Thứ bảy 07/02/2026 20:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực trạng cơ chế phối hợp liên ngành trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Bộ Tư pháp

Tóm tắt: Việc phối hợp giữa các cơ quan nhà nước giúp cung cấp thông tin, phương tiện kỹ thuật, chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ nguồn lực, tài chính, xác định nội dung và phạm vi trách nhiệm cho tổ chức, cá nhân được phân công thực hiện những nhiệm vụ chung nhằm đạt được mục tiêu thực hiện hiệu quả chính sách. Bài viết này phân tích về mối quan hệ phối hợp giữa Bộ Tư pháp với các bộ, ngành ở Trung ương, chỉ ra những hạn chế, bất cập và kiến nghị giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phối hợp.


Abstract: The coordination between state agencies helps to provide information, technical means, experience exchange, resource support, finance, determination of contents and responsibility scope for institutions, persons assigned with joint duties in order to effectively implement policy. This paper analyzes the coordination relationship between Justice Ministry and central ministries, branches, points out limitations, insufficiencies and proposes solutions for improving effect of coordination work.

1. Đặc trưng mối quan hệ phối hợp công tác liên ngành giữa Bộ Tư pháp với các bộ, ngành ở Trung ương

Khác với nhiều bộ, ngành khác trong Chính phủ, việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp có sự kết hợp, giao thoa của nhiều phương thức phối hợp khác nhau (theo cả chiều ngang, chiều dọc, bên trong, bên ngoài, đan xen …), với nhiều chủ thể khác nhau trong hệ thống chính trị, bao gồm: Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Văn phòng Chủ tịch nước; các cơ quan của Quốc hội; Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận; Phòng Thương mại và Công nghiệp thương mại Việt Nam (VCCI); chính quyền địa phương cấp tỉnh... Đây là quy trình bắt buộc theo quy định của pháp luật. Ví dụ, trong công tác xây dựng pháp luật, theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, việc thành lập ban soạn thảo, tổ biên tập phải có đại diện bắt buộc sự có mặt, tham gia của lãnh đạo một số bộ, ngành có liên quan. Luật quy định việc lấy ý kiến bắt buộc của một số cơ quan như Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp… Hoặc, theo Luật Thi hành án dân sự, Bộ Tư pháp phải phối hợp với Bộ Công an trong việc chỉ đạo cơ quan công an bảo vệ cưỡng chế thi hành án, phối hợp bảo vệ kho vật chứng của cơ quan thi hành án dân sự (THADS) trong trường hợp cần thiết; chỉ đạo trại giam, trại tạm giam nơi người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù thu các khoản tiền, tài sản mà người phải thi hành án, thân nhân của người phải thi hành án nộp để thi hành án (Điều 169). Phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao trong việc: Giải quyết yêu cầu, kiến nghị và chỉ đạo Tòa án các cấp giải quyết yêu cầu, kiến nghị của cơ quan THADS trong thời hạn theo quy định của pháp luật; chỉ đạo Tòa án các cấp phối hợp với các cơ quan liên quan trong tổng kết công tác THADS (Điều 170). Phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao kiểm sát và chỉ đạo Viện kiểm sát các cấp thực hiện việc kiểm sát THADS, tổng kết công tác THADS… Hoặc, theo Luật Quốc tịch, Bộ Tư pháp phải phối hợp với Bộ Ngoại giao trong việc tiếp nhận, thẩm tra hồ sơ của công dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đối với yêu cầu liên quan đến quốc tịch; phối hợp với Bộ Công an trong việc xác minh tình trạng nhân thân của công dân để giải quyết hồ sơ xin nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam…

2. Một số tồn tại, hạn chế và nguyên nhân

Qua nghiên cứu cho thấy, những vướng mắc, hạn chế trong công tác phối hợp thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Bộ Tư pháp chủ yếu xoay quanh những vấn đề như chậm tiến độ, thời gian so với yêu cầu công việc; chất lượng phối hợp không đảm bảo; sự tham gia các thiết chế phối hợp không đúng thành phần; nội dung phối hợp còn nhiều điểm chưa phù hợp; chủ thể và năng lực chủ thể phối hợp chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu; việc phối hợp còn dàn trải, không cần thiết trong nhiều trường hợp[1], trong đó, nguyên nhân là do:

- Từ phía những quy định của pháp luật liên quan còn có những vấn đề chưa thực sự phù hợp với điều kiện thực tế, như thủ tục hành chính trong quan hệ giải quyết công việc còn nhiều bất hợp lý; quy định về tổ chức bộ máy của nhiều bộ, ngành vẫn còn cồng kềnh, chưa tinh gọn; vấn đề về phân cấp, phân quyền, ủy quyền thực sự chưa đề cao tính độc lập, tự chủ, tự chịu trách nhiệm của người đứng đầu; phạm vi, nội dung phối hợp trong nhiều trường hợp chưa cụ thể, còn dàn trải, gây lãng phí thời gian và nguồn lực thực hiện; thiếu các quy định về chế tài, kiểm tra, giám sát, tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác phối hợp; định mức phân bổ kinh phí ngân sách hỗ trợ cho các hoạt động cần có sự phối hợp còn khá thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu, tính chất công việc; cơ chế cấp, phát chưa hợp lý…

- Từ thực tiễn quá trình thi hành pháp luật cũng cho thấy, nhận thức về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của của công tác phối hợp còn nhiều hạn chế. Vẫn còn tồn tại tư duy quản lý theo kiểu cũ, vốn thiếu sự tôn trọng trách nhiệm chung, trách nhiệm tập thể trong xử lý công việc; trì trệ, bị động, đùn đẩy, không còn phù hợp với nền công chức, công vụ chuyên nghiệp, hiện đại. Trong một số trường hợp, việc đề nghị phối hợp thực hiện công việc lại chủ yếu dựa vào quan hệ cá nhân, không đề cao quan hệ hành chính, công vụ. Về phạm vi, nội dung công việc cần phối hợp còn dàn trải, chưa tập trung, bám sát tình hình thực tiễn, chưa gắn với chức năng, nhiệm vụ cụ thể của cơ quan, đơn vị được đề nghị phối hợp; chưa phù hợp với trình độ, nhận thức và nhu cầu của đối tượng cần được phối hợp, nên việc trả lời theo yêu cầu phối hợp đôi khi còn mang nặng tính hành chính, hình thức. Quá trình phân công công việc trong một số trường hợp vẫn còn thiếu sự nhất quán khi chỉ định cơ quan, đơn vị đầu mối chủ trì thực hiện, cá biệt có những trường hợp hai cơ quan, đơn vị cùng được giao chủ trì thực hiện một công việc. Thủ tục hành chính trong quan hệ phối hợp thực hiện công việc còn nhiều tầng nấc trung gian[2], dẫn đến mất nhiều thời gian, thủ tục giải quyết; trong nhiều trường hợp, hồ sơ công việc đề nghị phối hợp không đầy đủ giấy tờ. Theo quy định của pháp luật, thời gian để giải quyết một công việc nào đó thường được tính theo tổng thời gian từ khâu đầu vào đến khi có kết quả đầu ra, tuy nhiên, trên thực tế đã phát sinh nhiều trường hợp do ách tắc ở một số khâu nào đó, làm cho thời gian “chết” khá nhiều trước khi được phân công đến người xử lý cuối cùng; hệ quả là thời gian vật chất còn lại dành cho giải quyết công việc không bảo đảm, cập rập, hiệu quả, chất lượng không cao. Hiệu quả hoạt động của một số thiết chế phối hợp mang tính vụ việc (làm việc theo nhóm) chưa cao, còn nặng về hành chính, hình thức, chưa đi vào thực chất; thành phần tham gia chưa đáp ứng được yêu cầu về năng lực chuyên môn và tính chất công việc, thiếu ý thức, kỷ luật hành chính, công vụ; cơ chế hoạt động của các thiết chế còn lỏng lẻo, chưa hiệu quả. Điều kiện bảo đảm thực hiện cơ chế phối hợp về kinh phí nói chung còn thấp, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu công việc; chủ yếu tập trung ở cơ quan, đơn vị được giao chủ trì thực hiện nhiệm vụ (chủ thể chủ động); còn đối với các chủ thể được đề nghị phối hợp (chủ thể bị động) thì không có, do vậy, trong nhiều trường hợp, chủ thể bị động muốn triển khai công việc bài bản, có chất lượng (nghiên cứu, phân tích, đánh giá, điều tra, khảo sát tình hình thực tiễn, tổ chức hội nghị, hội thảo, tham khảo ý kiến, thuê tư vấn chuyên gia…) thì cũng không có điều kiện để thực hiện. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong xử lý công việc còn hạn chế, lệ thuộc quá nhiều vào việc sử dụng văn bản giấy, chữ ký, con dấu truyền thống; đặc biệt là vấn đề xây dựng, vận hành quy trình xử lý công việc theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO thiếu đồng bộ, chồng chéo, chưa cập nhật.

3. Kiến nghị nâng cao hiệu quả công tác phối hợp liên ngành của Bộ Tư pháp trong thời gian tới

Trong điều kiện tình hình hiện nay, yêu cầu về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; thực thi Hiến pháp năm 2013; cải cách pháp luật; cải cách tư pháp; cải cách, tăng cường kỷ cương, kỷ luật hành chính; xây dựng Chính phủ kiến tạo, hành động, liêm chính, phục vụ người dân và doanh nghiệp... đã và đang đặt ra cho Bộ, Ngành Tư pháp nhiều trọng trách, khó khăn, phức tạp, luôn đòi hỏi phải duy trì và tăng cường hơn nữa sự phối, kết hợp chặt chẽ, hiệu quả với các cơ quan hữu quan trong thực hiện các chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước được giao[3]. Theo đó:

Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của công tác phối hợp liên ngành. Về phía Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, cần tiếp tục quan tâm chỉ đạo các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ tăng cường kỷ luật, kỷ cương, kỷ luật công việc; đề cao vai trò, tinh thần trách nhiệm của bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, xác định rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân, đặc biệt là trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong công tác quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực được phân công phụ trách. Trên cơ sở kết quả các mặt công tác, tiến hành kiểm điểm, phê bình nghiêm túc các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ tại các phiên họp giao ban định kỳ, đột xuất của Chính phủ và lấy đó làm tiêu chí báo cáo Quốc hội xem xét, đánh giá mức tín nhiệm khi Quốc hội tổ chức lấy phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn. Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các nghị định có liên quan, qua đó, cần quy định cụ thể và đề cao nguyên tắc về trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan có liên quan trong giải quyết công việc; quy định các hình thức chế tài phù hợp gắn với trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong việc không thực hiện đúng các yêu cầu phối hợp công việc... Về phía Bộ Tư pháp và các bộ, ngành Trung ương: Thường xuyên quan tâm tổ chức phổ biến, quán triệt sâu sắc đến các cấp ủy Đảng, chính quyền của cơ quan, đơn vị về vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác phối hợp trong chỉ đạo, điều hành thực hiện các hoạt động chuyên môn của bộ, ngành đối với tất cả cán bộ, công chức, viên chức, người lao động để mỗi người luôn phải ý thức được trách nhiệm công vụ của mình; kiên quyết loại ra khỏi bộ máy cơ quan nhà nước những cán bộ, công chức, viên chức, người lao động lười biếng, suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống, quan liêu, trì trệ, đùn đẩy trách nhiệm, không còn phù hợp với nền công vụ chuyên nghiệp, hiện đại. Nghiên cứu sửa đổi, hoàn thiện các quy chế phối hợp giữa Bộ Tư pháp với các bộ, ngành, địa phương bảo đảm thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ theo phân cấp, theo đó cần thống nhất về mặt hình thức, rõ ràng về nội dung, gắn với nguyên tắc, trách nhiệm, chủ thể, thời hạn xử lý công việc; chế tài công vụ; cơ chế phân bổ kinh phí hoạt động…

Thứ hai, hoàn thiện pháp luật về những vấn đề thuộc phạm vi quản lý ngành, lĩnh vực của Bộ Tư pháp có nội dung quy định liên quan đến cơ chế phối hợp liên ngành. Theo đó, trong quá trình tham mưu xây dựng, hoàn thiện pháp luật cần phải bám sát những nguyên tắc, định hướng chủ yếu như sau: Quy định cụ thể phạm vi, nội dung công việc cần phối hợp phù hợp và gắn với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân cần phải phối hợp; lượng hóa tối đa nội dung yêu cầu phối hợp theo các tiêu chí, số liệu cụ thể, phương pháp trách nghiệm vấn đề; mẫu hóa tất cả các biểu mẫu văn bản cần yêu phối hợp theo các tiêu chí nêu trên để thực hiện thống nhất trong phạm vi toàn quốc; cắt giảm triệt để các thủ tục hành chính không cần thiết, rườm rà, chồng chéo, làm thời gian xử lý kéo dài; phân cấp, phân quyền, ủy quyền theo hướng đề cao tính chủ động, sáng tạo, độc lập, tự chủ, tự chịu trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan, đơn vị; bổ sung các quy định về tăng cường kiểm tra, giám sát, tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác phối hợp, gắn với chế tài xử lý trong trường hợp không thực hiện, hoặc thực hiện không hiệu quả, không đúng chức trách của các chủ thể có liên quan trong quá trình phối hợp tham gia giải quyết công việc theo quy định của pháp luật; tăng định mức phân bổ kinh phí cho các hoạt động chuyên môn, đáp ứng đầy đủ yêu cầu, tính chất của mỗi công việc; bảo đảm hài hòa lợi ích giữa cơ quan, đơn vị chủ trì thực hiện công việc và cơ quan, đơn vị được đề nghị phối hợp thực hiện công việc; đơn giải hóa tối đa thủ tục xin cấp, phát, thanh quyết toán kinh phí để tập trung thời gian nhiều hơn cho các hoạt động nghiên cứu chuyên môn của cơ quan, đơn vị.

Thứ ba, tiếp tục kiện toàn cơ cấu tổ chức các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp theo hướng tinh gọn đầu mối, phù hợp với các yêu cầu về cải cách hành chính[4]; bảo đảm điểu kiện thực hiện các hoạt động cần có sự phối hợp như nguồn lực con người, tài chính, cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật, truyền thông... để triển khai công việc. Rà soát, cập nhật, sửa đổi, bổ sung ban hành mới các quy trình quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO cho phù hợp, tổ chức công bố dành cho các quy trình mới ban hành và công bố lại khi có sự điều chỉnh, mở rộng, thu hẹp phạm vi áp dụng hệ thống quản lý chất lượng phù hợp với Tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2008; tăng cường kiểm soát quá trình phối hợp thực hiện chương trình công tác của Bộ nhằm đánh giá khả năng và ý thức thực thi pháp luật liên quan đến phối, kết hợp quản lý ngành, lĩnh vực; phát hiện và tháo gỡ kịp thời những vướng mắc; thúc đẩy, động viên tinh thần làm việc cho các cán bộ, công chức hoàn thành tốt nhiệm vụ; áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm đối với các chủ thể phối hợp để đảm bảo trật tự, kỷ cương trong quản lý nhà nước. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, trao đổi, giao dịch qua tài liệu, biểu mẫu, chữ ký điện tử, dịch vụ công trực tuyến (online). Tăng cường công tác chỉ đạo, điều hành, theo đó cân xiết chặt kỷ cương, kỷ luật hành chính công vụ gắn với thực hiện nghiêm Quy chế làm việc của cơ quan, đơn vị; có hình thức xử lý thích đáng đối với những trường hợp cố tình vi phạm, gây ảnh hưởng đến tiến độ, hiệu quả công việc được phân công; đổi mới lề lối làm việc, hạn chế, cắt giảm và kết hợp một cách hợp lý số lượng các cuộc họp, các chuyến công tác địa phương nhưng vẫn bảo đảm yêu cầu công tác và quản lý.

Vương Toàn Thắng & Trần Hồng Hạnh

Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật, Bộ Tư pháp





1. Xem các báo cáo tổng kết công tác tư pháp hằng năm của Bộ Tư pháp.

2. Như quy trình sau: Từ Bộ trưởng → Thứ trưởng phụ trách (nội dung công việc, đơn vị) → Cấp vụ (Vụ trưởng → Phó Vụ trưởng chủ trì thực hiện) → Cấp phòng (Trưởng phòng → Phó trưởng phòng) → Chuyên viên trực tiếp xử lý công việc. Không chỉ như vậy mà trong quy trình này còn xuất hiện thêm các mối quan hệ phối hợp theo chiều ngang giữa: Bộ Tư pháp ↔ Bộ, ban, ngành Trung ương ↔ Địa phương; Lãnh đạo Bộ phụ trách chuyên môn ↔ Lãnh đạo Bộ phụ trách đơn vị; Đơn vị thuộc Bộ chủ trì ↔ Đơn vị thuộc Bộ phối hợp; Phòng + chuyên viên trực tiếp xử lý công việc ↔ Các phòng + chuyên viên khác có liên quan...

3. Điều 1 Nghị định số 96/2017/NĐ-CP ngày 16/8/2017 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp.

4. Tại: Nghị quyết số 10/NQ-CP ngày 03/02/2018 của Chính phủ ban hành chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; Kế hoạch số 07-KH/TW ngày 27/11/2017 của Bộ Chính trị thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW; Nghị quyết số 56/2017/QH14 ngày 24/11/2017 của Quốc hội về việc tiếp tục cải cách bộ máy hành chính nhà nước tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:

Theo dõi chúng tôi trên: