Thứ tư 05/08/2026 14:29
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực trạng pháp luật về kiểm soát quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn vào doanh nghiệp từ góc độ đại án Công ty CP Tập đoàn Vạn Thịnh Phát và Ngân hàng TMCP Sài Gòn

Với tư cách là luật sư tham gia bào chữa trong đại án Tập đoàn VTP - Ngân hàng SCB có sự quan tâm và nghiên cứu riêng của mình về vấn đề kiểm soát quyền sở hữu trong góp vốn thành lập doanh nghiệp, tác giả đã nghiên cứu những hành vi vi phạm của bị cáo Trương Mỹ Lan cùng các đồng phạm và các quy định của pháp luật có liên quan để có thể thấy được thực trạng của pháp luật hiện hành về kiểm soát quyền sở hữu trong góp vốn thành lập doanh nghiệp.

1. Đặt vấn đề

Kiểm soát việc góp vốn thành lập doanh nghiệp là vấn đề “nhức nhối”, làm tốn nhiều giấy mực và công sức nghiên cứu của các chuyên gia, nhà khoa học pháp lý. Vấn đề kiểm soát việc góp vốn để chống sở hữu chéo, chống việc thành lập công ty “ma” cũng đã và đang thu hút nhiều sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, các cơ quan quản lý nhà nước. Những tác động xấu của sở hữu chéo, những công ty “ma” có số vốn khổng lồ nhưng chỉ tồn tại trên giấy đến sự vận hành ổn định của nền kinh tế vẫn luôn khó lường, tiềm ẩn nhiều rủi ro có thể gây ra thiệt hại cực kỳ lớn đối với nền kinh tế. Cụ thể hơn, việc sở hữu chéo, thành lập các công ty “ma” có thể tác động sâu rộng đến toàn bộ nền kinh tế, đến nhiều mặt của đời sống xã hội, niềm tin của những nhà đầu tư, bao gồm cả nhà đầu tư chuyên nghiệp, tập đoàn, cho đến nhà đầu tư cá nhân, nhỏ lẻ, nhà đầu tư trong nước và nước ngoài.

Một ví dụ điển hình nhất đối với tác động xấu của sở hữu chéo, thành lập công ty “ma” đối với nền kinh tế là đại án Công ty cổ phần Tập đoàn Vạn Thịnh Phát (Tập đoàn VTP) - Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn (Ngân hàng SCB). Đại án này thuộc diện quản lý của Ban chỉ đạo trung ương về phòng, chống tham nhũng, hiện đang được đưa ra xét xử và thu hút được sự quan tâm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các cơ quan báo chí trong, ngoài nước và người dân.

Với tư cách là luật sư tham gia bào chữa trong đại án Tập đoàn VTP - Ngân hàng SCB có sự quan tâm và nghiên cứu riêng của mình về vấn đề kiểm soát quyền sở hữu trong góp vốn thành lập doanh nghiệp, tác giả đã nghiên cứu những hành vi vi phạm của bị cáo Trương Mỹ Lan cùng các đồng phạm và các quy định của pháp luật có liên quan để có thể thấy được thực trạng của pháp luật hiện hành về kiểm soát quyền sở hữu trong góp vốn thành lập doanh nghiệp. Từ đó, tác giả đưa ra những kiến nghị để từng bước sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định hiện hành cũng như ban hành mới các quy định trong phạm vi quyền sở hữu nhằm giảm thiểu tác động xấu của những hành vi vi phạm trong việc góp vốn thành lập doanh nghiệp đối với nền kinh tế.

2. Phương thức, thủ đoạn phạm tội của Trương Mỹ Lan và đồng phạm

Theo Cáo trạng số 219/Ctr-VKSTC-V3 ngày 13/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Cáo trạng số 219/Ctr-VKSTC-V3) thì Trương Mỹ Lan và đồng phạm đã thực hiện các phương thức, thủ đoạn phạm tội sau:

2.1. Thâu tóm cổ phần Ngân hàng SCB

Trương Mỹ Lan là chủ tịch của Tập đoàn VTP, bao gồm một tập hợp các Công ty con, Công ty liên kết. Để có nguồn vốn lớn phục vụ hoạt động của hệ sinh thái Công ty liên kết cũng như việc liên tục đầu tư, mua các dự án bất động sản, Trương Mỹ Lan đã tìm cách thâu tóm, chi phối, điều hành toàn bộ các hoạt động của Ngân hàng SCB, trong đó có hoạt động cho vay.

Thực tế, trước thời điểm hợp nhất các ngân hàng, Trương Mỹ Lan đã sở hữu cổ phần của cả 03 ngân hàng. Sau khi hợp nhất, Trương Mỹ Lan tiếp tục nhờ 73 cổ đông đứng tên sở hữu 85,606% cổ phần của Ngân hàng SCB, đồng thời tiếp tục mua và sử dụng cá nhân đứng tên cổ phần Ngân hàng SCB để tăng tỷ lệ sở hữu tại ngân hàng này lên 91,545% vào ngày 01/01/2018. Tính đến tháng 10/2022, Trương Mỹ Lan đã sở hữu, chi phối gần 1,4 triệu cổ phần Ngân hàng SCB, chiếm 91,536% vốn điều lệ, do 27 pháp nhân (trong và ngoài nước), cá nhân đứng tên giúp; trong đó Trương Mỹ Lan trực tiếp đứng tên sở hữu gần 76 triệu cổ phần, chiếm 4,982% vốn điều lệ.

2.2. Tuyển chọn, bố trí nhân sự để nắm quyền chi phối, chỉ đạo, điều hành toàn bộ hoạt động của Ngân hàng SCB

Trương Mỹ Lan đã tuyển chọn, đưa các cá nhân thân tín, có trình độ trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, nghe theo chỉ đạo của Trương Mỹ Lan vào các vị trí lãnh đạo chủ chốt tại Ngân hàng SCB (Hội đồng quản trị, Ban Tổng giám đốc, Giám đốc các chi nhánh lớn, Trưởng Ban kiểm soát), trả mức lương cao từ 200 - 500 triệu đồng/tháng; tặng, thưởng tiền, cổ phần Ngân hàng SCB, để thông qua các cá nhân này điều hành toàn bộ hoạt động của Ngân hàng SCB, trong đó có hoạt động cho vay.

Bằng cách thâu tóm, nắm giữ cổ phần, chi phối, điều hành hoạt động ngân hàng thông qua các đối tượng chủ chốt, Trương Mỹ Lan đã sử dụng Ngân hàng SCB như một công cụ tài chính, huy động tiền gửi và vốn từ các nguồn khác, sau đó chỉ đạo rút tiền bằng cách tạo lập các khoản vay khống, phục vụ cho mục đích cá nhân. Để rút được tiền từ Ngân hàng SCB, Trương Mỹ Lan đã điều hành, chỉ đạo các cá nhân thân tín, giữ vai trò chủ chốt tại Ngân hàng SCB và Tập đoàn VTP để chỉ đạo các đối tượng tại Ngân hàng SCB, Tập đoàn VTP thành lập nhiều bộ phận, đơn vị, công ty, thuê và sử dụng hàng nghìn cá nhân, câu kết chặt chẽ với nhau, thông đồng với các công ty thẩm định giá, triển khai rút tiền Ngân hàng SCB.

2.3. Thành lập các đơn vị thuộc Ngân hàng SCB chỉ để cho vay, giải ngân theo yêu cầu của Trương Mỹ Lan

Hoạt động của các chi nhánh Ngân hàng SCB chịu sự kiểm tra, kiểm soát của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh nên từ năm 2020, Trương Mỹ Lan đã chỉ đạo Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng SCB thành lập 03 đơn vị cho vay chỉ để phục vụ cho các khoản vay của Trương Mỹ Lan.

Điều đặc biệt của 03 đơn vị này là có chức năng cho vay như các chi nhánh nhưng trực thuộc quản lý điều hành của Hội sở Ngân hàng SCB, không có bộ phận kho quỹ và con dấu riêng mà sử dụng con dấu của đơn vị khác khi hoạt động và chỉ lập hồ sơ cho vay đối với các khoản vay của Trương Mỹ Lan.

2.4. Chỉ đạo, thành lập, sử dụng các công ty “ma”, thuê/nhờ các cá nhân để đứng tên hồ sơ vay, cổ phần, tài sản bảo đảm, ký hợp thức chứng từ rút, nộp tiền để tạo lập hồ sơ vay vốn khống

Việc thành lập các công ty “ma” được Trương Mỹ Lan giao cho các cá nhân khác tìm và thuê người đứng tên người đại diện theo pháp luật, cổ đông, thành viên công ty, chọn ngành nghề kinh doanh,… phù hợp với yêu cầu của Trương Mỹ Lan và đồng phạm. Kết quả điều tra xác định có 875 khách hàng của Ngân hàng SCB, bao gồm 440 pháp nhân, 435 cá nhân đứng tên 1.284 khoản vay được Trương Mỹ Lan chỉ đạo nhóm đối tượng tại Tập đoàn VTP thành lập, thuê hoặc nhờ người đứng tên.

Bản Kết luận điều tra số 35/BKLĐT-CSKT-P2 ngày 12/11/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an thì trong quá trình hoạt động, Tập đoàn VTP đã xây dựng hệ sinh thái Tập đoàn VTP với hơn 1.000 doanh nghiệp, gồm các công ty con, công ty thành viên trong và ngoài nước, chia thành nhiều tầng lớp, với hàng trăm cá nhân được thuê đứng tên đại diện pháp luật, hoặc là người có quan hệ họ hàng, cán bộ, công nhân viên Tập đoàn VTP.

2.5. Câu kết với các đối tượng là chủ sở hữu, đại diện theo pháp luật các công ty có liên quan để tạo lập khoản vay, cùng sử dụng, chiếm đoạt tiền của Ngân hàng SCB

Ngoài việc tạo lập các công ty “ma” đứng tên hồ sơ vay vốn, Trương Mỹ Lan còn câu kết và chỉ đạo các đối tượng là chủ sở hữu, đại diện theo pháp luật hoặc được giao quản lý các công ty thực có hoạt động để các công ty này đứng tên vay vốn để Trương Mỹ Lan và những đối tượng này sử dụng.

2.6. Tạo lập hồ sơ vay vốn khống để hợp thức việc rút tiền của Ngân hàng SCB

Mỗi khi cần rút tiền của Ngân hàng SCB, Trương Mỹ Lan chỉ đạo các cá nhân giữ những vị trí lãnh đạo tại Ngân hàng SCB lập phương án vay vốn khống để hợp thức khoản vay, đưa các cá nhân được thuê/nhờ đứng tên khoản vay, đứng tên tài sản, đại diện công ty “ma” đến ký vào hồ sơ vay vốn khống, hồ sơ thế chấp, hầu hết là ký vào các tờ giấy trắng đã được đánh dấu sẵn vị trí cần ký. Điều đặc biệt là hầu hết các khoản vay của Trương Mỹ Lan được giải ngân trước và thực hiện hợp thức hồ sơ vay sau.

2.7. Thông đồng, câu kết với các công ty thẩm định giá để cấp chứng thư nâng khống giá trị tài sản bảo đảm, đưa vào hồ sơ vay vốn; đưa tài sản bảo đảm không đủ pháp lý; không đăng ký giao dịch bảo đảm; rút tài sản có giá trị lớn hoán đổi bằng tài sản có giá trị thấp hơn

Để hợp thức hồ sơ, rút được tiền tại Ngân hàng SCB, Trương Mỹ Lan và các đồng phạm đã dùng nhiều tài sản chưa đủ điều kiện pháp lý, nâng khống giá để đưa vào làm tài sản bảo đảm cho các khoản vay. Sau đó, khi cần rút các tài sản có pháp lý có giả trị để bán hoặc sử dụng cho các mục đích khác, Trương Mỹ Lan đã chỉ đạo các đồng phạm thực hiện việc hoán đổi, rút các tài sản bảo đảm có giá trị ra khỏi Ngân hàng SCB, thay thế bằng các tài sản khác, hầu hết có giá trị thấp hơn tài sản đã rút ra. Để dễ dàng hoán đổi tài sản bảo đảm, Trương Mỹ Lan và các đồng phạm không đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định hoặc biến tướng thành “quyền tài sản” để tránh việc đăng ký giao dịch bảo đảm.

2.8. Lập phương án rút tiền, cắt đứt dòng tiền sau khi giải ngân

Để hợp thức việc rút tiền đã được Ngân hàng SCB giải ngân theo phương án khống, cắt đứt, che giấu dòng tiền, tránh sự phát hiện, xử lý của các cơ quan chức năng, Trương Mỹ Lan chỉ đạo những cá nhân có liên quan lập phương án thực hiện việc “giải quỹ” bằng việc lập hợp đồng hứa chuyển nhượng cổ phần khống để có thể sử dụng tiền mà không bị cơ quan chức năng kiểm tra, xử lý, đồng thời né tránh việc phải nộp thuế theo quy định của pháp luật, đồng thời phối hợp với các nhân đứng tên người thụ thưởng khoản vay để đến Ngân hàng SCB ký chứng từ rút, nộp tiền.

2.9. Bán nợ xấu cho công ty quản lý tài sản (VAMC), bán nợ các khoản cấp tín dụng trả chậm cấn trừ nợ để giảm dư nợ tín dụng và giảm tỷ lệ nợ xấu

Khi các khoản vay khống quá hạn, phải hạch toán nợ xấu nhóm 5, trong khi tỷ lệ tăng trưởng tín dụng bị hạn chế theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, Trương Mỹ Lan không trả nợ xấu mà còn chỉ đạo đồng phạm thực hiện thủ đoạn bán nợ xấu cho VAMC và bán nợ trả chậm cho chính các công ty “ma” do nhóm Tập đoàn VTP thành lập để che giấu một phần số nợ xấu, không phải hạch toán lãi, giảm dư nợ tín dụng nhằm tiếp tục chiếm đoạt tiền của SCB.

2.10. Mua chuộc cán bộ, lãnh đạo các cơ quan có thẩm quyền

Để che giấu hành vi phạm tội khi bị thanh tra, kiểm tra, Trương Mỹ Lan đã chỉ đạo các cán bộ chủ chốt của Ngân hàng SCB mua chuộc cán bộ, lãnh đạo Cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh, Tổ trưởng Tổ giám sát tăng cường tại Ngân hàng SCB để các cá nhân có thẩm quyền bưng bít, che giấu thông tin sai phạm, báo các kết quả thanh, kiểm tra không trung thực, không đầy đủ.

3. Những phương thức, thủ đoạn phạm tội của Trương Mỹ Lan và đồng phạm có liên quan đến quy định về kiểm soát tài sản góp vào doanh nghiệp

Với quy định của pháp luật hiện hành về quyền sở hữu và kết quả điều tra, truy tố việc thực hiện các phương thức, thủ đoạn phạm tội được nêu tại Cáo trạng thì có thể thấy có 02 phương thức, thủ đoạn phạm tội của Trương Mỹ Lan và đồng phạm có liên quan đến pháp luật về quyền sở hữu. Cụ thể là những phương thức, thủ đoạn phạm tội sau: (i) Thâu tóm cổ phần Ngân hàng SCB và (ii) Chỉ đạo, thành lập, sử dụng các công ty “ma”, thuê/nhờ các cá nhân để đứng tên hồ sơ vay, cổ phần, tài sản bảo đảm, ký hợp thức chứng từ rút, nộp tiền để tạo lập hồ sơ vay vốn khống.

Theo Cáo trạng số 219/Ctr-VKSTC-V3 thì kết quả điều tra xác định: Về mặt pháp lý, Ngân hàng SCB và các công ty thuộc hệ sinh thái Tập đoàn VTP hạch toán tài chính kế toán, kê khai báo cáo thuế độc lập, nhưng về bản chất, các pháp nhân này được Trương Mỹ Lan thành lập mới hoặc mua lại cổ phần, vốn góp của các công ty khác. Bên cạnh đó, Trương Mỹ Lan và các đồng phạm chỉ định người thân quen hoặc thuê, nhờ các cá nhân khác đứng tên hộ. Do vậy, thông qua việc mua lại cổ phần, phần vốn góp, các pháp nhân này đều thuộc sở hữu và chịu sự điều hành của Trương Mỹ Lan.

Như vậy, để có thể biến Ngân hàng SCB thành công cụ để phục vụ cho mục đích riêng của mình, Trương Mỹ Lan đã tìm cách thâu tóm, trở thành chủ sở hữu phần lớn cổ phần của Ngân hàng SCB để có quyền chi phối, điều hành toàn bộ các hoạt động của Ngân hàng này. Tuy nhiên, việc công khai là chủ sở hữu phần vốn góp, cổ phần tại các công ty thuộc hệ sinh thái Tập đoàn VTP cũng như của Ngân hàng SCB là không thể vì sẽ vi phạm các quy định của pháp luật. Chính vì vậy, Trương Mỹ Lan và các đồng phạm phải tìm cách lách luật, tìm những kẽ hở của pháp luật để có thể thực hiện được hành vi của mình.

Qua đó, có thể thấy còn tồn tại nhiều vấn đề về thực trạng của pháp luật hiện hành điều chỉnh vấn đề quyền sở hữu thực sự của các phần vốn góp trong việc thành lập doanh nghiệp hoặc sở hữu cổ phần của những doanh nghiệp đã tồn tại. Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng của pháp luật về vấn đề này vẫn luôn là một vấn đề bức thiết trong giai đoạn hiện nay.

4. Thực trạng pháp luật hiện hành trong kiểm soát quyền đối với tài sản vốn góp thành lập doanh nghiệp

4.1. Về chủ thể có quyền thành lập, góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp và quản lý doanh nghiệp

Theo quy định tại khoản 3 Điều 17 Luật Doanh nghiệp năm 2020 thì:

“Tổ chức, cá nhân có quyền góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp vào công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh theo quy định của Luật này, trừ trường hợp sau đây:

a) Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp để thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;

b) Đối tượng không được góp vốn vào doanh nghiệp theo quy định của Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức, Luật Phòng, chống tham nhũng”.

Với quy định nêu trên thì mọi tổ chức, cá nhân đều được quyền góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp vào công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh nếu không thuộc các trường hợp bị cấm theo quy định tại điểm a, điểm b khoản 3 Điều 17 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

Chính vì quy định này mà đã có hơn một ngàn cá nhân được Trương Mỹ Lan và đồng phạm thuê đứng tên thành lập các doanh nghiệp “ma” để giúp Trương Mỹ Lan thực hiện được mục tiêu của mình. Những cá nhân này thực chất không phải là chủ sở hữu của nguồn vốn góp vào doanh nghiệp, cũng không thực sự là người có quyền sử dụng nguồn vốn góp đó. Thực chất, những cá nhân chỉ đứng tên thành lập các doanh nghiệp, chỉ là người được thuê, còn mọi hoạt động của doanh nghiệp, kể cả quyền sử dụng, quyết định đối với nguồn vốn góp và doanh nghiệp lại do Trương Mỹ Lan và các đồng phạm giữ quyền kiểm soát và ra quyết định, thực hiện các hoạt động có liên quan.

4.2. Về tài sản góp vốn và các hành vi bị cấm đối với tài sản góp vốn

Theo quy định tại khoản 1 Điều 34 Luật Doanh nghiệp năm 2020 thì: “Tài sản góp vốn là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam”.

Theo quy định tại khoản 17 Điều 4 Luật Giá năm 2023 thì: “Tài sản thẩm định giá bao gồm tài sản, hàng hóa, dịch vụ, được cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu thẩm định giá theo nhu cầu hoặc các trường hợp pháp luật quy định phải thẩm định giá”.

Như vậy, có thể thấy tài sản có thể được sử dụng để làm tài sản góp vốn vào doanh nghiệp có phạm vi rất rộng. Đối chiếu với quy định tại Điều 105 và Điều 115 Bộ luật Dân sự năm 2015 và quy định nói trên của Luật Giá năm 2023 thì tài sản góp vốn vào doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020 vừa có thể là động sản, vừa có thể là bất động sản, vừa có thể là quyền tài sản.

Chính phạm vi rất rộng của các loại tài sản có thể được sử dụng để góp vốn vào doanh nghiệp đã tạo nên “kẽ hở” có thể bị lợi dụng để trục lợi từ việc góp vốn vào doanh nghiệp. Đồng thời, việc định giá tài sản góp vốn cũng còn “kẽ hở” dễ dàng bị lợi dụng. Cụ thể:

- Đối với trường hợp góp vốn thành lập doanh nghiệp thì khoản 2 Điều 36 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định: “Tài sản góp vốn khi thành lập doanh nghiệp phải được các thành viên, cổ đông sáng lập định giá theo nguyên tắc đồng thuận hoặc do một tổ chức thẩm định giá định giá. Trường hợp tổ chức thẩm định giá định giá thì giá trị tài sản góp vốn phải được trên 50% số thành viên, cổ đông sáng lập chấp thuận”.

- Đối với những doanh nghiệp đã đi vào hoạt động thì khoản 3 Điều 36 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định: “Tài sản góp vốn trong quá trình hoạt động do chủ sở hữu, Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh, Hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần và người góp vốn thỏa thuận định giá hoặc do một tổ chức thẩm định giá định giá. Trường hợp tổ chức thẩm định giá định giá thì giá trị tài sản góp vốn phải được người góp vốn và chủ sở hữu, Hội đồng thành viên hoặc Hội đồng quản trị chấp thuận”. Định giá là một công việc đòi hỏi chuyên môn cao, tuy nhiên, những quy định tại khoản 3 Điều 36 Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã “linh động” tạo điều kiện cho các thành viên, cổ đông sáng lập hoặc chủ sở hữu, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị thỏa thuận với chính người góp vốn. Những quy định này là tiền đề cho việc định giá không đúng với thực tế đối với giá trị của tài sản góp vốn vào doanh nghiệp. Thực tế cho thấy, đa số các cổ đông/thành viên sáng lập không có chuyên môn, nghiệp vụ để định giá tài sản góp vốn. Vì vậy, việc định giá sai rất dễ xảy ra. Trong khi đó, Luật Doanh nghiệp chưa phân định cụ thể tỷ lệ trách nhiệm giữa cổ đông/thành viên góp vốn và các cổ đông/thành viên định giá khi định giá sai giá trị tài sản góp vốn khiến việc giải quyết hậu quả rất khó khăn[1].

Đó là chưa kể đến chất lượng của hoạt động định giá chuyên nghiệp hiện nay cũng có nhiều vấn đề cần phải cải thiện. Trong đó đặc biệt là chất lượng hoạt động hành nghề thẩm định giá cần được tiếp tục củng cố, nâng cao[2].

Như vậy, từ những bất cập về quy định đối với quyền tự định giá của các thành viên sáng lập hoặc của chính doanh nghiệp sau khi đã đi vào hoạt động cũng như thực trạng của hoạt động định giá tại Việt Nam đã tạo ra những rủi ro định giá sai so với giá trị của tài sản góp vốn vào doanh nghiệp. Rủi ro này thể hiện ở chỗ có thể tài sản được sử dụng để góp vốn vào doanh nghiệp không được định giá đúng giá trị, có thể bị nâng khống hoặc định giá thấp hơn so với giá trị thực.

Mặc dù hành vi định giá tài sản góp vốn không đúng giá trị là hành vi bị cấm theo quy định tại khoản 5 Điều 16 Luật Doanh nghiệp năm 2020. Tuy nhiên, quy định này của Luật Doanh nghiệp năm 2020 chỉ cấm đối với hành vi “cố ý” định giá không đúng giá trị. Việc xác định thế nào là “cố ý” luôn là một thách thức không nhỏ và có thể phải trải qua cả một quá trình tố tụng phức tạp mới có thể xác định được thế nào là một hành vi cố ý. Cũng chính vì sự phức tạp này mà không phải cơ quan quản lý đăng ký doanh nghiệp nào cũng sẵn lòng muốn chứng minh mà phần lớn là tin tưởng vào giá trị của tài sản do các công ty thẩm định giá xác định. Từ đó, có thể phát sinh trường hợp định giá không đúng với giá trị của tài sản góp vốn vào doanh nghiệp.

4.3. Về giới hạn tối đa đối với tài sản góp vốn vào doanh nghiệp là các tổ chức tín dụng

Theo quy định tại khoản 1 Điều 55 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 đến ngày 01/7/2024 có hiệu lực, quy định tại Điều 63) thì một cổ đông là cá nhân không được sở hữu vượt quá 05% vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng. Tuy nhiên, trên thực tế, việc kiểm soát ngưỡng giới hạn này lại không phải là việc dễ dàng thực hiện.

Theo Cáo trạng số 219/Ctr-VKSTC-V3 thì với phương thức, thủ đoạn phạm tội của mình, Trương Mỹ Lan đã nhờ các cổ đông đứng tên và trực tiếp mua cổ phần của SCB để tăng tỷ lệ sở hữu tại ngân hàng này lên đến 91,545% vào ngày 01/01/2018. Từ việc sở hữu với tỷ lệ gần như tuyệt đối tại Ngân hàng SCB mà Trương Mỹ Lan đã có thể chi phối toàn bộ hoạt động của Ngân hàng SCB và biến Ngân hàng SCB thành công cụ để mình và các đồng phạm thực hiện hành vi phạm tội.

Hành vi thâu tóm cổ phần Ngân hàng SCB của Trương Mỹ Lan không phải được thực hiện trong một thời gian ngắn mà thực tế là diễn ra trong nhiều năm. Điều này đã minh chứng cho sự phức tạp, khó khăn trên thực tế trong việc kiểm soát tỷ lệ sở hữu cổ phần của các cá nhân trong tổ chức tín dụng. Làm cho các quy định của pháp luật khó có thể được thực thi trong thực tiễn. Vì vậy, rất cần phải có cơ chế, các quy định sửa đổi, bổ sung kịp thời để khắc phục tình trạng này.

4.4. Về quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn vào doanh nghiệp

Theo quy định tại khoản 2 Điều 34 Luật Doanh nghiệp năm 2020 thì: “Chỉ cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu hợp pháp hoặc có quyền sử dụng hợp pháp đối với tài sản quy định tại khoản 1 Điều này mới có quyền sử dụng tài sản đó để góp vốn theo quy định của pháp luật”.

Như vậy, người góp vốn thành lập doanh nghiệp có thể vừa là chủ sở hữu đối với tài sản góp vốn, vừa có thể là người có quyền sử dụng hợp pháp đối với tài sản góp vốn.

Quy định này đã tạo nên “kẽ hở” cho việc lợi dụng “quyền sử dụng hợp pháp” đối với tài sản góp vốn vào doanh nghiệp. Cụ thể, người góp vốn có thể chỉ cần thể hiện là mình có quyền sử dụng đối với tài sản góp vốn, có thể thông qua văn bản ủy quyền là đã có thể sử dụng tài sản thuộc sở hữu của người khác để góp vốn vào thành lập doanh nghiệp.

Pháp luật hiện nay cũng chưa có quy định cơ quan đăng ký có quyền yêu cầu người đứng tên phần góp vốn vào doanh nghiệp giải trình về việc vì sao được ủy quyền và phạm vi ủy quyền là gì và cũng chưa có cơ chế để cơ quan đăng ký doanh nghiệp tiến hành kiểm tra, xác minh đối với tài sản góp vốn vào doanh nhiệp.

Thoạt nhìn thì thấy quy định cho phép người có quyền sử dụng hợp pháp đối với tài sản có quyền dùng tài sản đó để góp vốn vào doanh nghiệp là một quy định linh hoạt, khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia đăng ký thành lập doanh nghiệp. Nhưng thực tế, quy định này lại tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Bởi lẽ, cá nhân có quyền sở hữu tài sản có thể rơi vào một trường hợp bị cấm góp vốn vào thành lập doanh nghiệp hoặc vì một lý do nào đó để vụ lợi, lách luật nên đã ủy quyền cho người khác quyền sử dụng tài sản để người đó đứng ra thành lập doanh nghiệp. Sau khi doanh nghiệp được thành lập xong thì người có quyền điều hành doanh nghiệp lại chính là người có quyền sở hữu tài sản chứ không phải là người được ủy quyền sử dụng tài sản góp vốn.

Việc lợi dụng “kẽ hở” này không chỉ có trong giai đoạn thành lập doanh nghiệp mà còn có thể bị lợi dụng sau khi doanh nghiệp đã được thành lập thông qua việc các thành viên góp vốn thành lập doanh nghiệp tiến hành thay đổi tài sản góp vốn, hoặc bổ sung tài sản góp vốn để đăng ký tăng vốn cho doanh nghiệp.

Việc Trương Mỹ Lan và đồng phạm có thể thành lập được hơn 1.000 doanh nghiệp “ma” cũng chính là ở việc lợi dụng triệt để quy định này về quyền (bao gồm cả quyền sở hữu hoặc chỉ cần có quyền sử dụng đối với tài sản góp vốn) đối với tài sản góp vốn vào doanh nghiệp, gây ra thiệt hại đặc biệt lớn cho Ngân hàng SCB nói riêng và nền kinh tế nói chung. Từ thực tiễn này có thể thấy tính cấp thiết của việc cần phải có phương án sửa đổi, bổ sung quy định hiện hành để có thể giảm thiểu các rủi ro, thiệt hại trong tương lai đối với nền kinh tế.

5. Kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định hiện hành về kiểm soát đối với tài sản góp vốn vào doanh nghiệp

Thứ nhất, về chủ thể góp vốn thành lập doanh nghiệp.

Từ những phân tích trên đây có thể thấy cần phải cân nhắc để sửa đổi, bổ sung các quy định hiện hành theo hướng chỉ những cá nhân, tổ chức có quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn vào doanh nghiệp (tức là bãi bỏ quy định hiện hành đối với người chỉ có quyền sử dụng hợp pháp đối với tài sản góp vốn vào doanh nghiệp cũng được đứng tên góp vốn vào doanh nghiệp) thì mới được quyền trở thành thành viên góp vốn thành lập doanh nghiệp mới hoặc doanh nghiệp đã đi vào hoạt động.

Tác giả cho rằng, quy định này nếu được ban hành sẽ hạn chế được tình trạng người có quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn rơi vào những trường hợp bị cấm góp vốn thành lập doanh nghiệp hoặc vào các doanh nghiệp đã đi vào hoạt động (như trường hợp cá nhân bị giới hạn tỷ lệ sở hữu cổ phần trong tổ chức tín dụng), ủy quyền cho người khác sử dụng tài sản của mình để góp vốn vào doanh nghiệp nhằm né tránh các quy định cấm của pháp luật.

Thứ hai, về nguồn gốc tài sản góp vốn vào doanh nghiệp.

Nếu chỉ dừng lại ở quy định chỉ có những người có quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn mới được đứng tên góp vốn vào doanh nghiệp thì vẫn có thể phát sinh trường hợp giả tạo giao dịch chuyển nhượng tài sản góp vốn. Giao dịch này chỉ là giao dịch giả tạo nhằm che lấp tình trạng bị hạn chế hoặc bị cấm theo quy định của pháp luật đối với chủ sở hữu thực sự của tài sản góp vốn. Ẩn sau giao dịch chuyển nhượng giả tạo này là một thỏa thuận giữa chủ sở hữu thực của tài sản góp vốn và người nhận chuyển nhượng tài sản góp vốn một cách giả tạo. Để theo đó, người chủ sở hữu thực của tài sản góp vốn vẫn có quyền chi phối, điều hành mọi hoạt động của doanh nghiệp.

Do đó, tác giả cho rằng rất nên cân nhắc bổ sung quy định chứng minh nguồn gốc hình thành của tài sản góp vốn, hay nói cách khác là chứng minh quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn vào doanh nghiệp của các cá nhân, tổ chức đứng tên tài sản góp vốn. Bên cạnh đó, cũng cần cân nhắc ban hành các quy định pháp luật để tạo nên quyền được điều tra, xác minh nguồn gốc hình thành, quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn của cơ quan đăng ký doanh nghiệp.

Thứ ba, về quyền định giá đối với tài sản góp vốn vào doanh nghiệp.

Để hạn chế được những rủi ro cũng như tránh những hệ lụy từ việc định giá tài sản góp vốn vào doanh nghiệp, tác giả cho rằng nên có những quy định sửa đổi, bổ sung như sau:

(i) Quy định danh mục những tài sản mà doanh nghiệp hoặc các thành viên góp vốn được quyền tự thỏa thuận xác định giá trị. Còn lại, những tài sản khác mà việc định giá phức tạp thì bắt buộc phải qua thủ tục thẩm định giá chuyên nghiệp theo quy định của pháp luật về thẩm định giá.

(ii) Bãi bỏ quy định chỉ có những hành vi “cố ý” định giá sai mới bị cấm mà cần phải có quy định “cấm mọi hình thức định giá sai” để các chủ thể có liên quan hết sức cẩn trọng trong việc định giá. Khi đó, các thành viên góp vốn hay các doanh nghiệp cho dù ở trong trường hợp được quyền tự thỏa thuận định giá tài sản góp vốn cũng sẽ phải hết sức cẩn trọng.

Với những phân tích và đề suất từ thực trạng hoạt động góp vốn vào doanh nghiệp cũng như các quy định hiện hành về kiểm soát quyền sở hữu đối với tài sản dùng để góp vốn vào doanh nghiệp có thể thấy yêu cầu cần tăng cường kiểm soát quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn vào doanh nghiệp là một yêu cầu cấp thiết. Yêu cầu này hoàn toàn phù hợp với thực trạng của hoạt động đăng ký doanh nghiệp, đăng ký thay đổi vốn góp và sự khiếm khuyết hiện nay của hệ thống các quy định pháp luật về vấn đề này. Kiểm soát tốt quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn vào doanh nghiệp sẽ hạn chế được rất lớn khả năng thành lập các doanh nghiệp “ma”, các doanh nghiệp có số vốn khổng lồ nhưng thực chất lại là vốn ảo. Từ đó, sẽ góp phần làm lành mạnh hoạt động kinh doanh trên thị trường, tránh được các rủi ro liên quan đến quyền sở hữu tài sản góp vốn khi những tài sản này trở thành tài sản được dùng bảo đảm cho các khoản vay tín dụng.

ThS. LS. Ngô Quí Linh

Giám đốc Công ty Luật TNHH MTV Mai Đăng Khang

Ảnh: internet


[1] ThS.NCS. Nguyễn Ngọc Huy (2023), Định giá tài sản góp vốn thành lập doanh nghiệp: Từ luật thực định đến thực tiễn áp dụng, https://lsvn.vn/dinh-gia-tai-san-gop-von-thanh-lap-doanh-nghiep-tu-lua-t-thu-c-di-nh-de-n-thu-c-tie-n-a-p-du-ng-1688658436.html.

[2] Nguyễn Anh Tuấn (2022), Hoàn thiện quản lý nhà nước về thẩm định giá tại Việt Nam đến năm 2030, https://mof.gov.vn/webcenter/portal/vclvcstc/pages_r/l/chi-tiet-tin?dDocName=MOFUCM229120.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Trong đợt tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật năm 2026 - một nhiệm vụ trọng yếu được triển khai theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới - nguyên tắc “6 rõ” đã được xác lập như một chuẩn mực kỹ thuật và quản trị cốt lõi. Nội dung của nguyên tắc này bao gồm: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền và rõ kết quả.
Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Ngày 30/7 hằng năm được Đại hội đồng Liên hợp quốc chọn là Ngày Thế giới phòng, chống mua bán người (World Day Against Trafficking in Persons) nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về những hậu quả nghiêm trọng của tội phạm mua bán người, đồng thời kêu gọi các quốc gia tăng cường hợp tác, triển khai các giải pháp phòng ngừa, đấu tranh và bảo vệ nạn nhân.
"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

Ngày 23/3/2026, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đã ban hành Chỉ thị số 09-CT/TU về nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi công vụ; siết chặt kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm của cán bộ, nhất là người đứng đầu trong giai đoạn phát triển mới của Thủ đô Hà Nội (Chỉ thị số 09-CT/TU). Theo đó, Thành phố xác định rõ việc định vị hình ảnh và giá trị cốt lõi của Thủ đô với 09 đặc trưng "Thủ đô văn hiến - kết nối toàn cầu - thanh lịch, hào hoa - phát triển hài hòa - thanh bình, thịnh vượng - chính quyền phục vụ - doanh nghiệp cống hiến - xã hội niềm tin - người dân hạnh phúc", lấy "Văn hiến - bản sắc - sáng tạo" làm trục giá trị xuyên suốt.
Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng gắn với kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động giám sát, góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 được thông qua trên cơ sở kế thừa, bổ sung nhiều quy định mới về nguyên tắc định hướng, chủ thể giám sát, nội dung và quy trình để hoạt động giám sát đạt hiệu quả, chất lượng. Việc gắn kết giữa hoạt động giám sát với việc hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương có tính chất tương hỗ để hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Việc Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội thông qua cơ chế đặc thù về đầu tư, phát triển nhà ở cho thuê được xem là bước đi mới trong thực hiện Luật Thủ đô năm 2026. Với nhiều ưu đãi về đất đai, thủ tục đầu tư và cơ chế khai thác dự án, chính sách này không chỉ tạo động lực thu hút doanh nghiệp tham gia phát triển nhà ở cho thuê mà còn góp phần mở rộng nguồn cung nhà ở, bảo đảm an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển đô thị bền vững.
Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Trong những năm gần đây, chủ trương về chuyển đổi số đã trở thành một trong những định hướng chiến lược quan trọng của Đảng và Nhà nước. Với tinh thần chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu khách quan (Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị) tới Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”.
Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ tiền lương làm thêm giờ đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong chính sách thuế theo hướng hỗ trợ người lao động (NLĐ) và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đây không chỉ là giải pháp nhằm tăng thu nhập thực nhận mà còn thể hiện sự kết nối giữa pháp luật thuế với pháp luật lao động. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến quản lý thuế, bảo hiểm xã hội và quan hệ lao động, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả của chính sách.
Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Ngày 19/6/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1111/QĐ-TTg (Quyết định số 1111/QĐ-TTg) về việc ban hành Kế hoạch tổ chức “Ngày Văn hóa Việt Nam” giai đoạn 2026 - 2030. Đây không chỉ là một văn bản hành chính thuần túy, mà là một lời hiệu triệu, một chiến lược toàn diện nhằm đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo đà cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Thực hiện Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15 về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và Nghị quyết số 2093/NQ-UBTVQH15 về việc thành lập Ban Chỉ đạo tổng rà soát, Bộ Tư pháp với vai trò là Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo đang tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được giao. Trong tuần từ ngày 06/7/2026 đến hết ngày 12/7/2026, công tác rà soát đã bước vào giai đoạn then chốt với sự tham gia đồng bộ của các bộ, ngành và địa phương trên cả nước, tập trung vào việc đánh giá thực chất và đảm bảo chất lượng báo cáo.
Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.

Theo dõi chúng tôi trên: