Thứ năm 15/01/2026 18:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực trạng tuân thủ pháp luật của người dân vùng Tây Nam Bộ hiện nay

Trong những năm qua, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân đang được đẩy mạnh thực hiện ở các địa phương vùng Tây Nam Bộ. Mặc dù vậy, người dân vẫn chưa chủ động tìm hiểu các quy định của pháp luật, hầu hết họ chỉ quan tâm khi xảy ra các vấn đề có liên quan trong đời sống hàng ngày. Trong bài viết này, nhóm tác giả nghiên cứu về thực trạng tuân thủ pháp luật của người dân vùng Tây Nam Bộ, từ đó, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả tuân thủ pháp luật của người dân vùng Tây Nam Bộ.


1. Khái quát về đặc trưng của vùng Tây Nam Bộ

Vùng Tây Nam Bộ (còn được gọi là Vùng đồng bằng sông Cửu Long) là vùng cực nam của Việt Nam, một trong hai phần của Nam Bộ. Khu vực này có 01 thành phố trực thuộc trung ương là thành phố Cần Thơ và 12 tỉnh: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Sóc Trăng, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà Mau. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam năm 2019, Đồng bằng sông Cửu Long là đồng bằng có tổng diện tích các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương lớn nhất Việt Nam (40.547,2 km²) và có tổng dân số toàn vùng là 17.273.630 người. Đồng bằng sông Cửu Long chiếm 13% diện tích cả nước nhưng có gần 18% dân số cả nước, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn cả nước (năm 2015 tăng 7,8% trong khi cả nước tăng 6,8%)[1].

Theo kết quả điều tra dân số và nhà ở năm 2019[2], có 94,2% dân số từ 15 tuổi trở lên ở vùng Tây Nam Bộ biết đọc, viết; xét về trình độ giáo dục, tỷ lệ dân số 15 tuổi trở lên tốt nghiệp trung học phổ thông chỉ tăng nhẹ 3,4% so với năm 2009, tình trạng trẻ em của vùng Tây Nam Bộ bỏ học ngày càng nhiều bởi các em bị ảnh hưởng lớn bởi các cuộc “di cư” của gia đình như: Sự đổ vỡ của gia đình, quá trình học tập bị gián đoạn, thiếu các mạng lưới xã hội,... dẫn đến tình trạng trẻ em nam chủ yếu làm những công việc đòi hỏi phải có sức khỏe như: Xúc than, đánh bắt thủy sản, buôn bán hoặc buôn lậu ma túy, trẻ em nữ thường làm giúp việc gia đình, một số em bị đẩy vào con đường mại dâm.

2. Thực trạng tuân thủ pháp luật của người dân vùng Tây Nam Bộ

Thứ nhất, đa phần người dân vùng Tây Nam Bộ có ý thức tuân thủ pháp luật tương đối cao: Theo kết quả điều tra xã hội học của Đề tài Khoa học cấp Bộ “Các giải pháp nâng cao hiệu quả tuân thủ pháp luật của người dân vùng Tây Nam Bộ hiện nay”[3], nhóm nghiên cứu đã thu thập được 1.081 phiếu lấy ý kiến người dân tại các tỉnh, thành phố trong khu vực và đưa ra các kết luận về thực trạng tuân thủ pháp luật của người dân vùng Tây Nam Bộ như sau: Có 65,7% người dân cho rằng việc tuân thủ pháp luật là việc làm bắt buộc, còn lại 34,3% không cho là như vậy; 77,8% người dân cho rằng việc thực hiện pháp luật là trách nhiệm của người có quốc tịch Việt Nam, còn lại 22,2% lựa chọn khác[4]. Mặc dù vậy, người dân vẫn chưa chủ động tìm hiểu các quy định về pháp luật, hầu hết họ chỉ quan tâm khi xảy ra các vấn đề có liên quan trong đời sống hàng ngày[5].

Thứ hai, 04 yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất đến việc tuân thủ pháp luật đối với người dân vùng Tây Nam Bộ, đó là: (i) Thói quen, tập quán truyền thống; (ii) Trình độ học vấn; (iii) Nghề nghiệp; (iv) Tâm lý dân tộc (tộc người), tôn giáo, tín ngưỡng[6]. Về khả năng tiếp cận với pháp luật của người dân vùng Tây Nam Bộ: Có 52,7% bộ phận người dân được tiếp cận với thông tin pháp luật qua phương tiện truyền thông đại chúng, 34,5% được tiếp cận thông qua các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL), còn lại 12,8% là những kênh thông tin khác[7]. Có thể thấy, trong thời gian qua, công tác tuyên truyền, PBGDPL luôn là kênh thông tin khá hiệu quả để đưa kiến thức pháp luật đến với người dân.

Thứ ba, 04 lĩnh vực pháp luật mà người dân vùng Tây Nam Bộ quan tâm đến nhất hiện nay là: (i) Giao thông đường bộ; (ii) Hôn nhân và gia đình; (iii) Đất đai; (iv) Dân sự[8].

Thứ tư, về lĩnh vực pháp luật thường xuyên xảy ra vi phạm và đối tượng vi phạm pháp luật nhiều nhất ở vùng Tây Nam Bộ: Việc vi phạm pháp luật của người dân ở vùng Tây Nam Bộ được xác định xảy ra nhiều nhất trong lĩnh vực: (i) Giao thông đường bộ, (ii) Hôn nhân và gia đình; (iii) Đất đai[9]. Trong đó, các đối tượng có biểu hiện vi phạm pháp luật nhiều nhất được chia thành 03 (ba) nhóm: (i) Người vị thành niên; (ii) Người làm nghề tự do; (iii) Con em gia đình không được giáo dục và quản lý tốt[10]. Nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật được xác định chủ yếu là do không hoặc chưa hiểu biết pháp luật (chiếm 44%) và do cơ quan chức năng, quản lý thực hiện pháp luật chưa thường xuyên, chưa chặt chẽ (chiếm 33%), còn lại 23% là nguyên nhân khác[11].

3. Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tuân thủ pháp luật của người dân vùng Tây Nam Bộ hiện nay và trong những năm tới

3.1. Nhóm giải pháp tác động nhận thức

Một là, tập trung vào những đối tượng có nguy cơ vi phạm pháp luật cao của vùng Tây Nam Bộ, đó là 03 (ba) nhóm: (i) Người vị thành niên, (ii) Người làm nghề tự do; (iii) Con em gia đình không được giáo dục và quản lý tốt. Tựu chung lại, đây là các đối tượng ở độ tuổi thanh thiếu niên hoặc những người lao động chưa qua đào tạo tay nghề. Tình hình thanh thiếu niên vi phạm pháp luật ngày càng gia tăng, đặc biệt là tội phạm về các lĩnh vực trộm cắp, ma túy, gây thương tích hoặc giết người do ảnh hưởng của chất kích thích, phạm tội có sử dụng vũ khí với tính chất côn đồ, phạm các tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng... Những đối tượng này thường là thanh thiếu niên không có trình độ văn hóa hoặc có trình độ văn hóa thấp (do bỏ học sớm) dẫn đến thất nghiệp hoặc nghề nghiệp bấp bênh; thanh thiếu niên lười lao động, thích hưởng thụ, ăn chơi, dễ sa ngã vào tệ nạn; thanh thiếu niên sống trong gia đình có hoàn cảnh đặc biệt như: Cha mẹ ly hôn không quan tâm con, cha mẹ phạm tội, hoặc cha mẹ cũng tham gia các tệ nạn xã hội như: Cờ bạc, nghiện các chất kích thích,... phần lớn, đây là những đối tượng dễ vi phạm pháp luật do bị tác động của hoàn cảnh sống.

Để có giải pháp giáo dục nhận thức hiệu quả cho đối tượng này, công tác tuyên truyền, PBGDPL phải gắn bó mật thiết với trường học, tập trung các cơ sở giáo dục đào tạo học sinh ở trình độ trung học cơ sở, trung học phổ thông, các cơ sở dạy nghề. Theo đó, nâng cao vai trò, trách nhiệm của nhà trường trong công tác tuyên truyền, PBGDPL để phòng ngừa việc người chưa thành niên phạm tội. Đặc biệt, đưa cả hai môn học: Giáo dục công dân, Nhà nước và pháp luật trong các cấp học, bậc học từ trung học cơ sở đến trung học phổ thông. Đặc biệt, với quy định hiện nay, các trường trung cấp, cao đẳng có thể tuyển sinh hệ trung học cơ sở, nghĩa là học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở sẽ có cơ hội học trung cấp, cao đẳng (song song với việc học các môn văn hóa) mà không phải học cấp trung học phổ thông. Điều này có lợi cho người học vì rút ngắn được thời gian học tập, có thể tìm được việc làm sớm hơn so với việc học từng cấp bậc như truyền thống. Tuy nhiên, học sinh ở độ tuổi trung học cơ sở, trung học phổ thông chưa trưởng thành về nhận thức nên việc học nghề sớm tại các cơ sở dạy nghề vô hình chung có thể tạo một “lỗ hổng” tâm lý, nhận thức khi tìm hiểu các vấn đề mới mẻ so với trình độ tri thức của mình, chẳng hạn như: Học sinh lớp 9 được giảng dạy các khái niệm về Nhà nước, pháp luật, chế định, chế tài,... trong khi các em đang cần các bài học gần gũi hơn về kỹ năng sống, đạo đức, bình đẳng giới, lòng nhân ái, phòng chống tệ nạn xã hội... để hình thành nhân cách tốt. Như vậy, việc đưa môn Giáo dục công dân vào chương trình đào tạo trung cấp, cao đẳng đối với hệ tuyển trung học phổ thông là rất cần thiết.

Hai là, xác định công tác tuyên truyền, PGBGDPL cần được đẩy mạnh tại các vùng nông thôn: Cơ cấu dân số của các tỉnh vùng Tây Nam Bộ phân bổ chủ yếu ở các vùng nông thôn, chiếm tỷ lệ lớn và đa phần đều là lao động nông nghiệp. Việc tiếp cận với những kiến thức pháp luật của đối tượng này khá hạn chế: (i) Một phần do các kênh thông tin chưa được triển khai đồng bộ và sâu rộng đến các vùng nông thôn; (ii) Một phần do trình độ dân trí cũng ảnh hưởng lớn đến việc đọc, hiểu các quy định của pháp luật, chưa kể nhiều quy định còn mang nặng tính học thuật và hàn lâm. Như vậy, công tác tuyên truyền, PBGDPL cho đối tượng người dân ở vùng nông thôn cần có sự đổi mới, cải tiến về nội dung và hình thức. Việc truyền đạt kiến thức pháp luật cần đơn giản, dễ hiểu, cụ thể hóa thành những tình huống pháp luật, phim ảnh,... gần gũi với cuộc sống hàng ngày để thực sự đưa những quy định của pháp luật đến gần với người dân hơn.

Ba là, chú trọng công tác tuyên truyền, PBGDPL trong lĩnh vực lao động: Theo xu hướng phát triển công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước và tiến trình hội nhập quốc tế, việc giáo dục ý thức kỷ luật lao động cho lực lượng lao động là rất cần thiết. Điều này giúp người dân có việc làm bền vững, từng bước hỗ trợ người dân làm nông nghiệp chuyển sang các ngành nghề công nghiệp, thương mại, dịch vụ đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước.

Bốn là, cải tiến, đổi mới nội dung và phương pháp tuyên truyền, PBGDPL theo đặc thù riêng cho từng khu vực, đối tượng, xác định nội dung pháp luật trọng tâm cần PBGDPL đến người dân vùng Tây Nam Bộ hiện nay, tập trung vào các lĩnh vực giao thông đường bộ, đất đai, hôn nhân và gia đình: Theo đó, các cơ quan tư pháp và Hội đồng Phối hợp PBGDPL các cấp cần đổi mới và nâng cao chất lượng tư vấn, định hướng về chủ đề, nội dung, hình thức PBGDPL không chỉ phục vụ công tác quản lý nhà nước của các cơ quan công quyền mà phải thực sự thiết thực, chính xác, gắn với những vấn đề của cuộc sống mà người dân quan tâm.

3.2. Nhóm giải pháp về thể chế

Một là, việc xây dựng các thể chế cần bảo đảm nội dung các quy phạm pháp luật, các văn bản quy phạm pháp luật có kết cấu chặt chẽ, logic, các thuật ngữ pháp lý được sử dụng chính xác, đơn nghĩa, lời văn trong sáng, ngắn gọn, dễ hiểu, phù hợp với khả năng nhận thức của đa số quần chúng nhân dân: Văn bản có tên gọi phù hợp với nội dung, hình thức rõ ràng, dễ thực hiện. Có thể khẳng định, pháp luật sẽ có hiệu quả cao nếu phù hợp với trình độ, ý thức pháp luật hiện có của đông đảo quần chúng nhân dân. Muốn vậy, đội ngũ xây dựng pháp luật phải có trình độ kỹ thuật pháp lý cao, các nhà làm luật cần có tư duy thực tiễn, thực tiễn có kiểm chứng. Bởi lẽ, muốn “đưa pháp luật vào cuộc sống” thì trước hết cần phải đưa cuộc sống vào luật. Nếu một đạo luật không được xây dựng dựa trên những đòi hỏi của thực tiễn, không phúc đáp được các yêu cầu của thực tiễn với những bằng chứng thuyết phục thì đạo luật đó sẽ trở nên không khả thi và lẽ tất nhiên, nó cũng khó có thể đi vào cuộc sống[12].

Hai là, các văn bản pháp luật phải được ban hành đúng lúc, kịp thời, có sự khảo sát, xem xét, đánh giá điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội của địa phương cho phép thực hiện được văn bản pháp luật đó hay không: Đồng thời, phải xem xét các điều kiện khác như tổ chức bộ máy, nhân sự, trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức; trình độ văn hóa, kiến thức pháp lý và năng lực của nhân dân; việc dư luận xã hội có ủng hộ hay không,... Trong pháp luật, phải đưa ra được phương án tốt nhất với phương pháp điều chỉnh pháp luật phù hợp nhất để thông qua đó có thể đạt được mục đích mong muốn trong điều kiện kinh tế - xã hội hiện tại[13].

Ba là, xây dựng cơ chế chính sách đãi ngộ, quan tâm đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ tuyên truyền viên, báo cáo viên trợ giúp pháp lý: Một trong những thách thức lớn đối với đội ngũ làm công tác giáo dục pháp luật đó là sự phát triển mạnh mẽ và lan rộng của mạng xã hội, các phương tiện truyền thông mới. Đây được xem là “con dao hai lưỡi” vì có thể tận dụng lợi thế công nghệ thông tin, truyền thông để phát huy hiệu quả của công tác tuyên truyền, PBGDPL ở các cấp nhưng cũng là thách thức lớn khi các thông tin lan tràn trên mạng xã hội, các kênh thông tin không chính thống đã có những tác động tiêu cực đến người dân, thậm chí là tác động đến các cán bộ, Đảng viên. Vì vậy, trong giai đoạn hội nhập này, yêu cầu đối với đội ngũ báo cáo viên càng cao, đội ngũ báo cáo viên phải am hiểu công nghệ thông tin, cập nhật thông tin thường xuyên, chọn lọc và cung cấp nguồn tin chính thống, chính xác và thông tin nhanh đến với người dân; phòng, tránh và đấu tranh, phản bác những thông tin xấu, độc. Từ đó, tạo được sự đồng thuận trong nhân dân.

Bốn là, chú trọng nghiên cứu hoàn thiện hệ thống pháp luật về khai thác, sử dụng tập quán: Tập quán có thể điều chỉnh các quan hệ xã hội theo hướng phù hợp hoặc không phù hợp với đạo đức, pháp luật và những loại quy tắc xử sự khác. Tập quán có tác động lớn đến nhận thức của con người bởi nó được hình thành từ thói quen của cá nhân trong cộng đồng hoặc nhiều cộng đồng. Do đó, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật có sự sàng lọc các tập quán theo hướng phù hợp với đạo đức, có nội dung rõ ràng để chủ thể có liên quan hiểu được, thực hiện được ở địa phương là một vấn đề cần có sự nghiên cứu kỹ lưỡng và khảo sát sâu rộng trong nhân dân.

3.3. Nhóm giải pháp về nguồn lực

Một là, mỗi Đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức phải thực sự là những người am hiểu và gương mẫu trong việc tuân thủ pháp luật, có như vậy, việc triển khai công tác tuyên truyền, giải thích, hướng dẫn thực hiện pháp luật cho người dân mới đạt hiệu quả cao trên thực tế: Đa số người dân được khảo sát đều đánh giá cao vai trò của đội ngũ thực thi pháp luật cũng như các cơ quan nhà nước trong việc tổ chức cho người dân thực hiện pháp luật, đồng thời, bảo đảm tăng cường công tác kiểm tra, giám sát về hoạt động này.

Hai là, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác tuyên truyền, PBGDPL để người dân tiếp cận thông tin pháp luật mọi lúc, mọi nơi: Hiện nay, với tốc độ phát triển của mạng internet và các ứng dụng mạng xã hội, mạng viễn thông, người dân Việt Nam có xu hướng sử dụng các nền tảng công nghệ để nắm bắt thông tin hàng ngày như thông qua báo điện tử, Facebook, Zalo, Youtube và các mạng xã hội khác,... Do đó, việc tận dụng lợi thế của các nền tảng công nghệ này sẽ giúp cơ quan quản lý nhà nước dễ dàng tiếp cận với người dân hơn, từ đó, có sự lan tỏa mạnh mẽ trong chia sẻ thông tin, PBGDPL, phục vụ nhu cầu tìm hiểu pháp luật của nhân dân. Bên cạnh đó, tăng cường sử dụng các công cụ số để nắm bắt tình hình người dân, dư luận xã hội đang quan tâm nhiều nhất đến vấn đề gì[14] để thiết kế, triển khai chương trình tuyên truyền, PBGDPL đúng trọng tâm, trọng điểm, đạt hiệu quả cao.

Ba là, gắn công tác xây dựng gia đình văn hóa với các phong trào quần chúng của địa phương để tạo sự gắn bó giữa gia đình và xã hội: Sự gắn kết của cộng đồng sẽ tạo nên sức lan tỏa mạnh mẽ từ ý thức đến hành động, đây được xem là một nguồn lực lớn, cơ bản để đưa pháp luật vào thực tiễn cuộc sống. Chẳng hạn như, xây dựng gia đình văn hóa theo phương thức tập trung phát triển kinh tế gia đình, dám nghĩ dám làm, mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, kinh doanh, đẩy mạnh phong trào xây dựng “Tổ dân phố văn hóa”, “Khu dân cư không có tệ nạn xã hội”, thực hiện mô hình “Tiếng mõ an ninh”, “Gia đình không bạo lực gia đình”, “Phụ nữ với an toàn giao thông”, “Phụ nữ nông thôn với pháp luật”[15], nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội,... Hoạt động này sẽ có tác động tích cực đến việc xây dựng, gắn kết “tình làng nghĩa xóm”, góp phần lan tỏa mạnh mẽ ý thức chấp hành pháp luật trong cộng đồng.

ThS. Nguyễn Thị Kim Hoa
ThS. Nguyễn Thị Na
Trường Cao đẳng Luật miền Trung



[1]. Kết quả Điều tra xã hội học của Đề tài Khoa học cấp Bộ, tlđd, tr. 25

[2]. ThS. Phan Thuận - Học viện Chính trị Khu vực IV, ThS. Lâm Minh Hậu - Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang, “Cơ cấu dân số ở đồng bằng sông Cửu Long: Thực trạng và các khuyến nghị chính sách”,

[3]. Chủ nhiệm đề tài TS. Nguyễn Thị Tuyết Mai, Thư ký đề tài ThS. Nguyễn Thị Kim Hoa; Cơ quan chủ quản Viện Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp; Điều tra này được tiến hành ở một số địa phương Vùng Tây Nam Bộ tháng 10 - 12/2020.

[4]. Kết quả Điều tra xã hội học của Đề tài Khoa học cấp Bộ “Các giải pháp nâng cao hiệu quả tuân thủ pháp luật của người dân vùng Tây Nam Bộ hiện nay”; Chủ nhiệm đề tài TS. Nguyễn Thị Tuyết Mai, Thư ký đề tài ThS. Nguyễn Thị Kim Hoa; Cơ quan chủ quản Viện Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp; Điều tra này được tiến hành ở một số địa phương Vùng Tây Nam Bộ tháng 10 - 12/2020, tr. 31 - tr. 33.

[5]. Kết quả Điều tra xã hội học của Đề tài Khoa học cấp Bộ, tlđd, tr. 36.

[6]. Kết quả Điều tra xã hội học của Đề tài Khoa học cấp Bộ, tlđd, tr. 35.

[7]. Kết quả Điều tra xã hội học của Đề tài Khoa học cấp Bộ, tlđd, tr. 37.

[8]. Kết quả Điều tra xã hội học của Đề tài Khoa học cấp Bộ, tr. 37.

[9]. Kết quả Điều tra xã hội học của Đề tài Khoa học cấp Bộ, tlđd, tr. 43.

[10]. Kết quả Điều tra xã hội học của Đề tài Khoa học cấp Bộ , tlđd, tr. 46.

[11]. Kết quả Điều tra xã hội học của Đề tài Khoa học cấp Bộ, tlđd, tr. 49.

[12]. PGS.TS. Đinh Dũng Sỹ: “Đổi mới tư duy trong xây dựng pháp luật”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 2+3/2019.

[13]. TS. Nguyễn Minh Đoan: Ý thức pháp luật, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 146 - tr. 147.

[14]. Tài liệu Hội nghị trực tuyến toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam.

[15]. TS. Dương Thành Trung: “Một số giải pháp về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật của người dân vùng Tây Nam bộ”, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học cấp Bộ tháng 4/2021.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: