Thứ hai 24/08/2026 10:04
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực trạng pháp luật Việt Nam quy định về thiết chế truyền thông trong việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân

Quyền con người là một vấn đề có tính phổ quát rộng, liên quan đến các lĩnh vực đời sống xã hội và có mối liên hệ mật thiết với các phạm trù đạo đức, chính trị, pháp lý.

1. Quyền con người và các thiết chế về truyền thông quyền con người

Trong các bản Hiến pháp của Nhà nước ta, Hiến pháp đầu tiên năm 1946 đã đặt nghĩa vụ và quyền lợi của công dân lên Chương II và sau 05 lần sửa đổi, bổ sung, đến Hiến pháp năm 2013, Quyền con người mới tiếp tục được phân định rõ ràng với quyền công dân và được đề cao một bước với 36 điều tại Chương II/120 điều của Hiến pháp[1] và thể hiện sâu sắc nhất những quyền cơ bản của con người, phù hợp hơn với các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên[2], như: Quyền tiếp cận thông tin quy định ở Điều 25 của Hiến pháp năm 2013, cụ thể: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”[3], bên cạnh đó đã Hiến định các nguyên tắc thực hiện và hạn chế quyền con người, quyền công dân nói chung, trong đó có nguyên tắc “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” (khoản 2 Điều 14) là phù hợp với các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên.

Điều này thể hiện sự chuyển biến lớn trong nhận thức của Đảng, Nhà nước về vấn đề quyền con người và sự phát triển, hoàn thiện về mặt tổ chức của hệ thống chính trị, kinh tế - xã hội để đáp ứng các quyền con người được hiến định.

Nhìn chung, quyền con người là phạm trù rộng, có giá trị phổ quát lớn của nhân loại và cho đến nay, không có một thiết chế xã hội nào có thể bao quát hết được. Trong lĩnh vực báo chí, truyền thông cũng vậy, các tổ chức báo chí, truyền thông thường tập trung vào những lĩnh vực chung về kinh tế - xã hội hoặc chuyên ngành có liên quan đến quyền con người mà ít có những thiết chế chuyên biệt về quyền con người (trừ những thiết chế mang phục vụ cho chính trị, quản lý nhà nước hay nghiên cứu về quyền con người). Vai trò của các thiết chế truyền thông về quyền con người là tập trung tuyên truyền, phổ biến, giáo dục nâng cao ý thức và nhận thức về vấn đề nhân quyền trong các cơ quan Đảng, chính quyền và các tổ chức xã hội.

Ở Việt Nam hiện nay, có thể phân chia 03 nhóm thết chế có liên quan đến truyền thông quyền con người như:

Một là, thiết chế truyền thông về quyền con người - các tổ chức báo chí, truyền thông

Căn cứ theo phạm vi tham gia và chịu ảnh hưởng của truyền thông để xem xét đến vai trò truyền thông quyền con người, người ta phân chia thành:

- Truyền thông cá nhân là hình thức truyền thông giữa các cá nhân với nhau. Hình thức này thường mang tính chất tự phát, theo nhu cầu cá nhân con người mà không thông qua các thiết chế truyền thông. Với sự phát triển của internet và các mạng xã hội, truyền thông cá nhân đang bùng nổ trên toàn thế giới, tạo điều kiện cho mỗi người hình thành một kênh liên lạc riêng. Nó có ý nghĩa quan trọng đã và đang làm thay đổi các phương thức truyền thông trước đây.

- Truyền thông nhóm là hình thức truyền thông hướng về số đông hơn, yêu cầu bạn truyền đạt thông tin cho cả một nhóm người chứ không phải là một cá nhân đơn thuần nữa. Truyền thông nhóm thường được áp dụng trong một nhóm, tổ chức, phụ thuộc vào quy mô của nhóm, tổ chức (có trường hợp lên đến hàng triệu người) nhưng không được công khai ra công chúng.

- Truyền thông đại chúng là quá trình truyền đạt thông tin một cách rộng rãi hướng đến mọi người trong xã hội thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng như báo chí, truyền hình, phát thanh, internet. Đây là phương tiện và kênh truyền thông tương đối phổ biến, chính là truyền đạt thông tin mang tính chất quan trọng cho toàn thể người dân cùng được biết và tìm hiểu rõ nét hơn về nguồn thông tin đó.

Hiện nay có thể nêu ra các thiết chế truyền thông đại chúng như:

- Cơ quan báo là thiết chế truyền thông đại chúng được thành lập để xuất bản các ấn phẩm báo chí hàng ngày như: (i) Báo viết là thể loại báo chí xuất hiện lâu đời nhất, hình thức thể hiện trên giấy, có hình ảnh minh họa; (ii) Báo điện tử là thể loại báo chí được phát hành trên các website để truyền tải thông tin bằng bài viết, âm thanh, hình ảnh, các đoạn video gồm cả hình ảnh động và âm thanh...

- Cơ quan tạp chí là thiết chế truyền thông có chức năng nghiên cứu, biên tập, xuất bản, phát hành các loại ấn phẩm báo chí xuất bản định kỳ, theo chuyên ngành đã đăng ký, như: Tạp chí Nghệ thuật - Mỹ nghệ; Tạp chí Mỹ thuật; Tạp chí Kinh doanh - Tài chính; Tạp chí Thời trang; Tạp chí Tôn giáo; Tạp chí Pháp luật; Tạp chí quyền con người...

- Cơ quan phát thanh truyền hình là thiết chế truyền thông đại chúng quan trọng, thực hiện chức năng báo chí thông qua các phương tiện kỹ thuật điện tử phát thanh, truyền hình, như: Đài phát thanh, Đài truyền hình, Đài phát thanh - truyền hình. Ở loại hình phát thanh này, tính thời sự (hay còn gọi là tính cấp thời) được đặt lên hàng đầu, các sự kiện nóng được đặc lên vị trí đầu tiên; tính thông tin là yếu tố cần được chú trọng khi bị giới hạn về thời gian của một chương trình, lúc này thông tin chỉ nhấn mạnh đến cái gì và ở đâu hơn là tại sao và như thế nào.

Có thể thấy, các thiết chế truyền thông được thành lập với quy mô, đặc điểm đa dạng, trên hầu hết các lĩnh vực xã hội, theo các phương thức kỹ thuật báo chí hiện có. Các thiết chế này đề cập đến nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội và do đó liên quan trực tiếp đến các khía cạnh quyền con người (như về lĩnh vực văn hóa, pháp luật, đời sống, kinh tế, xã hội...) - một lĩnh vực có tính phổ quát, rộng lớn và phức tạp. Khi đi sâu hơn vào mục tiêu chuyên biệt về bảo vệ quyền con người thì hầu như không có nhiều thiết chế truyền thông về quyền con người hoặc có mục tiêu chủ yếu là bảo vệ quyền con người, chỉ có một số cơ quan tạp chí về quyền con người hay một số nhỏ thiết chế truyền thông có chuyên mục riêng về quyền con người; hầu hết các thiết chế truyền thông hiện nay đều xem nội dung bảo vệ quyền con người là một trong những nội dung hoạt động mà chưa phải là mục tiêu.

Hai là, các cơ quan nhà nước có trách nhiệm công bố thông tin về hoạt động của mình, trong đó có thông tin về bảo vệ quyền con người

Trách nhiệm công bố thông tin, thông cáo báo chí về hoạt động của các cơ quan nhà nước là một trong những nội dung Hiến định (Quốc hội, CHính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng...). Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 một lần nữa quy định cụ thể về trách nhiệm công bố thông tin pháp luật công khai, minh bạch đến người dân bằng các hình thức như: Họp báo, thông cáo báo chí về văn bản quy phạm pháp luật; đăng tải thông tin pháp luật trên trang thông tin điện tử; phổ biến, giáo dục pháp luật trên các phương tiện thông tin đại chúng;

Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, Báo Nhân dân, báo của các cơ quan bảo vệ pháp luật, báo và đài phát thanh, đài truyền hình cấp tỉnh xây dựng chương trình, chuyên trang, chuyên mục về pháp luật; đa dạng hóa các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật để phổ biến các quy định của pháp luật, tình hình thi hành pháp luật và các thông tin khác về pháp luật; tư vấn, hướng dẫn tìm hiểu pháp luật, cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật.

Ba là, các thiết chế khác (các tổ chức chính trị, xã hội)

Cùng với các cơ quan của Đảng, Nhà nước, các tổ chức nghiên cứu, thông tin về quyền con người đã góp phần quan trọng trong việc cung cấp thông tin về quyền con người theo khía cạnh khoa học. Năm 1994, Trung tâm Nghiên cứu quyền con người thuộc Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh đã được thành lập, nay là Viện Nghiên cứu quyền con người, đặt nền móng cho khoa học nghiên cứu về quyền con người; các Trung tâm Nghiên cứu quyền con người và quyền công dân thuộc Khoa Luật - Đại học Quốc gia, Ðại học Luật Hà Nội, Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh... cũng đã được thành lập, hình thành những đầu mối liên kết nghiên cứu, đào tạo với các cá nhân, tổ chức nghiên cứu, cơ sở đào tạo, các trường đại học trong nước và quốc tế về quyền con người.

2. Thực trạng pháp luật Việt Nam về thiết chế truyền thông trong việc bảo vệ quyền con người

Luật Báo chí được Quốc hội khóa VIII, kỳ họp lần thứ 6 thông qua ngày 28/12/1989 và được sửa đổi, bổ sung một số điều tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa X (năm 1999). Luật đã quy định cụ thể các hình thức báo chí, truyền thông dưới góc độ “Báo”: Báo in; báo nói; báo hình; báo điện tử. Hệ thống tổ chức, nguồn nhân lực báo chí, truyền thông cả nước khá lớn, trung bình:

- Nếu tính theo đơn vị hành chính cấp xã (cập nhật đến 31/12/2008[4]): 23.000 nhà báo, phóng viên/ 32.248 đơn vị hành chính cấp xã = Trung bình 1 nhà báo, phóng viên/1,4 đơn vị hành chính cấp xã.

- Nếu tính theo đầu dân số (tại thời điểm 0 giờ ngày 01/4/2014[5]): 23.000 nhà báo, phóng viên/ 90.493.000 người = Trung bình 1 nhà báo, phóng viên/ 3.934 người dân.

Với số lượng hùng hậu các cơ quan báo chí, truyền thông như trên, việc thông tin về tình hình kinh tế - xã hội có sự đa dạng cao trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; hệ thống phát thành, truyền hình gần như phủ sóng toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Ngoài ra, “người dân Việt Nam được tiếp cận với 75 kênh truyền hình nước ngoài được phát rộng rãi trên thế giới.

Trong lĩnh vực chuyên ngành về quyền con người, pháp luật về báo chí, truyền thông không có một quy định nào về việc thành lập các thiết chế báo chí, truyền thông phục vụ cho việc tuyên truyền sâu về quyền con người, hay có chính sách khuyến khích, ưu tiên phát triển thông tin, truyền thông phục vụ quyền con người. Các thiết chế báo chí, truyền thông về quyền con người hay mở chuyên mục về quyền con người trên cơ sở các chính sách của Đảng, Nhà nước hoặc theo nhu cầu tự thân[6].

Theo Điều 6 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí năm 1999, các tổ chức báo chí, truyền thông có 05/06 nhóm nhiệm vụ liên quan đến công tác truyền thông về bảo vệ quyền con người đó là:

- Thông tin trung thực về tình hình trong nước và thế giới phù hợp với lợi ích của đất nước và của nhân dân;

- Tuyên truyền, phổ biến, góp phần xây dựng và bảo vệ đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thành tựu của đất nước và thế giới theo tôn chỉ, mục đích của cơ quan báo chí; góp phần ổn định chính trị, nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu văn hóa lành mạnh của nhân dân, bảo vệ và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường khối đoàn kết toàn dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa;

- Phản ánh và hướng dẫn dư luận xã hội; làm diễn đàn thực hiện quyền tự do ngôn luận của nhân dân;

- Phát hiện, nêu gương người tốt, việc tốt, nhân tố mới; đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật và các hiện tượng tiêu cực xã hội khác;

- Mở rộng sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nước và các dân tộc, tham gia vào sự nghiệp của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Nhìn chung, hầu hết thiết chế báo chí, truyền thông đều bám sát tôn chỉ, mục đích, thực hiện tốt nhiệm vụ và quyền hạn báo chí, truyền thông theo quy định; qua đó thông tin kịp thời chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến người dân; phản ánh sâu rộng tình hình thực thi quyền con người trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là các vấn đề nóng, gây bức xúc trong xã hội. Nhiều thiết chế báo chí, truyền thông đóng vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền, phổ biến về quyền con người và bảo vệ quyền con người, nâng cao nhận thức, hiểu biết pháp luật cho nhân dân, kết hợp với nhiều hình thức phong phú để tuyên truyền về quyền con người.

Bên cạnh những kết quả đạt được của pháp luật về các thiết chế báo chí, truyền thông trong bảo vệ quyền con người, thực tiễn thời gian qua cho thấy lĩnh vực này vẫn còn những bất cập, hạn chế sau:

- Pháp luật về truyền thông quyền con người chưa có cơ sở vững chắc để tạo lập một môi trường phát triển bền vững cho các thiết chế báo chí, truyền thông. Do đó, công tác thông tin tuyên truyền thúc đẩy về quyền con người có nơi chưa được quan tâm, đánh giá đúng mức, cùng với đó là sự phát triển nhanh và khó kiểm soát của những thông tin xuyên tạc, kích động từ các thế lực thù địch đã làm cho một bộ phận cán bộ, nhân dân nhận thức chưa đầy đủ các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về quyền con người.

- Công tác truyền thông của Việt Nam về lĩnh vực quyền con người thời gian qua rất được chú trọng nhưng chưa toàn diện và bài bản, chưa được tiến hành thường xuyên, liên tục.

- Pháp luật còn thiếu những quy định hạn chế và ràng buộc trách nhiệm vi phạm quyền con người từ hoạt động truyền thông, tự do báo chí, tự do ngôn luận. Không ít trường hợp, do cố ý hoặc thiếu tri thức về nhân quyền nên có bài báo, thông tin truyền thông vi phạm quyền con người, quyền tự do và quyền giữ bí mật cá nhân, gây thiệt hại cho người khác mà không bị trừng trị hoặc phải bồi thường thiệt hại.

- Thiếu những quy định về bảo vệ, bảo đảm an ninh cho các tổ chức, cá nhân vì tham gia hoạt động thông tin, truyền thông về bảo vệ quyền con người, dẫn đến những mối đe dọa thường trực hoặc làm chùn bước đối với những chủ thể này, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, những chủ thể này đang trở thành nạn nhân của nhiều hành vi phạm tội[7], của các chiến dịch bôi nhọ danh dự. Việc bảo vệ nhà báo, người cung cấp thông tin báo chí chưa thực sự hiệu quả, đặc biệt là tình trạng đe dọa sử dụng bạo lực đối với nhà báo còn rất cao, do đó số lượng các vụ việc vi phạm quyền con người được công khai, đưa ra công luận còn ít.

- Sự phối hợp giữa các thiết chế báo chí, truyền thông với các cơ quan nhà nước chưa được hình thành chặt chẽ, chủ yếu mang tính chất vụ việc, nên không hình thành cơ chế, quy trình xử lý thông tin, cung cấp thông tin về quyền con người cho xã hội; đã có những trường hợp, các tở báo chính thức đưa thông tin sai lệch, chậm hoặc thiếu đầy đủ về vụ việc[8]. Pháp luật vẫn chưa có các chế tài đủ mạnh buộc các cơ quan nhà nước phải cung cấp thông tin cho báo chí về những vấn đề nhạy cảm.

- “Pháp luật hiện hành về bảo đảm và thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân trong các lĩnh vực cho thấy, pháp luật chưa xác định rõ quyền tiếp cận thông tin và nội hàm của quyền tiếp cận thông tin; quyền và nghĩa vụ của công dân trong việc tiếp cận thông tin; chưa thể hiện rõ tinh thần của Hiến pháp về trách nhiệm của Nhà nước trong việc tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân, cũng như các nguyên tắc, điều kiện hạn chế thực hiện quyền tiếp cận thông tin. Một số văn bản dưới luật có quy định mang tính hạn chế quyền tiếp cận thông tin của công dân hoặc quy định hạn chế quyền tiếp cận thông tin không thuộc một trong các trường hợp được hạn chế theo quy định của khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013”[9].

3. Đề xuất hoàn thiện pháp luật về truyền thông quyền con người

Một là, sớm thông qua bản bình luận khoa học (chính thức) về Hiến pháp năm 2013, để giải thích thống nhất về quyền con người, làm cơ sở thực thi đầy đủ các quy định Hiến pháp về quyền con người và theo các nguyên tắc quốc tế về tận tâm, thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế “Pacta sunt servanda” đối với quốc gia là thành viên của các điều ước quốc tế (Công ước Liên hợp quốc về quyền con người).

Hai là, hoàn thiện pháp luật về báo chí, truyền thông, phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng tăng cường, chú trọng hơn nội dung quyền con người. Thành lập, bổ sung chức năng mới về truyền thông bảo vệ quyền con người đối với các cơ quan báo chí, truyền thông, đặc biệt phát huy vai trò internet hiện nay thông qua việc thông tin từ các Báo điện tử, các trang thông tin điện tử riêng về giáo dục pháp luật, thông tin về quyền con người; có sự phân loại về nhóm đối tượng thụ hưởng trong tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật, nhất là nhóm đối tượng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, người nghèo và đổi mới hình thức, nội dung, phương pháp tuyên truyền pháp luật.

Bổ sung quy định về tuyên truyền, bồi dưỡng, thông tin về quyền con người, pháp luật về quyền con người, đặc biệt là những quy định mang tính giới hạn thông tin, bảo đảm công lý và đồng thời với nhân phẩm con người, để nhà báo có thể nắm bắt thường xuyên, toàn diện.

Cần xác định giới hạn cung cấp thông tin trong mọi hoạt động của các thiết chế báo chí, truyền thông và nhà báo cũng như các điều kiện bảo đảm cho báo chí tác nghiệp thuận lợi, phản ánh trung thực nhất thực trạng quyền con người và góp phần bảo vệ quyền con người (hỗ trợ của chính quyền, quyền của nhà báo và các biện pháp, công cụ bảo vệ), như:

- Ban hành các đạo luật liên quan trực tiếp đến quyền con người mà hiện đang còn thiếu, như: Luật trưng cầu ý dân, Luật về lập hội...

- Sự cần thiết phải tuân thủ những hạn chế hợp pháp về tự do báo chí, tự do ngôn luận và tự do thông tin trong các tiêu chuẩn quốc tế.

Ba là, các giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông quyền con người:

- Thường xuyên, liên tục tuyên truyền, phổ biến pháp luật (quốc gia và quốc tế) và những kết quả về quyền con người; thông tin truyền thông cần phong phú, đa dạng; nội dung cần được mở rộng, có thể tập trung vào những chủ đề quan trọng về quyền con người. Chủ động, tích cực thực hiện công tác truyền thông một cách bài bản, tránh tình trạng lúng túng, bị động phản ứng khi có các báo cáo, nhận định chỉ trích Việt Nam...

- Các cơ quan, ban ngành, đoàn thể cần cố gắng xuất bản các tài liệu hướng dẫn, phổ biến nâng cao kiến thức, nhận thức về quyền con người đồng thời tăng cường cung cấp thông tin cho báo chí về nỗ lực của Việt Nam trong vấn đề bảo đảm quyền con người, cần có chiến lược truyền thông về con người.

- Các phương tiện thông tin đại chúng của Việt Nam cũng cần cố gắng cải tiến, nâng cao hiệu quả công tác thông tin tuyên truyền về quyền con người. Việc truyền thông về quyền con người trên báo chí cần tiến hành thường xuyên, liên tục, chủ động và toàn diện, mang tính thuyết phục.

- Bên cạnh đó, Nhà nước có trách nhiệm không ngừng tạo môi trường, điều kiện tốt nhất để báo chí có thể hoạt động. Đó là việc dân chủ hóa mọi mặt của đời sống xã hội, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, khuyến khích xã hội dân sự tham gia vào việc bảo vệ nhân quyền[10]...



Nhóm nghiên cứu Đề tài

(Bài viết là sản phẩm của Đề tài khoa học cấp Bộ "Tăng cường vai trò của thiết chế truyền thông trong bảo vệ quyền con người và quyền công dân ở Việt Nam").


[1] So với hiến pháp của nhiều quốc gia, quyền con người trong Hiến pháp năm 2013 được ghi nhận với một số lượng rất nhiều.

[2] Các văn bản quan trọng của luật quốc tế về quyền con người được Việt Nam phê chuẩn gồm: Tuyên ngôn về Nhân quyền năm 1948; Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (1966) và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (1966); Công ước về chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người (1984); Công ước về quyền người khuyết tật (2006).

[3] Theo Luật Nhân quyền quốc tế và hiến pháp của nhiều nước trên thế giới, quyền tiếp cận thông tin thường bao gồm ba quyền phái sinh là: quyền được thông tin, quyền được tìm kiếm thông tin, quyền được phổ biến thông tin. Do đó, cần xây dựng luật để bảo đảm đầy đủ quyền tiếp cận thông tin, trên cơ sở đã được quy định trong Hiến pháp năm 2013.

[4] Tính đến 31/12/2008. Xem: Tổng cục Thống kê, Danh mục các đơn vị hành chính Việt Nam 2008, Nxb. Thống kê.

[5] Xem: Tổng cục Thống kê (2015), Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ thời điểm 1/4/2014: Các kết quả chủ yếu, Hà Nội, tháng 9/2015.

[6] Ví dụ như: Đài Truyền hình Việt Nam xây dựng chuyên mục về “Chân dung cuộc sống” phát sóng định kỳ 02 tuần/số.

[7] Theo Ủy ban Bảo vệ nhà báo, năm 2015, Ít nhất 69 phóng viên, nhà báo đã thiệt mạng khi làm nhiệm vụ trong năm 2015 trên khắp thế giới, cao nhất từ trước tới nay.

[8] Như vụ Tiên Lãng, Hải Phòng;

[9] Xem: Tờ trình số 461/TTr-CP ngày 29/9/2015 của Chính phủ về dự án Luật Tiếp cận thông tin, trang 2.

[10] TS. Đặng Dũng Chí (2012), Báo chí, truyền thông với việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, Tạp chí Lý luận chính trị, số 11/2012, trang 45.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: