Thứ tư 21/01/2026 01:21
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ người làm công tác pháp chế tại địa phương hiện nay

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc xây dựng tổ chức bộ máy và cán bộ pháp chế ở địa phương vẫn còn nhiều hạn chế và đã được nêu ra trong báo cáo của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong 10 năm thi hành Nghị định số 55/2011/NĐ-CP, có thể nêu ra như sau:

Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế (Nghị định số 55/2011/NĐ-CP) thay thế Nghị định số 122/2004/NĐ-CP ngày 18/5/2004 của Chính phủ quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức pháp chế các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và doanh nghiệp nhà nước, là một trong những bước phát triển quan trọng của thể chế góp phần kiện toàn tổ chức bộ máy và cán bộ làm công tác pháp chế ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Tại tất cả 63 tỉnh, thành phố, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã ban hành Đề án thành lập tổ chức pháp chế tại 14 cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Nghị định số 55/2011/NĐ-CP; ban hành Chỉ thị về việc triển khai thực hiện Nghị định trên địa bàn tỉnh; Kế hoạch thực hiện công tác pháp chế trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2011-2015 và giai đoạn 2015-2020, trong đó quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trong việc kiện toàn tổ chức pháp chế, nâng cao năng lực đội ngũ pháp chế nhằm thực hiện có hiệu quả Nghị định số 55/2011/NĐ-CP[1].

Để quán triệt và phổ biến các nội dung cơ bản của Nghị định số 55/2011/NĐ-CP, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã quan tâm đến công tác tuyên truyền, phổ biến nội dung Nghị định số 55/2011/NĐ-CP đến các cán bộ, công chức và lãnh đạo các đơn vị để có nhận thức đầy đủ, đúng đắn và thống nhất với nhiều hình thức khác nhau như: Tổ chức hội nghị, hội thảo, hội nghị tập huấn về nghiệp vụ… Nhiều nơi đã thực hiện lồng ghép tuyên truyền, phổ biến nội dung Nghị định số 55/2011/NĐ-CP trong các buổi họp giao ban, thông qua sinh hoạt “Ngày Pháp luật” của cơ quan, đơn vị[2]

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc xây dựng tổ chức bộ máy và cán bộ pháp chế ở địa phương vẫn còn nhiều hạn chế và đã được nêu ra trong báo cáo của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong 10 năm thi hành Nghị định số 55/2011/NĐ-CP, có thể nêu ra như sau:

Một là, việc kiện toàn tổ chức pháp chế ở địa phương chưa đáp ứng được yêu cầu của Nghị định số 55/2011/NĐ-CP và yêu cầu công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật tại địa phương. Nhiều địa phương chưa thành lập tổ chức pháp chế ở các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc đã thành lập nhưng bị giải thể. Ở các địa phương khác, mặc dù đã thành lập được tổ chức pháp chế nhưng thường ghép công tác pháp chế với Thanh tra, Văn phòng hoặc phòng chuyên môn khác của cơ quan chuyên môn[3].

Việc các thông tư hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được ban hành mà không quy định phòng pháp chế trong cơ cấu tổ chức đã ảnh hưởng đến việc kiện toàn, củng cố tổ chức pháp chế tại cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh.

Tổ chức bộ máy, cán bộ làm công tác pháp chế đang từng bước được mở rộng, kiện toàn theo yêu cầu của Nghị định số 55/2011/NĐ-CP. Đến đầu năm 2015, để thực hiện chủ trương tinh giản tổ chức bộ máy và tinh giản biên chế, các địa phương bắt đầu thực hiện các thông tư, thông tư liên tịch của các bộ, ngành quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về các lĩnh vực quản lý nhà nước của các bộ, ngành, trong đó, nhiều phòng pháp chế tại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh bị giải thể hoặc ghép với phòng chuyên môn khác. Tính đến ngày 01/4/2021, cả nước chỉ còn 55 Phòng Pháp chế tại các cơ quan (trong đó chỉ có 40/882 Phòng Pháp chế được thành lập tại 14 cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Nghị định số 55/2011/NĐ-CP; 15 Phòng Pháp chế được thành lập theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Nghị định số 55/2011/NĐ-CP), giảm 236 phòng so với năm 2015. Tại các cơ quan khác không thành lập được Phòng Pháp chế, công tác pháp chế được giao cho Văn phòng Sở hoặc ghép công tác pháp chế với phòng chuyên môn hoặc bố trí cán bộ văn phòng hoặc thanh tra thực hiện[4].

Về số lượng người làm công tác pháp chế tại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Cả nước có 2591 người làm công tác pháp chế, trong đó có 457 người được bố trí làm công tác pháp chế chuyên trách, 2134 người kiêm nhiệm; 1112 người có trình độ đại học luật trở lên (đạt hơn 42.9%), còn lại là có trình độ đại học chuyên ngành khác. Tại các doanh nghiệp nhà nước ở Trung ương: Có 1839 người làm công tác pháp chế, trong đó có 662 người làm công tác pháp chế chuyên trách, 1177 người làm pháp chế kiêm nhiệm, có 855 người có trình độ đại học luật trở lên, đạt 46.5%, số còn lại có trình độ đại học chuyên ngành khác[5].

Hai là, tổ chức bộ máy, cán bộ pháp chế ở các địa phương đã bị hạn chế phần nào theo chính sách tinh giản biên chế chung, tuy nhiên, số lượng, khối lượng công tác pháp chế lại tiếp tục được tăng cường trên các lĩnh vực hiện có và tiếp tục được mở rộng, kinh phí để triển khai còn hạn chế, dẫn đến việc bảo đảm chất lượng công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật ở địa phương còn nhiều bất cập, hạn chế[6].

Ba là, công tác phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan để thực hiện nhiệm vụ pháp chế cũng gặp không ít khó khăn. Từ việc không có tổ chức pháp chế, các cơ quan bố trí người làm công tác pháp chế ở các tổ chức khác nhau (phòng chuyên môn, văn phòng, hoặc thanh tra…) dẫn tới công tác phối hợp, theo dõi, đánh giá, quản lý, kiểm tra đội ngũ pháp chế không rõ ràng, thiếu chặt chẽ[7].

Để nâng cao hiệu quả xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật ở địa phương, thì việc bảo đảm vai trò gác cổng của công tác pháp chế tại các cơ quan chuyên môn ở địa phương là không thể thiếu. Do đó, trong thời gian tới, theo tác giả, để nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác pháp chế, cần tiếp tục kiện toàn và nâng cao chất lượng đội ngũ người làm công tác pháp chế ở địa phương theo một số đề xuất sau:

Thứ nhất, đẩy nhanh công tác xây dựng, ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế Nghị định số 55/2011/NĐ-CP, tạo cơ sở pháp lý rõ ràng, cụ thể cho các thông tư của các bộ, ngành trung ương hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ sung nhiệm vụ công tác pháp chế và biên chế người làm công tác pháp chế tại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, tạo cơ sở triển khai đồng bộ, thống nhất công tác pháp chế thông suốt từ trung ương đến địa phương.

Thứ hai, tiếp tục củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực của đội ngũ người làm công tác pháp chế ở địa phương, đặc biệt là ở các sở, ngành có khối lượng công việc nhiều liên quan đến hoàn thiện thể chế hoặc phục vụ người dân, doanh nghiệp cần được thành lập đơn vị pháp chế trực thuộc (như công thương, tài chính, kế hoạch và đầu tư, tài nguyên và môi trường, xây dựng…). Ở các sở, ngành khác, nếu không thành lập phòng pháp chế chuyên môn, thì cần giao phụ trách công tác pháp chế cho người đứng đầu sở, ngành (nhất là công tác xây dựng và hoàn thiện pháp luật). Các bộ, ngành trung ương cần quan tâm, phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về tổ chức bộ máy, cán bộ liên quan đến công tác pháp chế tại các sở, ngành chuyên môn ở địa phương.

Thứ ba, bảo đảm ngân sách và các điều kiện cần thiết cho hoạt động của các tổ chức pháp chế; tạo điều kiện hỗ trợ cho người làm công tác pháp chế yên tâm công tác, cống hiến cho sự nghiệp xây dựng, hoàn thiện pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật nghiêm minh, hiệu lực, hiệu quả tại địa phương.

Thứ tư, xác định rõ vị trí việc làm của người làm công tác pháp chế trong các Đề án vị trí việc làm của các bộ, ngành, địa phương, bảo đảm thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn được giao trong tình hình mới. Cần giao trách nhiệm của các địa phương xác định yêu cầu công việc pháp chế theo nhiệm kỳ (có bổ sung) để bố trí người làm công tác pháp chế đủ điều kiện và lấy kết quả công tác pháp chế là một trong những tiêu chí đánh giá chất lượng công tác của địa phương, cơ quan, đơn vị.

Với xu hướng phát triển về kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế, công tác pháp chế ngày càng có vai trò quan trọng. Để góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác pháp chế tại địa phương, bên cạnh việc đẩy nhanh tiến độ hàon thiện thể chế về công tác pháp chế, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cần quan tâm chỉ đạo công tác này; chú trọng chỉ đạo các sở, ngành xây dựng cơ chế đặc thù về thực hiện các nhiệm vụ pháp chế tại cơ quan; đẩy mạnh việc phối hợp giữa sở, ngành với Sở Tư pháp với các cơ quan liên quan trong công tác pháp chế...

ThS. Đồng Ngọc Dám
Khoa Nhà nước - Pháp luật, Học viện Chính trị khu vực I


[1] Xem: Báo cáo 227/BC-BTP số ngày 16/9/2022 của Bộ Tư pháp về kết quả 10 năm thực hiện Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế, tr. 2.

[2] Bình Phước, An Giang, Bắc Giang, Cà Mau…

[3] Xem: Báo cáo 227/BC-BTP số ngày 16/9/2022 của Bộ Tư pháp về kết quả 10 năm thực hiện Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế, tr. 20.

[4] Xem: Báo cáo 227/BC-BTP số ngày 16/9/2022 của Bộ Tư pháp về kết quả 10 năm thực hiện Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế, tr. 6.

[5] Xem: Báo cáo 227/BC-BTP số ngày 16/9/2022 của Bộ Tư pháp về kết quả 10 năm thực hiện Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế, tr. 7.

[6] Xem: Báo cáo số 01/BC-BTP ngày 01/01/2020 của Bộ Tư pháp tổng kết công tác tư pháp năm 2019 và phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp công tác năm 2020.

[7] Nguyễn Hữu Sơn (2021), Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác pháp chế tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, nguồn: https://sotp.thainguyen.gov.vn/tin-noi-bat/-/asset_publisher/hEnG94ajEooh/content/nang-cao-chat-luong-hieu-qua-cong-tac-phap-che-tai-cac-co-quan-chuyen-mon-thuoc-ubnd-cap-tinh, truy cập ngày 20/10/2022.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: