Thứ hai 20/04/2026 07:25
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực trạng pháp luật Việt Nam quy định về thiết chế truyền thông trong việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân

Quyền con người là một vấn đề có tính phổ quát rộng, liên quan đến các lĩnh vực đời sống xã hội và có mối liên hệ mật thiết với các phạm trù đạo đức, chính trị, pháp lý.

1. Quyền con người và các thiết chế về truyền thông quyền con người

Trong các bản Hiến pháp của Nhà nước ta, Hiến pháp đầu tiên năm 1946 đã đặt nghĩa vụ và quyền lợi của công dân lên Chương II và sau 05 lần sửa đổi, bổ sung, đến Hiến pháp năm 2013, Quyền con người mới tiếp tục được phân định rõ ràng với quyền công dân và được đề cao một bước với 36 điều tại Chương II/120 điều của Hiến pháp[1] và thể hiện sâu sắc nhất những quyền cơ bản của con người, phù hợp hơn với các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên[2], như: Quyền tiếp cận thông tin quy định ở Điều 25 của Hiến pháp năm 2013, cụ thể: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”[3], bên cạnh đó đã Hiến định các nguyên tắc thực hiện và hạn chế quyền con người, quyền công dân nói chung, trong đó có nguyên tắc “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” (khoản 2 Điều 14) là phù hợp với các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên.

Điều này thể hiện sự chuyển biến lớn trong nhận thức của Đảng, Nhà nước về vấn đề quyền con người và sự phát triển, hoàn thiện về mặt tổ chức của hệ thống chính trị, kinh tế - xã hội để đáp ứng các quyền con người được hiến định.

Nhìn chung, quyền con người là phạm trù rộng, có giá trị phổ quát lớn của nhân loại và cho đến nay, không có một thiết chế xã hội nào có thể bao quát hết được. Trong lĩnh vực báo chí, truyền thông cũng vậy, các tổ chức báo chí, truyền thông thường tập trung vào những lĩnh vực chung về kinh tế - xã hội hoặc chuyên ngành có liên quan đến quyền con người mà ít có những thiết chế chuyên biệt về quyền con người (trừ những thiết chế mang phục vụ cho chính trị, quản lý nhà nước hay nghiên cứu về quyền con người). Vai trò của các thiết chế truyền thông về quyền con người là tập trung tuyên truyền, phổ biến, giáo dục nâng cao ý thức và nhận thức về vấn đề nhân quyền trong các cơ quan Đảng, chính quyền và các tổ chức xã hội.

Ở Việt Nam hiện nay, có thể phân chia 03 nhóm thết chế có liên quan đến truyền thông quyền con người như:

Một là, thiết chế truyền thông về quyền con người - các tổ chức báo chí, truyền thông

Căn cứ theo phạm vi tham gia và chịu ảnh hưởng của truyền thông để xem xét đến vai trò truyền thông quyền con người, người ta phân chia thành:

- Truyền thông cá nhân là hình thức truyền thông giữa các cá nhân với nhau. Hình thức này thường mang tính chất tự phát, theo nhu cầu cá nhân con người mà không thông qua các thiết chế truyền thông. Với sự phát triển của internet và các mạng xã hội, truyền thông cá nhân đang bùng nổ trên toàn thế giới, tạo điều kiện cho mỗi người hình thành một kênh liên lạc riêng. Nó có ý nghĩa quan trọng đã và đang làm thay đổi các phương thức truyền thông trước đây.

- Truyền thông nhóm là hình thức truyền thông hướng về số đông hơn, yêu cầu bạn truyền đạt thông tin cho cả một nhóm người chứ không phải là một cá nhân đơn thuần nữa. Truyền thông nhóm thường được áp dụng trong một nhóm, tổ chức, phụ thuộc vào quy mô của nhóm, tổ chức (có trường hợp lên đến hàng triệu người) nhưng không được công khai ra công chúng.

- Truyền thông đại chúng là quá trình truyền đạt thông tin một cách rộng rãi hướng đến mọi người trong xã hội thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng như báo chí, truyền hình, phát thanh, internet. Đây là phương tiện và kênh truyền thông tương đối phổ biến, chính là truyền đạt thông tin mang tính chất quan trọng cho toàn thể người dân cùng được biết và tìm hiểu rõ nét hơn về nguồn thông tin đó.

Hiện nay có thể nêu ra các thiết chế truyền thông đại chúng như:

- Cơ quan báo là thiết chế truyền thông đại chúng được thành lập để xuất bản các ấn phẩm báo chí hàng ngày như: (i) Báo viết là thể loại báo chí xuất hiện lâu đời nhất, hình thức thể hiện trên giấy, có hình ảnh minh họa; (ii) Báo điện tử là thể loại báo chí được phát hành trên các website để truyền tải thông tin bằng bài viết, âm thanh, hình ảnh, các đoạn video gồm cả hình ảnh động và âm thanh...

- Cơ quan tạp chí là thiết chế truyền thông có chức năng nghiên cứu, biên tập, xuất bản, phát hành các loại ấn phẩm báo chí xuất bản định kỳ, theo chuyên ngành đã đăng ký, như: Tạp chí Nghệ thuật - Mỹ nghệ; Tạp chí Mỹ thuật; Tạp chí Kinh doanh - Tài chính; Tạp chí Thời trang; Tạp chí Tôn giáo; Tạp chí Pháp luật; Tạp chí quyền con người...

- Cơ quan phát thanh truyền hình là thiết chế truyền thông đại chúng quan trọng, thực hiện chức năng báo chí thông qua các phương tiện kỹ thuật điện tử phát thanh, truyền hình, như: Đài phát thanh, Đài truyền hình, Đài phát thanh - truyền hình. Ở loại hình phát thanh này, tính thời sự (hay còn gọi là tính cấp thời) được đặt lên hàng đầu, các sự kiện nóng được đặc lên vị trí đầu tiên; tính thông tin là yếu tố cần được chú trọng khi bị giới hạn về thời gian của một chương trình, lúc này thông tin chỉ nhấn mạnh đến cái gì và ở đâu hơn là tại sao và như thế nào.

Có thể thấy, các thiết chế truyền thông được thành lập với quy mô, đặc điểm đa dạng, trên hầu hết các lĩnh vực xã hội, theo các phương thức kỹ thuật báo chí hiện có. Các thiết chế này đề cập đến nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội và do đó liên quan trực tiếp đến các khía cạnh quyền con người (như về lĩnh vực văn hóa, pháp luật, đời sống, kinh tế, xã hội...) - một lĩnh vực có tính phổ quát, rộng lớn và phức tạp. Khi đi sâu hơn vào mục tiêu chuyên biệt về bảo vệ quyền con người thì hầu như không có nhiều thiết chế truyền thông về quyền con người hoặc có mục tiêu chủ yếu là bảo vệ quyền con người, chỉ có một số cơ quan tạp chí về quyền con người hay một số nhỏ thiết chế truyền thông có chuyên mục riêng về quyền con người; hầu hết các thiết chế truyền thông hiện nay đều xem nội dung bảo vệ quyền con người là một trong những nội dung hoạt động mà chưa phải là mục tiêu.

Hai là, các cơ quan nhà nước có trách nhiệm công bố thông tin về hoạt động của mình, trong đó có thông tin về bảo vệ quyền con người

Trách nhiệm công bố thông tin, thông cáo báo chí về hoạt động của các cơ quan nhà nước là một trong những nội dung Hiến định (Quốc hội, CHính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng...). Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 một lần nữa quy định cụ thể về trách nhiệm công bố thông tin pháp luật công khai, minh bạch đến người dân bằng các hình thức như: Họp báo, thông cáo báo chí về văn bản quy phạm pháp luật; đăng tải thông tin pháp luật trên trang thông tin điện tử; phổ biến, giáo dục pháp luật trên các phương tiện thông tin đại chúng;

Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, Báo Nhân dân, báo của các cơ quan bảo vệ pháp luật, báo và đài phát thanh, đài truyền hình cấp tỉnh xây dựng chương trình, chuyên trang, chuyên mục về pháp luật; đa dạng hóa các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật để phổ biến các quy định của pháp luật, tình hình thi hành pháp luật và các thông tin khác về pháp luật; tư vấn, hướng dẫn tìm hiểu pháp luật, cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật.

Ba là, các thiết chế khác (các tổ chức chính trị, xã hội)

Cùng với các cơ quan của Đảng, Nhà nước, các tổ chức nghiên cứu, thông tin về quyền con người đã góp phần quan trọng trong việc cung cấp thông tin về quyền con người theo khía cạnh khoa học. Năm 1994, Trung tâm Nghiên cứu quyền con người thuộc Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh đã được thành lập, nay là Viện Nghiên cứu quyền con người, đặt nền móng cho khoa học nghiên cứu về quyền con người; các Trung tâm Nghiên cứu quyền con người và quyền công dân thuộc Khoa Luật - Đại học Quốc gia, Ðại học Luật Hà Nội, Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh... cũng đã được thành lập, hình thành những đầu mối liên kết nghiên cứu, đào tạo với các cá nhân, tổ chức nghiên cứu, cơ sở đào tạo, các trường đại học trong nước và quốc tế về quyền con người.

2. Thực trạng pháp luật Việt Nam về thiết chế truyền thông trong việc bảo vệ quyền con người

Luật Báo chí được Quốc hội khóa VIII, kỳ họp lần thứ 6 thông qua ngày 28/12/1989 và được sửa đổi, bổ sung một số điều tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa X (năm 1999). Luật đã quy định cụ thể các hình thức báo chí, truyền thông dưới góc độ “Báo”: Báo in; báo nói; báo hình; báo điện tử. Hệ thống tổ chức, nguồn nhân lực báo chí, truyền thông cả nước khá lớn, trung bình:

- Nếu tính theo đơn vị hành chính cấp xã (cập nhật đến 31/12/2008[4]): 23.000 nhà báo, phóng viên/ 32.248 đơn vị hành chính cấp xã = Trung bình 1 nhà báo, phóng viên/1,4 đơn vị hành chính cấp xã.

- Nếu tính theo đầu dân số (tại thời điểm 0 giờ ngày 01/4/2014[5]): 23.000 nhà báo, phóng viên/ 90.493.000 người = Trung bình 1 nhà báo, phóng viên/ 3.934 người dân.

Với số lượng hùng hậu các cơ quan báo chí, truyền thông như trên, việc thông tin về tình hình kinh tế - xã hội có sự đa dạng cao trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; hệ thống phát thành, truyền hình gần như phủ sóng toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Ngoài ra, “người dân Việt Nam được tiếp cận với 75 kênh truyền hình nước ngoài được phát rộng rãi trên thế giới.

Trong lĩnh vực chuyên ngành về quyền con người, pháp luật về báo chí, truyền thông không có một quy định nào về việc thành lập các thiết chế báo chí, truyền thông phục vụ cho việc tuyên truyền sâu về quyền con người, hay có chính sách khuyến khích, ưu tiên phát triển thông tin, truyền thông phục vụ quyền con người. Các thiết chế báo chí, truyền thông về quyền con người hay mở chuyên mục về quyền con người trên cơ sở các chính sách của Đảng, Nhà nước hoặc theo nhu cầu tự thân[6].

Theo Điều 6 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí năm 1999, các tổ chức báo chí, truyền thông có 05/06 nhóm nhiệm vụ liên quan đến công tác truyền thông về bảo vệ quyền con người đó là:

- Thông tin trung thực về tình hình trong nước và thế giới phù hợp với lợi ích của đất nước và của nhân dân;

- Tuyên truyền, phổ biến, góp phần xây dựng và bảo vệ đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thành tựu của đất nước và thế giới theo tôn chỉ, mục đích của cơ quan báo chí; góp phần ổn định chính trị, nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu văn hóa lành mạnh của nhân dân, bảo vệ và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường khối đoàn kết toàn dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa;

- Phản ánh và hướng dẫn dư luận xã hội; làm diễn đàn thực hiện quyền tự do ngôn luận của nhân dân;

- Phát hiện, nêu gương người tốt, việc tốt, nhân tố mới; đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật và các hiện tượng tiêu cực xã hội khác;

- Mở rộng sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nước và các dân tộc, tham gia vào sự nghiệp của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Nhìn chung, hầu hết thiết chế báo chí, truyền thông đều bám sát tôn chỉ, mục đích, thực hiện tốt nhiệm vụ và quyền hạn báo chí, truyền thông theo quy định; qua đó thông tin kịp thời chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến người dân; phản ánh sâu rộng tình hình thực thi quyền con người trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là các vấn đề nóng, gây bức xúc trong xã hội. Nhiều thiết chế báo chí, truyền thông đóng vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền, phổ biến về quyền con người và bảo vệ quyền con người, nâng cao nhận thức, hiểu biết pháp luật cho nhân dân, kết hợp với nhiều hình thức phong phú để tuyên truyền về quyền con người.

Bên cạnh những kết quả đạt được của pháp luật về các thiết chế báo chí, truyền thông trong bảo vệ quyền con người, thực tiễn thời gian qua cho thấy lĩnh vực này vẫn còn những bất cập, hạn chế sau:

- Pháp luật về truyền thông quyền con người chưa có cơ sở vững chắc để tạo lập một môi trường phát triển bền vững cho các thiết chế báo chí, truyền thông. Do đó, công tác thông tin tuyên truyền thúc đẩy về quyền con người có nơi chưa được quan tâm, đánh giá đúng mức, cùng với đó là sự phát triển nhanh và khó kiểm soát của những thông tin xuyên tạc, kích động từ các thế lực thù địch đã làm cho một bộ phận cán bộ, nhân dân nhận thức chưa đầy đủ các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về quyền con người.

- Công tác truyền thông của Việt Nam về lĩnh vực quyền con người thời gian qua rất được chú trọng nhưng chưa toàn diện và bài bản, chưa được tiến hành thường xuyên, liên tục.

- Pháp luật còn thiếu những quy định hạn chế và ràng buộc trách nhiệm vi phạm quyền con người từ hoạt động truyền thông, tự do báo chí, tự do ngôn luận. Không ít trường hợp, do cố ý hoặc thiếu tri thức về nhân quyền nên có bài báo, thông tin truyền thông vi phạm quyền con người, quyền tự do và quyền giữ bí mật cá nhân, gây thiệt hại cho người khác mà không bị trừng trị hoặc phải bồi thường thiệt hại.

- Thiếu những quy định về bảo vệ, bảo đảm an ninh cho các tổ chức, cá nhân vì tham gia hoạt động thông tin, truyền thông về bảo vệ quyền con người, dẫn đến những mối đe dọa thường trực hoặc làm chùn bước đối với những chủ thể này, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, những chủ thể này đang trở thành nạn nhân của nhiều hành vi phạm tội[7], của các chiến dịch bôi nhọ danh dự. Việc bảo vệ nhà báo, người cung cấp thông tin báo chí chưa thực sự hiệu quả, đặc biệt là tình trạng đe dọa sử dụng bạo lực đối với nhà báo còn rất cao, do đó số lượng các vụ việc vi phạm quyền con người được công khai, đưa ra công luận còn ít.

- Sự phối hợp giữa các thiết chế báo chí, truyền thông với các cơ quan nhà nước chưa được hình thành chặt chẽ, chủ yếu mang tính chất vụ việc, nên không hình thành cơ chế, quy trình xử lý thông tin, cung cấp thông tin về quyền con người cho xã hội; đã có những trường hợp, các tở báo chính thức đưa thông tin sai lệch, chậm hoặc thiếu đầy đủ về vụ việc[8]. Pháp luật vẫn chưa có các chế tài đủ mạnh buộc các cơ quan nhà nước phải cung cấp thông tin cho báo chí về những vấn đề nhạy cảm.

- “Pháp luật hiện hành về bảo đảm và thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân trong các lĩnh vực cho thấy, pháp luật chưa xác định rõ quyền tiếp cận thông tin và nội hàm của quyền tiếp cận thông tin; quyền và nghĩa vụ của công dân trong việc tiếp cận thông tin; chưa thể hiện rõ tinh thần của Hiến pháp về trách nhiệm của Nhà nước trong việc tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân, cũng như các nguyên tắc, điều kiện hạn chế thực hiện quyền tiếp cận thông tin. Một số văn bản dưới luật có quy định mang tính hạn chế quyền tiếp cận thông tin của công dân hoặc quy định hạn chế quyền tiếp cận thông tin không thuộc một trong các trường hợp được hạn chế theo quy định của khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013”[9].

3. Đề xuất hoàn thiện pháp luật về truyền thông quyền con người

Một là, sớm thông qua bản bình luận khoa học (chính thức) về Hiến pháp năm 2013, để giải thích thống nhất về quyền con người, làm cơ sở thực thi đầy đủ các quy định Hiến pháp về quyền con người và theo các nguyên tắc quốc tế về tận tâm, thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế “Pacta sunt servanda” đối với quốc gia là thành viên của các điều ước quốc tế (Công ước Liên hợp quốc về quyền con người).

Hai là, hoàn thiện pháp luật về báo chí, truyền thông, phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng tăng cường, chú trọng hơn nội dung quyền con người. Thành lập, bổ sung chức năng mới về truyền thông bảo vệ quyền con người đối với các cơ quan báo chí, truyền thông, đặc biệt phát huy vai trò internet hiện nay thông qua việc thông tin từ các Báo điện tử, các trang thông tin điện tử riêng về giáo dục pháp luật, thông tin về quyền con người; có sự phân loại về nhóm đối tượng thụ hưởng trong tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật, nhất là nhóm đối tượng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, người nghèo và đổi mới hình thức, nội dung, phương pháp tuyên truyền pháp luật.

Bổ sung quy định về tuyên truyền, bồi dưỡng, thông tin về quyền con người, pháp luật về quyền con người, đặc biệt là những quy định mang tính giới hạn thông tin, bảo đảm công lý và đồng thời với nhân phẩm con người, để nhà báo có thể nắm bắt thường xuyên, toàn diện.

Cần xác định giới hạn cung cấp thông tin trong mọi hoạt động của các thiết chế báo chí, truyền thông và nhà báo cũng như các điều kiện bảo đảm cho báo chí tác nghiệp thuận lợi, phản ánh trung thực nhất thực trạng quyền con người và góp phần bảo vệ quyền con người (hỗ trợ của chính quyền, quyền của nhà báo và các biện pháp, công cụ bảo vệ), như:

- Ban hành các đạo luật liên quan trực tiếp đến quyền con người mà hiện đang còn thiếu, như: Luật trưng cầu ý dân, Luật về lập hội...

- Sự cần thiết phải tuân thủ những hạn chế hợp pháp về tự do báo chí, tự do ngôn luận và tự do thông tin trong các tiêu chuẩn quốc tế.

Ba là, các giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông quyền con người:

- Thường xuyên, liên tục tuyên truyền, phổ biến pháp luật (quốc gia và quốc tế) và những kết quả về quyền con người; thông tin truyền thông cần phong phú, đa dạng; nội dung cần được mở rộng, có thể tập trung vào những chủ đề quan trọng về quyền con người. Chủ động, tích cực thực hiện công tác truyền thông một cách bài bản, tránh tình trạng lúng túng, bị động phản ứng khi có các báo cáo, nhận định chỉ trích Việt Nam...

- Các cơ quan, ban ngành, đoàn thể cần cố gắng xuất bản các tài liệu hướng dẫn, phổ biến nâng cao kiến thức, nhận thức về quyền con người đồng thời tăng cường cung cấp thông tin cho báo chí về nỗ lực của Việt Nam trong vấn đề bảo đảm quyền con người, cần có chiến lược truyền thông về con người.

- Các phương tiện thông tin đại chúng của Việt Nam cũng cần cố gắng cải tiến, nâng cao hiệu quả công tác thông tin tuyên truyền về quyền con người. Việc truyền thông về quyền con người trên báo chí cần tiến hành thường xuyên, liên tục, chủ động và toàn diện, mang tính thuyết phục.

- Bên cạnh đó, Nhà nước có trách nhiệm không ngừng tạo môi trường, điều kiện tốt nhất để báo chí có thể hoạt động. Đó là việc dân chủ hóa mọi mặt của đời sống xã hội, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, khuyến khích xã hội dân sự tham gia vào việc bảo vệ nhân quyền[10]...



Nhóm nghiên cứu Đề tài

(Bài viết là sản phẩm của Đề tài khoa học cấp Bộ "Tăng cường vai trò của thiết chế truyền thông trong bảo vệ quyền con người và quyền công dân ở Việt Nam").


[1] So với hiến pháp của nhiều quốc gia, quyền con người trong Hiến pháp năm 2013 được ghi nhận với một số lượng rất nhiều.

[2] Các văn bản quan trọng của luật quốc tế về quyền con người được Việt Nam phê chuẩn gồm: Tuyên ngôn về Nhân quyền năm 1948; Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (1966) và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (1966); Công ước về chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người (1984); Công ước về quyền người khuyết tật (2006).

[3] Theo Luật Nhân quyền quốc tế và hiến pháp của nhiều nước trên thế giới, quyền tiếp cận thông tin thường bao gồm ba quyền phái sinh là: quyền được thông tin, quyền được tìm kiếm thông tin, quyền được phổ biến thông tin. Do đó, cần xây dựng luật để bảo đảm đầy đủ quyền tiếp cận thông tin, trên cơ sở đã được quy định trong Hiến pháp năm 2013.

[4] Tính đến 31/12/2008. Xem: Tổng cục Thống kê, Danh mục các đơn vị hành chính Việt Nam 2008, Nxb. Thống kê.

[5] Xem: Tổng cục Thống kê (2015), Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ thời điểm 1/4/2014: Các kết quả chủ yếu, Hà Nội, tháng 9/2015.

[6] Ví dụ như: Đài Truyền hình Việt Nam xây dựng chuyên mục về “Chân dung cuộc sống” phát sóng định kỳ 02 tuần/số.

[7] Theo Ủy ban Bảo vệ nhà báo, năm 2015, Ít nhất 69 phóng viên, nhà báo đã thiệt mạng khi làm nhiệm vụ trong năm 2015 trên khắp thế giới, cao nhất từ trước tới nay.

[8] Như vụ Tiên Lãng, Hải Phòng;

[9] Xem: Tờ trình số 461/TTr-CP ngày 29/9/2015 của Chính phủ về dự án Luật Tiếp cận thông tin, trang 2.

[10] TS. Đặng Dũng Chí (2012), Báo chí, truyền thông với việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, Tạp chí Lý luận chính trị, số 11/2012, trang 45.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.

Theo dõi chúng tôi trên: