Thứ sáu 20/03/2026 01:45
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ người làm công tác pháp chế tại địa phương hiện nay

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc xây dựng tổ chức bộ máy và cán bộ pháp chế ở địa phương vẫn còn nhiều hạn chế và đã được nêu ra trong báo cáo của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong 10 năm thi hành Nghị định số 55/2011/NĐ-CP, có thể nêu ra như sau:

Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế (Nghị định số 55/2011/NĐ-CP) thay thế Nghị định số 122/2004/NĐ-CP ngày 18/5/2004 của Chính phủ quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức pháp chế các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và doanh nghiệp nhà nước, là một trong những bước phát triển quan trọng của thể chế góp phần kiện toàn tổ chức bộ máy và cán bộ làm công tác pháp chế ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Tại tất cả 63 tỉnh, thành phố, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã ban hành Đề án thành lập tổ chức pháp chế tại 14 cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Nghị định số 55/2011/NĐ-CP; ban hành Chỉ thị về việc triển khai thực hiện Nghị định trên địa bàn tỉnh; Kế hoạch thực hiện công tác pháp chế trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2011-2015 và giai đoạn 2015-2020, trong đó quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trong việc kiện toàn tổ chức pháp chế, nâng cao năng lực đội ngũ pháp chế nhằm thực hiện có hiệu quả Nghị định số 55/2011/NĐ-CP[1].

Để quán triệt và phổ biến các nội dung cơ bản của Nghị định số 55/2011/NĐ-CP, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã quan tâm đến công tác tuyên truyền, phổ biến nội dung Nghị định số 55/2011/NĐ-CP đến các cán bộ, công chức và lãnh đạo các đơn vị để có nhận thức đầy đủ, đúng đắn và thống nhất với nhiều hình thức khác nhau như: Tổ chức hội nghị, hội thảo, hội nghị tập huấn về nghiệp vụ… Nhiều nơi đã thực hiện lồng ghép tuyên truyền, phổ biến nội dung Nghị định số 55/2011/NĐ-CP trong các buổi họp giao ban, thông qua sinh hoạt “Ngày Pháp luật” của cơ quan, đơn vị[2]

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc xây dựng tổ chức bộ máy và cán bộ pháp chế ở địa phương vẫn còn nhiều hạn chế và đã được nêu ra trong báo cáo của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong 10 năm thi hành Nghị định số 55/2011/NĐ-CP, có thể nêu ra như sau:

Một là, việc kiện toàn tổ chức pháp chế ở địa phương chưa đáp ứng được yêu cầu của Nghị định số 55/2011/NĐ-CP và yêu cầu công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật tại địa phương. Nhiều địa phương chưa thành lập tổ chức pháp chế ở các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc đã thành lập nhưng bị giải thể. Ở các địa phương khác, mặc dù đã thành lập được tổ chức pháp chế nhưng thường ghép công tác pháp chế với Thanh tra, Văn phòng hoặc phòng chuyên môn khác của cơ quan chuyên môn[3].

Việc các thông tư hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được ban hành mà không quy định phòng pháp chế trong cơ cấu tổ chức đã ảnh hưởng đến việc kiện toàn, củng cố tổ chức pháp chế tại cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh.

Tổ chức bộ máy, cán bộ làm công tác pháp chế đang từng bước được mở rộng, kiện toàn theo yêu cầu của Nghị định số 55/2011/NĐ-CP. Đến đầu năm 2015, để thực hiện chủ trương tinh giản tổ chức bộ máy và tinh giản biên chế, các địa phương bắt đầu thực hiện các thông tư, thông tư liên tịch của các bộ, ngành quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về các lĩnh vực quản lý nhà nước của các bộ, ngành, trong đó, nhiều phòng pháp chế tại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh bị giải thể hoặc ghép với phòng chuyên môn khác. Tính đến ngày 01/4/2021, cả nước chỉ còn 55 Phòng Pháp chế tại các cơ quan (trong đó chỉ có 40/882 Phòng Pháp chế được thành lập tại 14 cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Nghị định số 55/2011/NĐ-CP; 15 Phòng Pháp chế được thành lập theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Nghị định số 55/2011/NĐ-CP), giảm 236 phòng so với năm 2015. Tại các cơ quan khác không thành lập được Phòng Pháp chế, công tác pháp chế được giao cho Văn phòng Sở hoặc ghép công tác pháp chế với phòng chuyên môn hoặc bố trí cán bộ văn phòng hoặc thanh tra thực hiện[4].

Về số lượng người làm công tác pháp chế tại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Cả nước có 2591 người làm công tác pháp chế, trong đó có 457 người được bố trí làm công tác pháp chế chuyên trách, 2134 người kiêm nhiệm; 1112 người có trình độ đại học luật trở lên (đạt hơn 42.9%), còn lại là có trình độ đại học chuyên ngành khác. Tại các doanh nghiệp nhà nước ở Trung ương: Có 1839 người làm công tác pháp chế, trong đó có 662 người làm công tác pháp chế chuyên trách, 1177 người làm pháp chế kiêm nhiệm, có 855 người có trình độ đại học luật trở lên, đạt 46.5%, số còn lại có trình độ đại học chuyên ngành khác[5].

Hai là, tổ chức bộ máy, cán bộ pháp chế ở các địa phương đã bị hạn chế phần nào theo chính sách tinh giản biên chế chung, tuy nhiên, số lượng, khối lượng công tác pháp chế lại tiếp tục được tăng cường trên các lĩnh vực hiện có và tiếp tục được mở rộng, kinh phí để triển khai còn hạn chế, dẫn đến việc bảo đảm chất lượng công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật ở địa phương còn nhiều bất cập, hạn chế[6].

Ba là, công tác phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan để thực hiện nhiệm vụ pháp chế cũng gặp không ít khó khăn. Từ việc không có tổ chức pháp chế, các cơ quan bố trí người làm công tác pháp chế ở các tổ chức khác nhau (phòng chuyên môn, văn phòng, hoặc thanh tra…) dẫn tới công tác phối hợp, theo dõi, đánh giá, quản lý, kiểm tra đội ngũ pháp chế không rõ ràng, thiếu chặt chẽ[7].

Để nâng cao hiệu quả xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật ở địa phương, thì việc bảo đảm vai trò gác cổng của công tác pháp chế tại các cơ quan chuyên môn ở địa phương là không thể thiếu. Do đó, trong thời gian tới, theo tác giả, để nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác pháp chế, cần tiếp tục kiện toàn và nâng cao chất lượng đội ngũ người làm công tác pháp chế ở địa phương theo một số đề xuất sau:

Thứ nhất, đẩy nhanh công tác xây dựng, ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế Nghị định số 55/2011/NĐ-CP, tạo cơ sở pháp lý rõ ràng, cụ thể cho các thông tư của các bộ, ngành trung ương hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ sung nhiệm vụ công tác pháp chế và biên chế người làm công tác pháp chế tại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, tạo cơ sở triển khai đồng bộ, thống nhất công tác pháp chế thông suốt từ trung ương đến địa phương.

Thứ hai, tiếp tục củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực của đội ngũ người làm công tác pháp chế ở địa phương, đặc biệt là ở các sở, ngành có khối lượng công việc nhiều liên quan đến hoàn thiện thể chế hoặc phục vụ người dân, doanh nghiệp cần được thành lập đơn vị pháp chế trực thuộc (như công thương, tài chính, kế hoạch và đầu tư, tài nguyên và môi trường, xây dựng…). Ở các sở, ngành khác, nếu không thành lập phòng pháp chế chuyên môn, thì cần giao phụ trách công tác pháp chế cho người đứng đầu sở, ngành (nhất là công tác xây dựng và hoàn thiện pháp luật). Các bộ, ngành trung ương cần quan tâm, phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về tổ chức bộ máy, cán bộ liên quan đến công tác pháp chế tại các sở, ngành chuyên môn ở địa phương.

Thứ ba, bảo đảm ngân sách và các điều kiện cần thiết cho hoạt động của các tổ chức pháp chế; tạo điều kiện hỗ trợ cho người làm công tác pháp chế yên tâm công tác, cống hiến cho sự nghiệp xây dựng, hoàn thiện pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật nghiêm minh, hiệu lực, hiệu quả tại địa phương.

Thứ tư, xác định rõ vị trí việc làm của người làm công tác pháp chế trong các Đề án vị trí việc làm của các bộ, ngành, địa phương, bảo đảm thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn được giao trong tình hình mới. Cần giao trách nhiệm của các địa phương xác định yêu cầu công việc pháp chế theo nhiệm kỳ (có bổ sung) để bố trí người làm công tác pháp chế đủ điều kiện và lấy kết quả công tác pháp chế là một trong những tiêu chí đánh giá chất lượng công tác của địa phương, cơ quan, đơn vị.

Với xu hướng phát triển về kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế, công tác pháp chế ngày càng có vai trò quan trọng. Để góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác pháp chế tại địa phương, bên cạnh việc đẩy nhanh tiến độ hàon thiện thể chế về công tác pháp chế, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cần quan tâm chỉ đạo công tác này; chú trọng chỉ đạo các sở, ngành xây dựng cơ chế đặc thù về thực hiện các nhiệm vụ pháp chế tại cơ quan; đẩy mạnh việc phối hợp giữa sở, ngành với Sở Tư pháp với các cơ quan liên quan trong công tác pháp chế...

ThS. Đồng Ngọc Dám
Khoa Nhà nước - Pháp luật, Học viện Chính trị khu vực I


[1] Xem: Báo cáo 227/BC-BTP số ngày 16/9/2022 của Bộ Tư pháp về kết quả 10 năm thực hiện Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế, tr. 2.

[2] Bình Phước, An Giang, Bắc Giang, Cà Mau…

[3] Xem: Báo cáo 227/BC-BTP số ngày 16/9/2022 của Bộ Tư pháp về kết quả 10 năm thực hiện Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế, tr. 20.

[4] Xem: Báo cáo 227/BC-BTP số ngày 16/9/2022 của Bộ Tư pháp về kết quả 10 năm thực hiện Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế, tr. 6.

[5] Xem: Báo cáo 227/BC-BTP số ngày 16/9/2022 của Bộ Tư pháp về kết quả 10 năm thực hiện Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế, tr. 7.

[6] Xem: Báo cáo số 01/BC-BTP ngày 01/01/2020 của Bộ Tư pháp tổng kết công tác tư pháp năm 2019 và phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp công tác năm 2020.

[7] Nguyễn Hữu Sơn (2021), Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác pháp chế tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, nguồn: https://sotp.thainguyen.gov.vn/tin-noi-bat/-/asset_publisher/hEnG94ajEooh/content/nang-cao-chat-luong-hieu-qua-cong-tac-phap-che-tai-cac-co-quan-chuyen-mon-thuoc-ubnd-cap-tinh, truy cập ngày 20/10/2022.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Theo dõi chúng tôi trên: