Thứ sáu 16/01/2026 10:41
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực trạng pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động công chứng và kiến nghị hoàn thiện

Thực trạng pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động công chứng và kiến nghị hoàn thiện

Trong phạm vi bài viết này, nhóm tác giả phân tích các quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với các vi phạm trong hoạt động công chứng, từ đó, chỉ ra những bất cập và kiến nghị giải pháp hoàn thiện.

1. Vài nét khái quát về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động công chứng

Trong lĩnh vực công chứng, Luật Công chứng năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2018) là văn bản pháp lý quan trọng, sau đó là các văn bản hướng dẫn thi hành. Đối với nội dung xử phạt vi phạm hành chính (VPHC) trong lĩnh vực công chứng thì Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020 (Luật Xử lý vi phạm hành chính) và Nghị định số 82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã (Nghị định số 82/2020/NĐ-CP) là cơ sở pháp lý quan trọng. Căn cứ quy định của Nghị định số 82/2020/NĐ-CP, có thể xác định các VPHC trong hoạt động công chứng tại Mục 3 bao gồm: Vi phạm quy định về hồ sơ đề nghị bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm công chứng viên; đề nghị thành lập, đăng ký hoạt động, thay đổi nội dung đăng ký hoạt động, đăng ký hành nghề và cấp thẻ công chứng viên (Điều 11); vi phạm quy định liên quan đến công chứng hợp đồng, giao dịch, bản dịch (Điều 12); vi phạm quy định của công chứng viên khi nhận lưu giữ di chúc, công chứng di chúc, văn bản thỏa thuận phân chia di sản, văn bản khai nhận di sản, văn bản từ chối nhận di sản (Điều 13); vi phạm quy định của công chứng viên về công chứng bản dịch (Điều 14); vi phạm quy định hoạt động hành nghề công chứng (Điều 15); vi phạm quy định về hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng (Điều 16); vi phạm của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên (Điều 17)[1]

Về cơ bản, các quy định của pháp luật về xử phạt VPHC trong lĩnh vực công chứng góp phần giúp các chủ thể có thẩm quyền xử phạt thuận tiện, nhanh chóng, không lúng túng khi xác định hành vi vi phạm và tiến hành khẩn trương xử phạt. Mặt khác, các quy định khá cụ thể đó cũng giúp cho các công chứng viên, các tổ chức hành nghề công chứng thận trọng, kỹ lưỡng hơn khi hành nghề, bảo đảm tính chuẩn chỉnh của hoạt động công chứng, nâng cao chất lượng và vai trò của công chứng[2].

2. Một số bất cập của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động công chứng

Thứ nhất, Mục 3 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP chưa phân định rõ ranh giới giữa xử phạt vi phạm hành chính và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với nhóm hành vi tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy tờ, văn bản.

Tại Mục 3 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP, một số VPHC trong hoạt động công chứng có sự trùng lặp với hành vi được xem là tội phạm của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự), đó là các hành vi VPHC trong hoạt động công chứng liên quan đến việc tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy tờ, văn bản. Cụ thể: (i) Tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy tờ, văn bản do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền cấp để được công chứng hợp đồng, giao dịch, bản dịch (điểm a khoản 1 Điều 12) bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng; (ii) Sử dụng giấy tờ, văn bản do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền cấp bị tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung để được công chứng hợp đồng, giao dịch, bản dịch (điểm b khoản 1 Điều 12) bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng.

Trong khi đó, Bộ luật Hình sự cũng có quy định về tội sửa chữa và sử dụng giấy chứng nhận, các tài liệu của cơ quan, tổ chức (Điều 340). Theo đó, người nào sửa chữa, làm sai lệch nội dung hộ chiếu, thị thực, hộ khẩu, hộ tịch, các loại giấy chứng nhận hoặc tài liệu của cơ quan, tổ chức và sử dụng giấy tờ đó thực hiện tội phạm hoặc đã bị xử phạt VPHC về hành vi này, hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích, mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Như vậy, đối với trường hợp cá nhân sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy tờ, văn bản do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền cấp để được công chứng hợp đồng, giao dịch sẽ đối mặt với hai trường hợp: (i) Có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội sửa chữa và sử dụng giấy chứng nhận, các tài liệu của cơ quan, tổ chức theo quy định tại Điều 340 Bộ luật Hình sự; (ii) Bị xử phạt VPHC theo Nghị định số 82/2020/NĐ-CP (nếu không bị truy cứu trách nhiệm hình sự). Quy định trên tưởng rằng đã có sự phân định rõ ràng giữa truy cứu trách nhiệm hình sự với xử phạt VPHC về hành vi sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy tờ, văn bản do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền cấp để được công chứng hợp đồng, giao dịch, tuy nhiên, vấn đề đặt ra là, hiện nay, pháp luật không quy định rõ trường hợp nào có hành vi sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy tờ, văn bản do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền cấp để được công chứng hợp đồng, giao dịch mà “không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” để người có thẩm quyền tiến hành xử phạt theo quy định tại Nghị định số 82/2020/NĐ-CP.

Tương tự, trong Nghị định số 82/2020/NĐ-CP còn tồn tại khá nhiều trường hợp VPHC trong hoạt động công chứng có sự trùng lặp với hành vi được xem là tội phạm của Bộ luật Hình sự, có thể kể đến như: (i) Tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy tờ, văn bản do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền cấp trong hồ sơ đề nghị bổ nhiệm, bổ nhiệm lại công chứng viên bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng (điểm a khoản 1 Điều 11). (ii) Tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy tờ, văn bản do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền cấp trong hồ sơ đề nghị miễn nhiệm công chứng viên bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng (điểm b khoản 1 Điều 11). (iii) Tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung quyết định bổ nhiệm, bổ nhiệm lại công chứng viên hoặc thẻ công chứng viên bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng (điểm h khoản 4 Điều 15).

Trong khi đó, Bộ luật Hình sự quy định về tội giả mạo trong công tác, nếu người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn sửa chữa, làm sai lệch nội dung giấy tờ, tài liệu, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm (điểm b khoản 1 Điều 359). So sánh các quy định giữa Nghị định số 82/2020/NĐ-CP và Bộ luật Hình sự, có thể thấy, hành vi vi phạm là giống nhau nhưng chế tài và trách nhiệm pháp lý lại khác nhau. Rõ ràng, trong trường hợp này đã có sự chồng chéo về chế tài hành chính và hình sự khi xử lý những hành vi trên.

Thứ hai, hạn chế trong việc áp dụng hình thức phạt tiền trong hoạt động công chứng khi có tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng.

Khi xử phạt VPHC phải căn cứ vào tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng có liên quan trong vụ vi phạm. Hiện nay, Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định về các tình tiết giảm nhẹ tại Điều 9 (gồm 08 tình tiết) và các tình tiết tăng nặng tại Điều 10 (gồm 12 tình tiết). Sự xuất hiện của các tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng làm thay đổi mức độ trách nhiệm hành chính của chủ thể vi phạm. Nếu có tình tiết giảm nhẹ, chủ thể vi phạm sẽ bị xử phạt thấp hơn so với VPHC thông thường. Ngược lại, nếu có tình tiết tăng nặng, họ sẽ phải bị xử phạt cao hơn[3]. Tuy nhiên, hướng dẫn này vẫn còn chung chung, hơn nữa, Nghị định số 82/2020/NĐ-CP cũng không có quy định nào hướng dẫn xác định mức tiền phạt trong trường hợp có tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng. Vậy, câu hỏi đặt ra là người có thẩm quyền sẽ dựa vào tiêu chí nào để xác định mức tiền phạt cụ thể trong khi vấn đề này chưa được Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định.

Thứ ba, bất cập khi xem biện pháp “kiến nghị cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xem xét, xử lý đối với giấy tờ, văn bản đã cấp do có hành vi tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung hoặc giấy tờ, văn bản bị tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung” là biện pháp khắc phục hậu quả đối với các VPHC trong hoạt động công chứng.

Khi xử phạt đối với một VPHC cụ thể, đòi hỏi người có thẩm quyền xử phạt phải thẩm quyền áp dụng đầy đủ các hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả áp dụng đối với VPHC đó, nếu thiếu một trong hai điều kiện thì người đó không có thẩm quyền xử phạt (khoản 2 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính)[4]. Về nội dung này, khi nghiên cứu các VPHC trong hoạt động công chứng thì Nghị định số 82/2020/NĐ-CP đã dành 05 điều luật để quy định nhóm biện pháp khắc phục hậu quả “kiến nghị cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xem xét, xử lý đối với giấy tờ, văn bản đã cấp do có hành vi tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung hoặc giấy tờ, văn bản bị tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung” được ghi nhận lần lượt tại các quy định: Điểm a khoản 3 Điều 3, điểm a khoản 4 Điều 11, điểm c khoản 5 Điều 12, điểm a khoản 9 Điều 15, điểm a khoản 8 Điều 16.

Tuy nhiên, việc quy định biện pháp “kiến nghị cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xem xét, xử lý đối với giấy tờ, văn bản đã cấp do có hành vi tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung hoặc giấy tờ, văn bản bị tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung” là biện pháp khắc phục hậu quả là chưa thỏa đáng vì các lý do sau đây:

(i) Biện pháp này không thể hiện tính quyền lực của người có thẩm quyền xử phạt VPHC. Bởi lẽ, Luật Xử lý vi phạm hành chính không quy định “kiến nghị” trong phạm vi thẩm quyền của các chức danh có thẩm quyền xử phạt (Điều 38 - Điều 51). Do đó, việc Nghị định số 82/2020/NĐ-CP quy định biện pháp này trong phạm vi thẩm quyền của chủ thể xử phạt VPHC là chưa phù hợp.

(ii) Biện pháp này không thể hiện tính cưỡng chế hành chính. Biện pháp khắc phục hậu quả là hình thức cưỡng chế hành chính do Nhà nước tiến hành, buộc chủ thể VPHC phải thực hiện những nghĩa vụ pháp lý nhất định nhằm khôi phục lại trật tự quản lý nhà nước đã bị các VPHC xâm hại, đưa các quan hệ pháp luật trở lại tình trạng ban đầu. Khi áp dụng các biện pháp này, chủ thể có thẩm quyền nhân danh quyền lực nhà nước để ban hành các quyết định đơn phương buộc chủ thể vi phạm phải chấp hành. Nếu chủ thể VPHC không tự nguyện chấp hành thì sẽ bị cưỡng chế thi hành[5]. Do đó, việc tồn tại các biện pháp mà bản chất là “kiến nghị”, không thể hiện được tính chất cưỡng chế hành chính - tức là buộc chủ thể phải thực hiện những nghĩa vụ pháp lý nhất định. Bản chất của “kiến nghị” chính là tham mưu, tư vấn, còn có thực hiện hay không lại thuộc về quyền của người được kiến nghị. Với quy định về nhóm biện pháp “kiến nghị cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xem xét, xử lý đối với giấy tờ, văn bản đã cấp do có hành vi tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung hoặc giấy tờ, văn bản bị tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung”, vô hình trung, Chính phủ đã quy định người có thẩm quyền xử phạt thành người đi tham mưu, tư vấn[6].

Thứ tư, Nghị định số 82/2020/NĐ-CP không quy định biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên là chưa phù hợp với Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Hiện nay, Điều 17 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP quy định về hành vi vi phạm của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên tại khoản 1 và khoản 2 ghi nhận: “1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với Hiệp hội công chứng viên Việt Nam không thực hiện chế độ báo cáo định kỳ hoặc báo cáo khác theo yêu cầu của Bộ Tư pháp; 2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với Hiệp hội công chứng viên Việt Nam không báo cáo Bộ Tư pháp về đề án tổ chức đại hội nhiệm kỳ, phương án nhân sự, kết quả đại hội”. Ngoài ra, 02 vi phạm trên không bị áp dụng bất kỳ biện pháp khắc phục hậu quả nào.

Về nguyên tắc, đối với mỗi VPHC, ngoài việc bị áp dụng hình thức xử phạt, cá nhân, tổ chức VPHC có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả (điểm a khoản 2 Điều 28 Luật Xử lý vi phạm hành chính). Sở dĩ có quy định như vậy bởi ý định của nhà làm luật là muốn khắc phục triệt để mọi hậu quả do VPHC gây ra. Nói cách khác là không để cho hậu quả xấu của VPHC tồn dư hay ứ đọng trên thực tế[7]. Việc không quy định biện pháp khắc phục hậu quả cho hành vi vi phạm của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên dẫn đến thực trạng, người có thẩm quyền bị “trói tay” khi không tìm thấy cơ sở pháp lý vững chắc để xử phạt. Như vậy, trong trường hợp này, việc áp dụng hình thức xử phạt tiền mà không kèm theo biện pháp khắc phục hậu quả là chưa phù hợp, chưa khắc phục được đầy đủ hậu quả do VPHC gây ra.

3. Một số kiến nghị

Một là, để có cơ sở pháp lý rõ ràng cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong tố tụng hình sự và người có thẩm quyền xử phạt VPHC áp dụng pháp luật một cách chính xác, trong bối cảnh Bộ luật Hình sự và Nghị định số 82/2020/NĐ-CP đã có hiệu lực pháp luật thì nhà làm luật cần giải thích cụ thể thế nào là “tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy tờ, văn bản mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” nhằm phân định rõ ràng ranh giới giữa xử phạt VPHC và truy cứu trách nhiệm hình sự. Việc phân định giữa xử phạt VPHC và xử lý hình sự đối với các hành vi “tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy tờ, văn bản” không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác đấu tranh phòng, chống VPHC liên quan đến hành vi này, mà còn hạn chế tình trạng “hình sự hóa các VPHC”.

Hai là, để bảo đảm việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng có ý nghĩa trong việc xử phạt thì Luật Xử lý vi phạm hành chính cần xem xét bổ sung nguyên tắc xác định mức tiền phạt khi có các tình tiết này. Nhóm tác giả kiến nghị, cần tiếp thu điểm tiến bộ tại khoản 6 Điều 3 Nghị định số 109/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý giá, phí, lệ phí, hóa đơn (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 49/2016/NĐ-CP ngày 27/5/2016), theo đó: “Trường hợp có một tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ thì áp dụng mức trung bình tăng thêm hoặc mức trung bình giảm bớt. Mức trung bình tăng thêm được xác định bằng cách chia đôi tổng số của mức tối đa và mức trung bình. Mức trung bình giảm bớt được xác định bằng cách chia đôi tổng số của mức tối thiểu và mức trung bình. Trường hợp có từ hai tình tiết tăng nặng thì áp dụng mức tối đa của khung phạt tiền. Trường hợp có từ hai tình tiết giảm nhẹ thì áp dụng mức tối thiểu của khung tiền phạt”. Có thể thấy, việc xác định mức giảm theo cách thức này vừa giúp chủ thể có thẩm quyền dễ dàng xác định được mức phạt giảm bớt khi có tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng, vừa tạo ra được sự phân hóa trách nhiệm hành chính.

Ba là, đối với các VPHC cụ thể, có thể sử dụng hệ thống các hình thức xử phạt và các biện pháp khắc phục hậu quả phù hợp để giải quyết mà không cần đến nhóm biện pháp “kiến nghị cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xem xét, xử lý đối với giấy tờ, văn bản đã cấp do có hành vi tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung hoặc giấy tờ, văn bản bị tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung”, cụ thể: Các hành vi tại Nghị định số 82/2020/NĐ-CP: “tẩy xóa, chỉnh sửa, làm sai lệch nội dung giấy tờ, văn bản do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền cấp” (khoản 1 Điều 11, điểm a khoản 1 Điều 12, điểm h khoản 4 Điều 15, điểm a khoản 3 Điều 16); “sử dụng giấy tờ, văn bản do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền cấp bị tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung để được công chứng hợp đồng, giao dịch, bản dịch” (điểm b khoản 1 Điều 12); “công chứng hợp đồng, giao dịch trong trường hợp thành phần hồ sơ có giấy tờ, văn bản do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền cấp bị tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung” (điểm m khoản 2 Điều 15).

Bên cạnh đó, theo quy định tại khoản 6 Điều 4 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP ngày 23/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính (Nghị định số 118/2021/NĐ-CP) thì: “Đối với giấy phép, chứng chỉ hành nghề, giấy đăng ký hoạt động bị tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung, thì phải quy định biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại giấy phép, chứng chỉ hành nghề, giấy đăng ký hoạt động bị tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung cho cơ quan, người có thẩm quyền đã cấp giấy phép, chứng chỉ hành nghề, giấy đăng ký hoạt động đó”. Do đó, Nghị định số 82/2020/NĐ-CP cần quy định các hình thức xử phạt phù hợp và phải thiết kế biện pháp khắc phục hậu quả “buộc nộp lại giấy phép bị tẩy xóa, chỉnh sửa, làm sai lệch nội dung”. Sau khi ban hành quyết định xử phạt, người có thẩm quyền sẽ có văn bản thông báo đến cơ quan đã cấp giấy tờ, văn bằng, giấy phép, chứng chỉ bị tẩy xóa, chỉnh sửa, làm sai lệch nội dung thông tin để cơ quan này giải quyết theo quy định pháp luật.

Bốn là, khoản 5 Điều 4 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP đưa ra các yêu cầu cần phải tuân thủ khi quy định về biện pháp khắc phục hậu quả. Một trong các yêu cầu cần được tuân thủ là “đáp ứng yêu cầu khôi phục lại trật tự quản lý hành chính nhà nước do VPHC gây ra”. Do đó, Chính phủ cần bổ sung biện pháp khắc phục hậu quả sao cho rõ ràng, đầy đủ và hợp lý đối với các hành vi vi phạm của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên. Vì thế, nhóm tác giả kiến nghị cần bổ sung biện pháp “buộc thực hiện chế độ báo cáo theo yêu cầu của Bộ Tư pháp” vào Điều 17 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP.

TS. Võ Trung Tín

Giảng viên Khoa Luật Thương Mại, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Lê Bá Đức

Học viên Cao học Luật khóa 36, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

[1]. Lê Bích Trân (2021), Hoàn thiện các quy định pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động công chứng, http://pbgdpl.camau.gov.vn/hoan-thien-cac-quy-dinh-phap-luat-ve-xu-phat-vi-pham-hanh-chinh-trong-hoat-dong-cong-chung.1029, truy cập ngày 02/5/2023.

[2]. Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (2021), Thực hiện pháp luật về công chứng, Nxb. Tư pháp, tr. 22 - 23.

[3]. Cao Vũ Minh, Nguyễn Nhật Khanh (2020), Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính - Sách chuyên khảo, Nxb. Thanh niên, tr. 70.

[4]. Nguyễn Nhật Khanh (2020), “Hình thức phạt tiền trong pháp luật xử phạt vi phạm hành chính”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 01, tr. 45.

[5]. Cao Vũ Minh (Chủ biên, 2019), Một số biện pháp khắc phục hậu quả trong xử phạt vi phạm hành chính - Thực trạng và hướng hoàn thiện (sách chuyên khảo), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 16.

[6]. Cao Vũ Minh (2022), “Minh định bản chất của các biện pháp khắc phục hậu quả trong các nghị định về xử phạt vi phạm hành chính”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 07, tr. 12.

[7]. Cao Vũ Minh (Chủ biên, 2019), Tlđd, tr. 55.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 386), tháng 8/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: