Chủ nhật 20/09/2026 19:43
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực trạng tuân thủ pháp luật của người dân vùng Tây Nam Bộ hiện nay

Trong những năm qua, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân đang được đẩy mạnh thực hiện ở các địa phương vùng Tây Nam Bộ. Mặc dù vậy, người dân vẫn chưa chủ động tìm hiểu các quy định của pháp luật, hầu hết họ chỉ quan tâm khi xảy ra các vấn đề có liên quan trong đời sống hàng ngày. Trong bài viết này, nhóm tác giả nghiên cứu về thực trạng tuân thủ pháp luật của người dân vùng Tây Nam Bộ, từ đó, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả tuân thủ pháp luật của người dân vùng Tây Nam Bộ.


1. Khái quát về đặc trưng của vùng Tây Nam Bộ

Vùng Tây Nam Bộ (còn được gọi là Vùng đồng bằng sông Cửu Long) là vùng cực nam của Việt Nam, một trong hai phần của Nam Bộ. Khu vực này có 01 thành phố trực thuộc trung ương là thành phố Cần Thơ và 12 tỉnh: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Sóc Trăng, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà Mau. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam năm 2019, Đồng bằng sông Cửu Long là đồng bằng có tổng diện tích các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương lớn nhất Việt Nam (40.547,2 km²) và có tổng dân số toàn vùng là 17.273.630 người. Đồng bằng sông Cửu Long chiếm 13% diện tích cả nước nhưng có gần 18% dân số cả nước, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn cả nước (năm 2015 tăng 7,8% trong khi cả nước tăng 6,8%)[1].

Theo kết quả điều tra dân số và nhà ở năm 2019[2], có 94,2% dân số từ 15 tuổi trở lên ở vùng Tây Nam Bộ biết đọc, viết; xét về trình độ giáo dục, tỷ lệ dân số 15 tuổi trở lên tốt nghiệp trung học phổ thông chỉ tăng nhẹ 3,4% so với năm 2009, tình trạng trẻ em của vùng Tây Nam Bộ bỏ học ngày càng nhiều bởi các em bị ảnh hưởng lớn bởi các cuộc “di cư” của gia đình như: Sự đổ vỡ của gia đình, quá trình học tập bị gián đoạn, thiếu các mạng lưới xã hội,... dẫn đến tình trạng trẻ em nam chủ yếu làm những công việc đòi hỏi phải có sức khỏe như: Xúc than, đánh bắt thủy sản, buôn bán hoặc buôn lậu ma túy, trẻ em nữ thường làm giúp việc gia đình, một số em bị đẩy vào con đường mại dâm.

2. Thực trạng tuân thủ pháp luật của người dân vùng Tây Nam Bộ

Thứ nhất, đa phần người dân vùng Tây Nam Bộ có ý thức tuân thủ pháp luật tương đối cao: Theo kết quả điều tra xã hội học của Đề tài Khoa học cấp Bộ “Các giải pháp nâng cao hiệu quả tuân thủ pháp luật của người dân vùng Tây Nam Bộ hiện nay”[3], nhóm nghiên cứu đã thu thập được 1.081 phiếu lấy ý kiến người dân tại các tỉnh, thành phố trong khu vực và đưa ra các kết luận về thực trạng tuân thủ pháp luật của người dân vùng Tây Nam Bộ như sau: Có 65,7% người dân cho rằng việc tuân thủ pháp luật là việc làm bắt buộc, còn lại 34,3% không cho là như vậy; 77,8% người dân cho rằng việc thực hiện pháp luật là trách nhiệm của người có quốc tịch Việt Nam, còn lại 22,2% lựa chọn khác[4]. Mặc dù vậy, người dân vẫn chưa chủ động tìm hiểu các quy định về pháp luật, hầu hết họ chỉ quan tâm khi xảy ra các vấn đề có liên quan trong đời sống hàng ngày[5].

Thứ hai, 04 yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất đến việc tuân thủ pháp luật đối với người dân vùng Tây Nam Bộ, đó là: (i) Thói quen, tập quán truyền thống; (ii) Trình độ học vấn; (iii) Nghề nghiệp; (iv) Tâm lý dân tộc (tộc người), tôn giáo, tín ngưỡng[6]. Về khả năng tiếp cận với pháp luật của người dân vùng Tây Nam Bộ: Có 52,7% bộ phận người dân được tiếp cận với thông tin pháp luật qua phương tiện truyền thông đại chúng, 34,5% được tiếp cận thông qua các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL), còn lại 12,8% là những kênh thông tin khác[7]. Có thể thấy, trong thời gian qua, công tác tuyên truyền, PBGDPL luôn là kênh thông tin khá hiệu quả để đưa kiến thức pháp luật đến với người dân.

Thứ ba, 04 lĩnh vực pháp luật mà người dân vùng Tây Nam Bộ quan tâm đến nhất hiện nay là: (i) Giao thông đường bộ; (ii) Hôn nhân và gia đình; (iii) Đất đai; (iv) Dân sự[8].

Thứ tư, về lĩnh vực pháp luật thường xuyên xảy ra vi phạm và đối tượng vi phạm pháp luật nhiều nhất ở vùng Tây Nam Bộ: Việc vi phạm pháp luật của người dân ở vùng Tây Nam Bộ được xác định xảy ra nhiều nhất trong lĩnh vực: (i) Giao thông đường bộ, (ii) Hôn nhân và gia đình; (iii) Đất đai[9]. Trong đó, các đối tượng có biểu hiện vi phạm pháp luật nhiều nhất được chia thành 03 (ba) nhóm: (i) Người vị thành niên; (ii) Người làm nghề tự do; (iii) Con em gia đình không được giáo dục và quản lý tốt[10]. Nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật được xác định chủ yếu là do không hoặc chưa hiểu biết pháp luật (chiếm 44%) và do cơ quan chức năng, quản lý thực hiện pháp luật chưa thường xuyên, chưa chặt chẽ (chiếm 33%), còn lại 23% là nguyên nhân khác[11].

3. Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tuân thủ pháp luật của người dân vùng Tây Nam Bộ hiện nay và trong những năm tới

3.1. Nhóm giải pháp tác động nhận thức

Một là, tập trung vào những đối tượng có nguy cơ vi phạm pháp luật cao của vùng Tây Nam Bộ, đó là 03 (ba) nhóm: (i) Người vị thành niên, (ii) Người làm nghề tự do; (iii) Con em gia đình không được giáo dục và quản lý tốt. Tựu chung lại, đây là các đối tượng ở độ tuổi thanh thiếu niên hoặc những người lao động chưa qua đào tạo tay nghề. Tình hình thanh thiếu niên vi phạm pháp luật ngày càng gia tăng, đặc biệt là tội phạm về các lĩnh vực trộm cắp, ma túy, gây thương tích hoặc giết người do ảnh hưởng của chất kích thích, phạm tội có sử dụng vũ khí với tính chất côn đồ, phạm các tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng... Những đối tượng này thường là thanh thiếu niên không có trình độ văn hóa hoặc có trình độ văn hóa thấp (do bỏ học sớm) dẫn đến thất nghiệp hoặc nghề nghiệp bấp bênh; thanh thiếu niên lười lao động, thích hưởng thụ, ăn chơi, dễ sa ngã vào tệ nạn; thanh thiếu niên sống trong gia đình có hoàn cảnh đặc biệt như: Cha mẹ ly hôn không quan tâm con, cha mẹ phạm tội, hoặc cha mẹ cũng tham gia các tệ nạn xã hội như: Cờ bạc, nghiện các chất kích thích,... phần lớn, đây là những đối tượng dễ vi phạm pháp luật do bị tác động của hoàn cảnh sống.

Để có giải pháp giáo dục nhận thức hiệu quả cho đối tượng này, công tác tuyên truyền, PBGDPL phải gắn bó mật thiết với trường học, tập trung các cơ sở giáo dục đào tạo học sinh ở trình độ trung học cơ sở, trung học phổ thông, các cơ sở dạy nghề. Theo đó, nâng cao vai trò, trách nhiệm của nhà trường trong công tác tuyên truyền, PBGDPL để phòng ngừa việc người chưa thành niên phạm tội. Đặc biệt, đưa cả hai môn học: Giáo dục công dân, Nhà nước và pháp luật trong các cấp học, bậc học từ trung học cơ sở đến trung học phổ thông. Đặc biệt, với quy định hiện nay, các trường trung cấp, cao đẳng có thể tuyển sinh hệ trung học cơ sở, nghĩa là học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở sẽ có cơ hội học trung cấp, cao đẳng (song song với việc học các môn văn hóa) mà không phải học cấp trung học phổ thông. Điều này có lợi cho người học vì rút ngắn được thời gian học tập, có thể tìm được việc làm sớm hơn so với việc học từng cấp bậc như truyền thống. Tuy nhiên, học sinh ở độ tuổi trung học cơ sở, trung học phổ thông chưa trưởng thành về nhận thức nên việc học nghề sớm tại các cơ sở dạy nghề vô hình chung có thể tạo một “lỗ hổng” tâm lý, nhận thức khi tìm hiểu các vấn đề mới mẻ so với trình độ tri thức của mình, chẳng hạn như: Học sinh lớp 9 được giảng dạy các khái niệm về Nhà nước, pháp luật, chế định, chế tài,... trong khi các em đang cần các bài học gần gũi hơn về kỹ năng sống, đạo đức, bình đẳng giới, lòng nhân ái, phòng chống tệ nạn xã hội... để hình thành nhân cách tốt. Như vậy, việc đưa môn Giáo dục công dân vào chương trình đào tạo trung cấp, cao đẳng đối với hệ tuyển trung học phổ thông là rất cần thiết.

Hai là, xác định công tác tuyên truyền, PGBGDPL cần được đẩy mạnh tại các vùng nông thôn: Cơ cấu dân số của các tỉnh vùng Tây Nam Bộ phân bổ chủ yếu ở các vùng nông thôn, chiếm tỷ lệ lớn và đa phần đều là lao động nông nghiệp. Việc tiếp cận với những kiến thức pháp luật của đối tượng này khá hạn chế: (i) Một phần do các kênh thông tin chưa được triển khai đồng bộ và sâu rộng đến các vùng nông thôn; (ii) Một phần do trình độ dân trí cũng ảnh hưởng lớn đến việc đọc, hiểu các quy định của pháp luật, chưa kể nhiều quy định còn mang nặng tính học thuật và hàn lâm. Như vậy, công tác tuyên truyền, PBGDPL cho đối tượng người dân ở vùng nông thôn cần có sự đổi mới, cải tiến về nội dung và hình thức. Việc truyền đạt kiến thức pháp luật cần đơn giản, dễ hiểu, cụ thể hóa thành những tình huống pháp luật, phim ảnh,... gần gũi với cuộc sống hàng ngày để thực sự đưa những quy định của pháp luật đến gần với người dân hơn.

Ba là, chú trọng công tác tuyên truyền, PBGDPL trong lĩnh vực lao động: Theo xu hướng phát triển công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước và tiến trình hội nhập quốc tế, việc giáo dục ý thức kỷ luật lao động cho lực lượng lao động là rất cần thiết. Điều này giúp người dân có việc làm bền vững, từng bước hỗ trợ người dân làm nông nghiệp chuyển sang các ngành nghề công nghiệp, thương mại, dịch vụ đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước.

Bốn là, cải tiến, đổi mới nội dung và phương pháp tuyên truyền, PBGDPL theo đặc thù riêng cho từng khu vực, đối tượng, xác định nội dung pháp luật trọng tâm cần PBGDPL đến người dân vùng Tây Nam Bộ hiện nay, tập trung vào các lĩnh vực giao thông đường bộ, đất đai, hôn nhân và gia đình: Theo đó, các cơ quan tư pháp và Hội đồng Phối hợp PBGDPL các cấp cần đổi mới và nâng cao chất lượng tư vấn, định hướng về chủ đề, nội dung, hình thức PBGDPL không chỉ phục vụ công tác quản lý nhà nước của các cơ quan công quyền mà phải thực sự thiết thực, chính xác, gắn với những vấn đề của cuộc sống mà người dân quan tâm.

3.2. Nhóm giải pháp về thể chế

Một là, việc xây dựng các thể chế cần bảo đảm nội dung các quy phạm pháp luật, các văn bản quy phạm pháp luật có kết cấu chặt chẽ, logic, các thuật ngữ pháp lý được sử dụng chính xác, đơn nghĩa, lời văn trong sáng, ngắn gọn, dễ hiểu, phù hợp với khả năng nhận thức của đa số quần chúng nhân dân: Văn bản có tên gọi phù hợp với nội dung, hình thức rõ ràng, dễ thực hiện. Có thể khẳng định, pháp luật sẽ có hiệu quả cao nếu phù hợp với trình độ, ý thức pháp luật hiện có của đông đảo quần chúng nhân dân. Muốn vậy, đội ngũ xây dựng pháp luật phải có trình độ kỹ thuật pháp lý cao, các nhà làm luật cần có tư duy thực tiễn, thực tiễn có kiểm chứng. Bởi lẽ, muốn “đưa pháp luật vào cuộc sống” thì trước hết cần phải đưa cuộc sống vào luật. Nếu một đạo luật không được xây dựng dựa trên những đòi hỏi của thực tiễn, không phúc đáp được các yêu cầu của thực tiễn với những bằng chứng thuyết phục thì đạo luật đó sẽ trở nên không khả thi và lẽ tất nhiên, nó cũng khó có thể đi vào cuộc sống[12].

Hai là, các văn bản pháp luật phải được ban hành đúng lúc, kịp thời, có sự khảo sát, xem xét, đánh giá điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội của địa phương cho phép thực hiện được văn bản pháp luật đó hay không: Đồng thời, phải xem xét các điều kiện khác như tổ chức bộ máy, nhân sự, trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức; trình độ văn hóa, kiến thức pháp lý và năng lực của nhân dân; việc dư luận xã hội có ủng hộ hay không,... Trong pháp luật, phải đưa ra được phương án tốt nhất với phương pháp điều chỉnh pháp luật phù hợp nhất để thông qua đó có thể đạt được mục đích mong muốn trong điều kiện kinh tế - xã hội hiện tại[13].

Ba là, xây dựng cơ chế chính sách đãi ngộ, quan tâm đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ tuyên truyền viên, báo cáo viên trợ giúp pháp lý: Một trong những thách thức lớn đối với đội ngũ làm công tác giáo dục pháp luật đó là sự phát triển mạnh mẽ và lan rộng của mạng xã hội, các phương tiện truyền thông mới. Đây được xem là “con dao hai lưỡi” vì có thể tận dụng lợi thế công nghệ thông tin, truyền thông để phát huy hiệu quả của công tác tuyên truyền, PBGDPL ở các cấp nhưng cũng là thách thức lớn khi các thông tin lan tràn trên mạng xã hội, các kênh thông tin không chính thống đã có những tác động tiêu cực đến người dân, thậm chí là tác động đến các cán bộ, Đảng viên. Vì vậy, trong giai đoạn hội nhập này, yêu cầu đối với đội ngũ báo cáo viên càng cao, đội ngũ báo cáo viên phải am hiểu công nghệ thông tin, cập nhật thông tin thường xuyên, chọn lọc và cung cấp nguồn tin chính thống, chính xác và thông tin nhanh đến với người dân; phòng, tránh và đấu tranh, phản bác những thông tin xấu, độc. Từ đó, tạo được sự đồng thuận trong nhân dân.

Bốn là, chú trọng nghiên cứu hoàn thiện hệ thống pháp luật về khai thác, sử dụng tập quán: Tập quán có thể điều chỉnh các quan hệ xã hội theo hướng phù hợp hoặc không phù hợp với đạo đức, pháp luật và những loại quy tắc xử sự khác. Tập quán có tác động lớn đến nhận thức của con người bởi nó được hình thành từ thói quen của cá nhân trong cộng đồng hoặc nhiều cộng đồng. Do đó, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật có sự sàng lọc các tập quán theo hướng phù hợp với đạo đức, có nội dung rõ ràng để chủ thể có liên quan hiểu được, thực hiện được ở địa phương là một vấn đề cần có sự nghiên cứu kỹ lưỡng và khảo sát sâu rộng trong nhân dân.

3.3. Nhóm giải pháp về nguồn lực

Một là, mỗi Đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức phải thực sự là những người am hiểu và gương mẫu trong việc tuân thủ pháp luật, có như vậy, việc triển khai công tác tuyên truyền, giải thích, hướng dẫn thực hiện pháp luật cho người dân mới đạt hiệu quả cao trên thực tế: Đa số người dân được khảo sát đều đánh giá cao vai trò của đội ngũ thực thi pháp luật cũng như các cơ quan nhà nước trong việc tổ chức cho người dân thực hiện pháp luật, đồng thời, bảo đảm tăng cường công tác kiểm tra, giám sát về hoạt động này.

Hai là, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác tuyên truyền, PBGDPL để người dân tiếp cận thông tin pháp luật mọi lúc, mọi nơi: Hiện nay, với tốc độ phát triển của mạng internet và các ứng dụng mạng xã hội, mạng viễn thông, người dân Việt Nam có xu hướng sử dụng các nền tảng công nghệ để nắm bắt thông tin hàng ngày như thông qua báo điện tử, Facebook, Zalo, Youtube và các mạng xã hội khác,... Do đó, việc tận dụng lợi thế của các nền tảng công nghệ này sẽ giúp cơ quan quản lý nhà nước dễ dàng tiếp cận với người dân hơn, từ đó, có sự lan tỏa mạnh mẽ trong chia sẻ thông tin, PBGDPL, phục vụ nhu cầu tìm hiểu pháp luật của nhân dân. Bên cạnh đó, tăng cường sử dụng các công cụ số để nắm bắt tình hình người dân, dư luận xã hội đang quan tâm nhiều nhất đến vấn đề gì[14] để thiết kế, triển khai chương trình tuyên truyền, PBGDPL đúng trọng tâm, trọng điểm, đạt hiệu quả cao.

Ba là, gắn công tác xây dựng gia đình văn hóa với các phong trào quần chúng của địa phương để tạo sự gắn bó giữa gia đình và xã hội: Sự gắn kết của cộng đồng sẽ tạo nên sức lan tỏa mạnh mẽ từ ý thức đến hành động, đây được xem là một nguồn lực lớn, cơ bản để đưa pháp luật vào thực tiễn cuộc sống. Chẳng hạn như, xây dựng gia đình văn hóa theo phương thức tập trung phát triển kinh tế gia đình, dám nghĩ dám làm, mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, kinh doanh, đẩy mạnh phong trào xây dựng “Tổ dân phố văn hóa”, “Khu dân cư không có tệ nạn xã hội”, thực hiện mô hình “Tiếng mõ an ninh”, “Gia đình không bạo lực gia đình”, “Phụ nữ với an toàn giao thông”, “Phụ nữ nông thôn với pháp luật”[15], nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội,... Hoạt động này sẽ có tác động tích cực đến việc xây dựng, gắn kết “tình làng nghĩa xóm”, góp phần lan tỏa mạnh mẽ ý thức chấp hành pháp luật trong cộng đồng.

ThS. Nguyễn Thị Kim Hoa
ThS. Nguyễn Thị Na
Trường Cao đẳng Luật miền Trung



[1]. Kết quả Điều tra xã hội học của Đề tài Khoa học cấp Bộ, tlđd, tr. 25

[2]. ThS. Phan Thuận - Học viện Chính trị Khu vực IV, ThS. Lâm Minh Hậu - Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang, “Cơ cấu dân số ở đồng bằng sông Cửu Long: Thực trạng và các khuyến nghị chính sách”,

[3]. Chủ nhiệm đề tài TS. Nguyễn Thị Tuyết Mai, Thư ký đề tài ThS. Nguyễn Thị Kim Hoa; Cơ quan chủ quản Viện Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp; Điều tra này được tiến hành ở một số địa phương Vùng Tây Nam Bộ tháng 10 - 12/2020.

[4]. Kết quả Điều tra xã hội học của Đề tài Khoa học cấp Bộ “Các giải pháp nâng cao hiệu quả tuân thủ pháp luật của người dân vùng Tây Nam Bộ hiện nay”; Chủ nhiệm đề tài TS. Nguyễn Thị Tuyết Mai, Thư ký đề tài ThS. Nguyễn Thị Kim Hoa; Cơ quan chủ quản Viện Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp; Điều tra này được tiến hành ở một số địa phương Vùng Tây Nam Bộ tháng 10 - 12/2020, tr. 31 - tr. 33.

[5]. Kết quả Điều tra xã hội học của Đề tài Khoa học cấp Bộ, tlđd, tr. 36.

[6]. Kết quả Điều tra xã hội học của Đề tài Khoa học cấp Bộ, tlđd, tr. 35.

[7]. Kết quả Điều tra xã hội học của Đề tài Khoa học cấp Bộ, tlđd, tr. 37.

[8]. Kết quả Điều tra xã hội học của Đề tài Khoa học cấp Bộ, tr. 37.

[9]. Kết quả Điều tra xã hội học của Đề tài Khoa học cấp Bộ, tlđd, tr. 43.

[10]. Kết quả Điều tra xã hội học của Đề tài Khoa học cấp Bộ , tlđd, tr. 46.

[11]. Kết quả Điều tra xã hội học của Đề tài Khoa học cấp Bộ, tlđd, tr. 49.

[12]. PGS.TS. Đinh Dũng Sỹ: “Đổi mới tư duy trong xây dựng pháp luật”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 2+3/2019.

[13]. TS. Nguyễn Minh Đoan: Ý thức pháp luật, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 146 - tr. 147.

[14]. Tài liệu Hội nghị trực tuyến toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam.

[15]. TS. Dương Thành Trung: “Một số giải pháp về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật của người dân vùng Tây Nam bộ”, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học cấp Bộ tháng 4/2021.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: