũng như tiếng dân tộc của họ.

Bốn là, tình trạng kì thị, phân biệt đối xử đối với người khuyết tật vẫn còn tồn tại, quá trình hòa nhập cộng đồng của người khuyết tật còn nhiều khó khăn. Cho đến nay, vẫn còn nhiều người khuyết tật phải đối mặt với các rào cản khi họ hòa nhập với cộng đồng và thường phải sống bên lề của xã hội. Rào cản có thể được tạo dựng với rất nhiều hình thức, bao gồm những rào cản về môi trường vận động, về thông tin và công nghệ truyền thông, những rào cản do pháp luật hoặc chính sách và cả từ thái độ hoặc sự phân biệt đối xử của xã hội. Hiện tại, số người khuyết tật được học nghề hiện còn quá ít so với nhu cầu. Tỷ lệ người khuyết tật tìm được việc làm sau đào tạo nghề còn thấp. Vì vậy, rất cần có chính sách ưu đãi cho việc dạy nghề và tạo việc làm cho đối tượng chịu nhiều thiệt thòi này.

Năm là, việc bảo vệ quyền nhân thân của nhóm lao động di trú tại Việt Nam trong một số lĩnh vực chưa có sự hướng dẫn cụ thể dẫn đến hệ quả khó khăn khi tiếp cận quyền của nhóm đối tượng này. Sự thay đổi trong quan điểm quản lý, ban hành chính sách pháp luật hỗ trợ lao động di trú tại Việt Nam thời gian qua đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên, quyền được tham gia bảo hiểm xã hội, bảo đảm sức khỏe của lao động di trú vẫn chưa có văn bản hướng dẫn thực hiện. Theo Luật Bảo hiểm xã hội, người lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam sẽ phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đầu năm 2018, tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có Nghị định hướng dẫn chi tiết nên quy định này vẫn chưa được áp dụng. Qua khảo sát và lấy ý kiến một số doanh nghiệp trước đó, vẫn còn nhiều sự tranh cãi quanh việc nên đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động nước ngoài theo hướng bắt buộc hay tự nguyện.

Sáu là, người bị nhiễm HIV/AIDS vẫn phải chịu sự kì thị và phân biệt đối xử, bị ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền nhân thân của họ trong quá trình sinh hoạt, lao động và hòa nhập cộng đồng. Nhiều người trong cộng đồng vẫn còn hiểu biết mơ hồ về các con đường lây truyền của HIV, nên có thái độ hoài nghi, thậm chí còn lo sợ về việc lây nhiễm HIV thông qua các tiếp xúc thông thường hằng ngày với người bệnh dẫn tới áp dụng những biện pháp phòng tránh sự lây truyền không đúng và mang tính phân biệt đối xử. Đối diện với sự phân biệt đối xử của dư luận, người bệnh không còn nơi bấu víu. Không ít trường hợp phải sống những ngày cuối đời trong sự cô đơn, tuyệt vọng đến cùng cực. Ở các trung tâm chăm sóc giai đoạn cuối, không ít người bệnh tuyệt vọng với đôi mắt lúc nào cũng hướng ra ngoài, họ ngóng chờ một khuôn mặt, một giọng nói quen thuộc của người thân. Không ít trong số họ đã mắc thêm chứng bệnh thần kinh khi bị chính người thân sao nhãng, bỏ quên, coi như họ chưa từng tồn tại trên thế gian này. Đám tang của họ được tổ chức chóng vánh, làm cho xong vì không có người thân lo toan, đưa tiễn, không tiếng khóc xót thương, cũng không có những giọt nước mắt đớn đau chia ly dành cho người quá cố. Điều này đã và đang trực tiếp ảnh hưởng đến quyền nhân thân được bảo đảm tôn trọng danh dự, nhân phẩm của nhóm người yếu thế này.

Có thể nói, qua đánh giá thực trạng bảo vệ quyền nhân thân của nhóm “yếu thế” trong xã hội, trong thời gian tới, hệ thống pháp luật Việt Nam rất cần sự thay đổi toàn diện, tích cực để bảo vệ quyền nhân thân của họ, bảo đảm cho các cá nhân có cơ hội sống bình đẳng, cống hiến cho cộng đồng.

ThS. Phạm Hùng Cường

Viện Đại học Mở Hà Nội



1. Đỗ Hồng Thơm, Vũ Công Giao, Luật quốc tế về quyền của các nhóm người dễ bị tổn thương, Nxb. Lao động - Xã hội, 2010.

2. Xem thêm tại: http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=1910.

3. Xem thêm tại: https://vov.vn/xa-hoi/viet-nam-co-8-trieu-nguoi-khuyet-tat-702022.vov.

4. Xem thêm Nghị định số 11/2016/NĐ-CP ngày 3/2/2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam.

5. Xem thêm tại: https://baomoi.com/viet-nam-chu-trong-dam-bao-quyen-duoc-cham-soc-cua-nguoi-co-hiv-aids/c/24591717.epi.

6. Xem thêm tại: http://baochinhphu.vn/Xa-hoi/Bao-ve-tre-em-Chinh-phu-con-nhieu-viec-can-chi-dao-va-hanh-dong/324129.vgp.

7. Xem thêm tại: https://vov.vn/xa-hoi/tai-viet-nam-cu-3-phu-nu-thi-co-1-nguoi-bi-chong-bao-hanh-509301.vov.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: