Thứ sáu 20/03/2026 10:55
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực trạng pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động công chứng và kiến nghị hoàn thiện

Thực trạng pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động công chứng và kiến nghị hoàn thiện

Trong phạm vi bài viết này, nhóm tác giả phân tích các quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với các vi phạm trong hoạt động công chứng, từ đó, chỉ ra những bất cập và kiến nghị giải pháp hoàn thiện.

1. Vài nét khái quát về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động công chứng

Trong lĩnh vực công chứng, Luật Công chứng năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2018) là văn bản pháp lý quan trọng, sau đó là các văn bản hướng dẫn thi hành. Đối với nội dung xử phạt vi phạm hành chính (VPHC) trong lĩnh vực công chứng thì Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020 (Luật Xử lý vi phạm hành chính) và Nghị định số 82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã (Nghị định số 82/2020/NĐ-CP) là cơ sở pháp lý quan trọng. Căn cứ quy định của Nghị định số 82/2020/NĐ-CP, có thể xác định các VPHC trong hoạt động công chứng tại Mục 3 bao gồm: Vi phạm quy định về hồ sơ đề nghị bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm công chứng viên; đề nghị thành lập, đăng ký hoạt động, thay đổi nội dung đăng ký hoạt động, đăng ký hành nghề và cấp thẻ công chứng viên (Điều 11); vi phạm quy định liên quan đến công chứng hợp đồng, giao dịch, bản dịch (Điều 12); vi phạm quy định của công chứng viên khi nhận lưu giữ di chúc, công chứng di chúc, văn bản thỏa thuận phân chia di sản, văn bản khai nhận di sản, văn bản từ chối nhận di sản (Điều 13); vi phạm quy định của công chứng viên về công chứng bản dịch (Điều 14); vi phạm quy định hoạt động hành nghề công chứng (Điều 15); vi phạm quy định về hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng (Điều 16); vi phạm của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên (Điều 17)[1]

Về cơ bản, các quy định của pháp luật về xử phạt VPHC trong lĩnh vực công chứng góp phần giúp các chủ thể có thẩm quyền xử phạt thuận tiện, nhanh chóng, không lúng túng khi xác định hành vi vi phạm và tiến hành khẩn trương xử phạt. Mặt khác, các quy định khá cụ thể đó cũng giúp cho các công chứng viên, các tổ chức hành nghề công chứng thận trọng, kỹ lưỡng hơn khi hành nghề, bảo đảm tính chuẩn chỉnh của hoạt động công chứng, nâng cao chất lượng và vai trò của công chứng[2].

2. Một số bất cập của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động công chứng

Thứ nhất, Mục 3 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP chưa phân định rõ ranh giới giữa xử phạt vi phạm hành chính và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với nhóm hành vi tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy tờ, văn bản.

Tại Mục 3 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP, một số VPHC trong hoạt động công chứng có sự trùng lặp với hành vi được xem là tội phạm của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự), đó là các hành vi VPHC trong hoạt động công chứng liên quan đến việc tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy tờ, văn bản. Cụ thể: (i) Tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy tờ, văn bản do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền cấp để được công chứng hợp đồng, giao dịch, bản dịch (điểm a khoản 1 Điều 12) bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng; (ii) Sử dụng giấy tờ, văn bản do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền cấp bị tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung để được công chứng hợp đồng, giao dịch, bản dịch (điểm b khoản 1 Điều 12) bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng.

Trong khi đó, Bộ luật Hình sự cũng có quy định về tội sửa chữa và sử dụng giấy chứng nhận, các tài liệu của cơ quan, tổ chức (Điều 340). Theo đó, người nào sửa chữa, làm sai lệch nội dung hộ chiếu, thị thực, hộ khẩu, hộ tịch, các loại giấy chứng nhận hoặc tài liệu của cơ quan, tổ chức và sử dụng giấy tờ đó thực hiện tội phạm hoặc đã bị xử phạt VPHC về hành vi này, hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích, mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Như vậy, đối với trường hợp cá nhân sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy tờ, văn bản do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền cấp để được công chứng hợp đồng, giao dịch sẽ đối mặt với hai trường hợp: (i) Có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội sửa chữa và sử dụng giấy chứng nhận, các tài liệu của cơ quan, tổ chức theo quy định tại Điều 340 Bộ luật Hình sự; (ii) Bị xử phạt VPHC theo Nghị định số 82/2020/NĐ-CP (nếu không bị truy cứu trách nhiệm hình sự). Quy định trên tưởng rằng đã có sự phân định rõ ràng giữa truy cứu trách nhiệm hình sự với xử phạt VPHC về hành vi sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy tờ, văn bản do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền cấp để được công chứng hợp đồng, giao dịch, tuy nhiên, vấn đề đặt ra là, hiện nay, pháp luật không quy định rõ trường hợp nào có hành vi sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy tờ, văn bản do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền cấp để được công chứng hợp đồng, giao dịch mà “không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” để người có thẩm quyền tiến hành xử phạt theo quy định tại Nghị định số 82/2020/NĐ-CP.

Tương tự, trong Nghị định số 82/2020/NĐ-CP còn tồn tại khá nhiều trường hợp VPHC trong hoạt động công chứng có sự trùng lặp với hành vi được xem là tội phạm của Bộ luật Hình sự, có thể kể đến như: (i) Tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy tờ, văn bản do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền cấp trong hồ sơ đề nghị bổ nhiệm, bổ nhiệm lại công chứng viên bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng (điểm a khoản 1 Điều 11). (ii) Tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy tờ, văn bản do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền cấp trong hồ sơ đề nghị miễn nhiệm công chứng viên bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng (điểm b khoản 1 Điều 11). (iii) Tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung quyết định bổ nhiệm, bổ nhiệm lại công chứng viên hoặc thẻ công chứng viên bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng (điểm h khoản 4 Điều 15).

Trong khi đó, Bộ luật Hình sự quy định về tội giả mạo trong công tác, nếu người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn sửa chữa, làm sai lệch nội dung giấy tờ, tài liệu, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm (điểm b khoản 1 Điều 359). So sánh các quy định giữa Nghị định số 82/2020/NĐ-CP và Bộ luật Hình sự, có thể thấy, hành vi vi phạm là giống nhau nhưng chế tài và trách nhiệm pháp lý lại khác nhau. Rõ ràng, trong trường hợp này đã có sự chồng chéo về chế tài hành chính và hình sự khi xử lý những hành vi trên.

Thứ hai, hạn chế trong việc áp dụng hình thức phạt tiền trong hoạt động công chứng khi có tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng.

Khi xử phạt VPHC phải căn cứ vào tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng có liên quan trong vụ vi phạm. Hiện nay, Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định về các tình tiết giảm nhẹ tại Điều 9 (gồm 08 tình tiết) và các tình tiết tăng nặng tại Điều 10 (gồm 12 tình tiết). Sự xuất hiện của các tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng làm thay đổi mức độ trách nhiệm hành chính của chủ thể vi phạm. Nếu có tình tiết giảm nhẹ, chủ thể vi phạm sẽ bị xử phạt thấp hơn so với VPHC thông thường. Ngược lại, nếu có tình tiết tăng nặng, họ sẽ phải bị xử phạt cao hơn[3]. Tuy nhiên, hướng dẫn này vẫn còn chung chung, hơn nữa, Nghị định số 82/2020/NĐ-CP cũng không có quy định nào hướng dẫn xác định mức tiền phạt trong trường hợp có tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng. Vậy, câu hỏi đặt ra là người có thẩm quyền sẽ dựa vào tiêu chí nào để xác định mức tiền phạt cụ thể trong khi vấn đề này chưa được Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định.

Thứ ba, bất cập khi xem biện pháp “kiến nghị cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xem xét, xử lý đối với giấy tờ, văn bản đã cấp do có hành vi tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung hoặc giấy tờ, văn bản bị tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung” là biện pháp khắc phục hậu quả đối với các VPHC trong hoạt động công chứng.

Khi xử phạt đối với một VPHC cụ thể, đòi hỏi người có thẩm quyền xử phạt phải thẩm quyền áp dụng đầy đủ các hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả áp dụng đối với VPHC đó, nếu thiếu một trong hai điều kiện thì người đó không có thẩm quyền xử phạt (khoản 2 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính)[4]. Về nội dung này, khi nghiên cứu các VPHC trong hoạt động công chứng thì Nghị định số 82/2020/NĐ-CP đã dành 05 điều luật để quy định nhóm biện pháp khắc phục hậu quả “kiến nghị cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xem xét, xử lý đối với giấy tờ, văn bản đã cấp do có hành vi tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung hoặc giấy tờ, văn bản bị tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung” được ghi nhận lần lượt tại các quy định: Điểm a khoản 3 Điều 3, điểm a khoản 4 Điều 11, điểm c khoản 5 Điều 12, điểm a khoản 9 Điều 15, điểm a khoản 8 Điều 16.

Tuy nhiên, việc quy định biện pháp “kiến nghị cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xem xét, xử lý đối với giấy tờ, văn bản đã cấp do có hành vi tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung hoặc giấy tờ, văn bản bị tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung” là biện pháp khắc phục hậu quả là chưa thỏa đáng vì các lý do sau đây:

(i) Biện pháp này không thể hiện tính quyền lực của người có thẩm quyền xử phạt VPHC. Bởi lẽ, Luật Xử lý vi phạm hành chính không quy định “kiến nghị” trong phạm vi thẩm quyền của các chức danh có thẩm quyền xử phạt (Điều 38 - Điều 51). Do đó, việc Nghị định số 82/2020/NĐ-CP quy định biện pháp này trong phạm vi thẩm quyền của chủ thể xử phạt VPHC là chưa phù hợp.

(ii) Biện pháp này không thể hiện tính cưỡng chế hành chính. Biện pháp khắc phục hậu quả là hình thức cưỡng chế hành chính do Nhà nước tiến hành, buộc chủ thể VPHC phải thực hiện những nghĩa vụ pháp lý nhất định nhằm khôi phục lại trật tự quản lý nhà nước đã bị các VPHC xâm hại, đưa các quan hệ pháp luật trở lại tình trạng ban đầu. Khi áp dụng các biện pháp này, chủ thể có thẩm quyền nhân danh quyền lực nhà nước để ban hành các quyết định đơn phương buộc chủ thể vi phạm phải chấp hành. Nếu chủ thể VPHC không tự nguyện chấp hành thì sẽ bị cưỡng chế thi hành[5]. Do đó, việc tồn tại các biện pháp mà bản chất là “kiến nghị”, không thể hiện được tính chất cưỡng chế hành chính - tức là buộc chủ thể phải thực hiện những nghĩa vụ pháp lý nhất định. Bản chất của “kiến nghị” chính là tham mưu, tư vấn, còn có thực hiện hay không lại thuộc về quyền của người được kiến nghị. Với quy định về nhóm biện pháp “kiến nghị cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xem xét, xử lý đối với giấy tờ, văn bản đã cấp do có hành vi tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung hoặc giấy tờ, văn bản bị tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung”, vô hình trung, Chính phủ đã quy định người có thẩm quyền xử phạt thành người đi tham mưu, tư vấn[6].

Thứ tư, Nghị định số 82/2020/NĐ-CP không quy định biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên là chưa phù hợp với Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Hiện nay, Điều 17 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP quy định về hành vi vi phạm của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên tại khoản 1 và khoản 2 ghi nhận: “1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với Hiệp hội công chứng viên Việt Nam không thực hiện chế độ báo cáo định kỳ hoặc báo cáo khác theo yêu cầu của Bộ Tư pháp; 2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với Hiệp hội công chứng viên Việt Nam không báo cáo Bộ Tư pháp về đề án tổ chức đại hội nhiệm kỳ, phương án nhân sự, kết quả đại hội”. Ngoài ra, 02 vi phạm trên không bị áp dụng bất kỳ biện pháp khắc phục hậu quả nào.

Về nguyên tắc, đối với mỗi VPHC, ngoài việc bị áp dụng hình thức xử phạt, cá nhân, tổ chức VPHC có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả (điểm a khoản 2 Điều 28 Luật Xử lý vi phạm hành chính). Sở dĩ có quy định như vậy bởi ý định của nhà làm luật là muốn khắc phục triệt để mọi hậu quả do VPHC gây ra. Nói cách khác là không để cho hậu quả xấu của VPHC tồn dư hay ứ đọng trên thực tế[7]. Việc không quy định biện pháp khắc phục hậu quả cho hành vi vi phạm của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên dẫn đến thực trạng, người có thẩm quyền bị “trói tay” khi không tìm thấy cơ sở pháp lý vững chắc để xử phạt. Như vậy, trong trường hợp này, việc áp dụng hình thức xử phạt tiền mà không kèm theo biện pháp khắc phục hậu quả là chưa phù hợp, chưa khắc phục được đầy đủ hậu quả do VPHC gây ra.

3. Một số kiến nghị

Một là, để có cơ sở pháp lý rõ ràng cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong tố tụng hình sự và người có thẩm quyền xử phạt VPHC áp dụng pháp luật một cách chính xác, trong bối cảnh Bộ luật Hình sự và Nghị định số 82/2020/NĐ-CP đã có hiệu lực pháp luật thì nhà làm luật cần giải thích cụ thể thế nào là “tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy tờ, văn bản mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” nhằm phân định rõ ràng ranh giới giữa xử phạt VPHC và truy cứu trách nhiệm hình sự. Việc phân định giữa xử phạt VPHC và xử lý hình sự đối với các hành vi “tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy tờ, văn bản” không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác đấu tranh phòng, chống VPHC liên quan đến hành vi này, mà còn hạn chế tình trạng “hình sự hóa các VPHC”.

Hai là, để bảo đảm việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng có ý nghĩa trong việc xử phạt thì Luật Xử lý vi phạm hành chính cần xem xét bổ sung nguyên tắc xác định mức tiền phạt khi có các tình tiết này. Nhóm tác giả kiến nghị, cần tiếp thu điểm tiến bộ tại khoản 6 Điều 3 Nghị định số 109/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý giá, phí, lệ phí, hóa đơn (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 49/2016/NĐ-CP ngày 27/5/2016), theo đó: “Trường hợp có một tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ thì áp dụng mức trung bình tăng thêm hoặc mức trung bình giảm bớt. Mức trung bình tăng thêm được xác định bằng cách chia đôi tổng số của mức tối đa và mức trung bình. Mức trung bình giảm bớt được xác định bằng cách chia đôi tổng số của mức tối thiểu và mức trung bình. Trường hợp có từ hai tình tiết tăng nặng thì áp dụng mức tối đa của khung phạt tiền. Trường hợp có từ hai tình tiết giảm nhẹ thì áp dụng mức tối thiểu của khung tiền phạt”. Có thể thấy, việc xác định mức giảm theo cách thức này vừa giúp chủ thể có thẩm quyền dễ dàng xác định được mức phạt giảm bớt khi có tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng, vừa tạo ra được sự phân hóa trách nhiệm hành chính.

Ba là, đối với các VPHC cụ thể, có thể sử dụng hệ thống các hình thức xử phạt và các biện pháp khắc phục hậu quả phù hợp để giải quyết mà không cần đến nhóm biện pháp “kiến nghị cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xem xét, xử lý đối với giấy tờ, văn bản đã cấp do có hành vi tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung hoặc giấy tờ, văn bản bị tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung”, cụ thể: Các hành vi tại Nghị định số 82/2020/NĐ-CP: “tẩy xóa, chỉnh sửa, làm sai lệch nội dung giấy tờ, văn bản do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền cấp” (khoản 1 Điều 11, điểm a khoản 1 Điều 12, điểm h khoản 4 Điều 15, điểm a khoản 3 Điều 16); “sử dụng giấy tờ, văn bản do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền cấp bị tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung để được công chứng hợp đồng, giao dịch, bản dịch” (điểm b khoản 1 Điều 12); “công chứng hợp đồng, giao dịch trong trường hợp thành phần hồ sơ có giấy tờ, văn bản do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền cấp bị tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung” (điểm m khoản 2 Điều 15).

Bên cạnh đó, theo quy định tại khoản 6 Điều 4 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP ngày 23/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính (Nghị định số 118/2021/NĐ-CP) thì: “Đối với giấy phép, chứng chỉ hành nghề, giấy đăng ký hoạt động bị tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung, thì phải quy định biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại giấy phép, chứng chỉ hành nghề, giấy đăng ký hoạt động bị tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung cho cơ quan, người có thẩm quyền đã cấp giấy phép, chứng chỉ hành nghề, giấy đăng ký hoạt động đó”. Do đó, Nghị định số 82/2020/NĐ-CP cần quy định các hình thức xử phạt phù hợp và phải thiết kế biện pháp khắc phục hậu quả “buộc nộp lại giấy phép bị tẩy xóa, chỉnh sửa, làm sai lệch nội dung”. Sau khi ban hành quyết định xử phạt, người có thẩm quyền sẽ có văn bản thông báo đến cơ quan đã cấp giấy tờ, văn bằng, giấy phép, chứng chỉ bị tẩy xóa, chỉnh sửa, làm sai lệch nội dung thông tin để cơ quan này giải quyết theo quy định pháp luật.

Bốn là, khoản 5 Điều 4 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP đưa ra các yêu cầu cần phải tuân thủ khi quy định về biện pháp khắc phục hậu quả. Một trong các yêu cầu cần được tuân thủ là “đáp ứng yêu cầu khôi phục lại trật tự quản lý hành chính nhà nước do VPHC gây ra”. Do đó, Chính phủ cần bổ sung biện pháp khắc phục hậu quả sao cho rõ ràng, đầy đủ và hợp lý đối với các hành vi vi phạm của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên. Vì thế, nhóm tác giả kiến nghị cần bổ sung biện pháp “buộc thực hiện chế độ báo cáo theo yêu cầu của Bộ Tư pháp” vào Điều 17 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP.

TS. Võ Trung Tín

Giảng viên Khoa Luật Thương Mại, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Lê Bá Đức

Học viên Cao học Luật khóa 36, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

[1]. Lê Bích Trân (2021), Hoàn thiện các quy định pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động công chứng, http://pbgdpl.camau.gov.vn/hoan-thien-cac-quy-dinh-phap-luat-ve-xu-phat-vi-pham-hanh-chinh-trong-hoat-dong-cong-chung.1029, truy cập ngày 02/5/2023.

[2]. Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (2021), Thực hiện pháp luật về công chứng, Nxb. Tư pháp, tr. 22 - 23.

[3]. Cao Vũ Minh, Nguyễn Nhật Khanh (2020), Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính - Sách chuyên khảo, Nxb. Thanh niên, tr. 70.

[4]. Nguyễn Nhật Khanh (2020), “Hình thức phạt tiền trong pháp luật xử phạt vi phạm hành chính”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 01, tr. 45.

[5]. Cao Vũ Minh (Chủ biên, 2019), Một số biện pháp khắc phục hậu quả trong xử phạt vi phạm hành chính - Thực trạng và hướng hoàn thiện (sách chuyên khảo), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 16.

[6]. Cao Vũ Minh (2022), “Minh định bản chất của các biện pháp khắc phục hậu quả trong các nghị định về xử phạt vi phạm hành chính”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 07, tr. 12.

[7]. Cao Vũ Minh (Chủ biên, 2019), Tlđd, tr. 55.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 386), tháng 8/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Theo dõi chúng tôi trên: