Thứ tư 20/05/2026 08:06
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ người làm công tác pháp chế tại địa phương hiện nay

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc xây dựng tổ chức bộ máy và cán bộ pháp chế ở địa phương vẫn còn nhiều hạn chế và đã được nêu ra trong báo cáo của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong 10 năm thi hành Nghị định số 55/2011/NĐ-CP, có thể nêu ra như sau:

Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế (Nghị định số 55/2011/NĐ-CP) thay thế Nghị định số 122/2004/NĐ-CP ngày 18/5/2004 của Chính phủ quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức pháp chế các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và doanh nghiệp nhà nước, là một trong những bước phát triển quan trọng của thể chế góp phần kiện toàn tổ chức bộ máy và cán bộ làm công tác pháp chế ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Tại tất cả 63 tỉnh, thành phố, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã ban hành Đề án thành lập tổ chức pháp chế tại 14 cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Nghị định số 55/2011/NĐ-CP; ban hành Chỉ thị về việc triển khai thực hiện Nghị định trên địa bàn tỉnh; Kế hoạch thực hiện công tác pháp chế trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2011-2015 và giai đoạn 2015-2020, trong đó quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trong việc kiện toàn tổ chức pháp chế, nâng cao năng lực đội ngũ pháp chế nhằm thực hiện có hiệu quả Nghị định số 55/2011/NĐ-CP[1].

Để quán triệt và phổ biến các nội dung cơ bản của Nghị định số 55/2011/NĐ-CP, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã quan tâm đến công tác tuyên truyền, phổ biến nội dung Nghị định số 55/2011/NĐ-CP đến các cán bộ, công chức và lãnh đạo các đơn vị để có nhận thức đầy đủ, đúng đắn và thống nhất với nhiều hình thức khác nhau như: Tổ chức hội nghị, hội thảo, hội nghị tập huấn về nghiệp vụ… Nhiều nơi đã thực hiện lồng ghép tuyên truyền, phổ biến nội dung Nghị định số 55/2011/NĐ-CP trong các buổi họp giao ban, thông qua sinh hoạt “Ngày Pháp luật” của cơ quan, đơn vị[2]

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc xây dựng tổ chức bộ máy và cán bộ pháp chế ở địa phương vẫn còn nhiều hạn chế và đã được nêu ra trong báo cáo của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong 10 năm thi hành Nghị định số 55/2011/NĐ-CP, có thể nêu ra như sau:

Một là, việc kiện toàn tổ chức pháp chế ở địa phương chưa đáp ứng được yêu cầu của Nghị định số 55/2011/NĐ-CP và yêu cầu công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật tại địa phương. Nhiều địa phương chưa thành lập tổ chức pháp chế ở các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc đã thành lập nhưng bị giải thể. Ở các địa phương khác, mặc dù đã thành lập được tổ chức pháp chế nhưng thường ghép công tác pháp chế với Thanh tra, Văn phòng hoặc phòng chuyên môn khác của cơ quan chuyên môn[3].

Việc các thông tư hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được ban hành mà không quy định phòng pháp chế trong cơ cấu tổ chức đã ảnh hưởng đến việc kiện toàn, củng cố tổ chức pháp chế tại cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh.

Tổ chức bộ máy, cán bộ làm công tác pháp chế đang từng bước được mở rộng, kiện toàn theo yêu cầu của Nghị định số 55/2011/NĐ-CP. Đến đầu năm 2015, để thực hiện chủ trương tinh giản tổ chức bộ máy và tinh giản biên chế, các địa phương bắt đầu thực hiện các thông tư, thông tư liên tịch của các bộ, ngành quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về các lĩnh vực quản lý nhà nước của các bộ, ngành, trong đó, nhiều phòng pháp chế tại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh bị giải thể hoặc ghép với phòng chuyên môn khác. Tính đến ngày 01/4/2021, cả nước chỉ còn 55 Phòng Pháp chế tại các cơ quan (trong đó chỉ có 40/882 Phòng Pháp chế được thành lập tại 14 cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Nghị định số 55/2011/NĐ-CP; 15 Phòng Pháp chế được thành lập theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Nghị định số 55/2011/NĐ-CP), giảm 236 phòng so với năm 2015. Tại các cơ quan khác không thành lập được Phòng Pháp chế, công tác pháp chế được giao cho Văn phòng Sở hoặc ghép công tác pháp chế với phòng chuyên môn hoặc bố trí cán bộ văn phòng hoặc thanh tra thực hiện[4].

Về số lượng người làm công tác pháp chế tại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Cả nước có 2591 người làm công tác pháp chế, trong đó có 457 người được bố trí làm công tác pháp chế chuyên trách, 2134 người kiêm nhiệm; 1112 người có trình độ đại học luật trở lên (đạt hơn 42.9%), còn lại là có trình độ đại học chuyên ngành khác. Tại các doanh nghiệp nhà nước ở Trung ương: Có 1839 người làm công tác pháp chế, trong đó có 662 người làm công tác pháp chế chuyên trách, 1177 người làm pháp chế kiêm nhiệm, có 855 người có trình độ đại học luật trở lên, đạt 46.5%, số còn lại có trình độ đại học chuyên ngành khác[5].

Hai là, tổ chức bộ máy, cán bộ pháp chế ở các địa phương đã bị hạn chế phần nào theo chính sách tinh giản biên chế chung, tuy nhiên, số lượng, khối lượng công tác pháp chế lại tiếp tục được tăng cường trên các lĩnh vực hiện có và tiếp tục được mở rộng, kinh phí để triển khai còn hạn chế, dẫn đến việc bảo đảm chất lượng công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật ở địa phương còn nhiều bất cập, hạn chế[6].

Ba là, công tác phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan để thực hiện nhiệm vụ pháp chế cũng gặp không ít khó khăn. Từ việc không có tổ chức pháp chế, các cơ quan bố trí người làm công tác pháp chế ở các tổ chức khác nhau (phòng chuyên môn, văn phòng, hoặc thanh tra…) dẫn tới công tác phối hợp, theo dõi, đánh giá, quản lý, kiểm tra đội ngũ pháp chế không rõ ràng, thiếu chặt chẽ[7].

Để nâng cao hiệu quả xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật ở địa phương, thì việc bảo đảm vai trò gác cổng của công tác pháp chế tại các cơ quan chuyên môn ở địa phương là không thể thiếu. Do đó, trong thời gian tới, theo tác giả, để nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác pháp chế, cần tiếp tục kiện toàn và nâng cao chất lượng đội ngũ người làm công tác pháp chế ở địa phương theo một số đề xuất sau:

Thứ nhất, đẩy nhanh công tác xây dựng, ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế Nghị định số 55/2011/NĐ-CP, tạo cơ sở pháp lý rõ ràng, cụ thể cho các thông tư của các bộ, ngành trung ương hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ sung nhiệm vụ công tác pháp chế và biên chế người làm công tác pháp chế tại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, tạo cơ sở triển khai đồng bộ, thống nhất công tác pháp chế thông suốt từ trung ương đến địa phương.

Thứ hai, tiếp tục củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực của đội ngũ người làm công tác pháp chế ở địa phương, đặc biệt là ở các sở, ngành có khối lượng công việc nhiều liên quan đến hoàn thiện thể chế hoặc phục vụ người dân, doanh nghiệp cần được thành lập đơn vị pháp chế trực thuộc (như công thương, tài chính, kế hoạch và đầu tư, tài nguyên và môi trường, xây dựng…). Ở các sở, ngành khác, nếu không thành lập phòng pháp chế chuyên môn, thì cần giao phụ trách công tác pháp chế cho người đứng đầu sở, ngành (nhất là công tác xây dựng và hoàn thiện pháp luật). Các bộ, ngành trung ương cần quan tâm, phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về tổ chức bộ máy, cán bộ liên quan đến công tác pháp chế tại các sở, ngành chuyên môn ở địa phương.

Thứ ba, bảo đảm ngân sách và các điều kiện cần thiết cho hoạt động của các tổ chức pháp chế; tạo điều kiện hỗ trợ cho người làm công tác pháp chế yên tâm công tác, cống hiến cho sự nghiệp xây dựng, hoàn thiện pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật nghiêm minh, hiệu lực, hiệu quả tại địa phương.

Thứ tư, xác định rõ vị trí việc làm của người làm công tác pháp chế trong các Đề án vị trí việc làm của các bộ, ngành, địa phương, bảo đảm thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn được giao trong tình hình mới. Cần giao trách nhiệm của các địa phương xác định yêu cầu công việc pháp chế theo nhiệm kỳ (có bổ sung) để bố trí người làm công tác pháp chế đủ điều kiện và lấy kết quả công tác pháp chế là một trong những tiêu chí đánh giá chất lượng công tác của địa phương, cơ quan, đơn vị.

Với xu hướng phát triển về kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế, công tác pháp chế ngày càng có vai trò quan trọng. Để góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác pháp chế tại địa phương, bên cạnh việc đẩy nhanh tiến độ hàon thiện thể chế về công tác pháp chế, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cần quan tâm chỉ đạo công tác này; chú trọng chỉ đạo các sở, ngành xây dựng cơ chế đặc thù về thực hiện các nhiệm vụ pháp chế tại cơ quan; đẩy mạnh việc phối hợp giữa sở, ngành với Sở Tư pháp với các cơ quan liên quan trong công tác pháp chế...

ThS. Đồng Ngọc Dám
Khoa Nhà nước - Pháp luật, Học viện Chính trị khu vực I


[1] Xem: Báo cáo 227/BC-BTP số ngày 16/9/2022 của Bộ Tư pháp về kết quả 10 năm thực hiện Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế, tr. 2.

[2] Bình Phước, An Giang, Bắc Giang, Cà Mau…

[3] Xem: Báo cáo 227/BC-BTP số ngày 16/9/2022 của Bộ Tư pháp về kết quả 10 năm thực hiện Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế, tr. 20.

[4] Xem: Báo cáo 227/BC-BTP số ngày 16/9/2022 của Bộ Tư pháp về kết quả 10 năm thực hiện Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế, tr. 6.

[5] Xem: Báo cáo 227/BC-BTP số ngày 16/9/2022 của Bộ Tư pháp về kết quả 10 năm thực hiện Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế, tr. 7.

[6] Xem: Báo cáo số 01/BC-BTP ngày 01/01/2020 của Bộ Tư pháp tổng kết công tác tư pháp năm 2019 và phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp công tác năm 2020.

[7] Nguyễn Hữu Sơn (2021), Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác pháp chế tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, nguồn: https://sotp.thainguyen.gov.vn/tin-noi-bat/-/asset_publisher/hEnG94ajEooh/content/nang-cao-chat-luong-hieu-qua-cong-tac-phap-che-tai-cac-co-quan-chuyen-mon-thuoc-ubnd-cap-tinh, truy cập ngày 20/10/2022.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).

Theo dõi chúng tôi trên: