Thứ hai 20/04/2026 07:02
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện một số quy định về họ, hụi, biêu, phường

Ngày 14/6/2005, tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XI đã thông qua Bộ luật Dân sự (Bộ luật Dân sự năm 2005), trong đó Điều 479 quy định về họ, hụi, biêu, phường. Để quy định chi tiết về nội dung này, ngày 27/11/2006, Chính phủ ban hành Nghị định số 144/2006/NĐ-CP về họ, hụi, biêu, phường (Nghị định số 144/2006/NĐ-CP).

Ngày 24/11/2015, tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XIII đã thông qua Bộ luật Dân sự (Bộ luật Dân sự năm 2015) thay thế Bộ luật Dân sự năm 2005. Bộ luật Dân sự năm 2015 có nhiều quy định mới liên quan đến địa vị pháp lý của chủ thể; về việc xác lập, thực hiện, bảo vệ các quyền dân sự; về các giao dịch dân sự; về đại diện; về nghĩa vụ và hợp đồng; về lãi suất trong hợp đồng vay… trong đó chế định hợp đồng vay tài sản đã được sửa đổi, bổ sung khá cơ bản. Đặc biệt Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định rõ việc tổ chức họ có lãi thì mức lãi phải tuân theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015. Để phục vụ cho việc nghiên cứu, đề nghị sửa đổi, bổ sung Nghị định số 144/2006/NĐ-CP, bảo đảm phù hợp với hệ thống pháp luật hiện hành, bài viết này đánh giá về thực trạng áp dụng một số quy định về họ, hụi, biêu, phường theo quy định của Nghị định số 144/2006/NĐ-CP; qua đó nhận diện những hạn chế bất cập trong việc áp dụng và trong các quy định và đưa ra đề xuất, kiến nghị hoàn thiện các quy định này.

1. Các quy định về họ, hụi, biêu phường; quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ và hình thức thỏa thuận về họ
1.1. Khái niệm về họ, hụi, biêu, phường
Họ, hụi, biêu, phường (họ) là một loại giao dịch về tài sản theo tập quán hình thành từ rất lâu trong đời sống của nhân dân ta ở khắp tất cả các miền. Miền Bắc thường gọi là họ, miền trung thường gọi là biêu, phường và miền nam thường gọi là hụi. Một số nơi còn có cách gọi khác là bưu, huê, hội v.v. Mặc dù có nhiều tên gọi khác nhau, nhưng về bản chất là giống nhau. Điều 479 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định “Họ, hụi, biêu, phường (sau đây gọi chung là họ) là một hình thức giao dịch về tài sản theo tập quán trên cơ sở thoả thuận của một nhóm người tập hợp nhau lại cùng định ra số người, thời gian, số tiền hoặc tài sản khác, thể thức góp, lĩnh họ và quyền, nghĩa vụ của các thành viên. Hình thức họ nhằm mục đích tương trợ trong nhân dân được thực hiện theo quy định của pháp luật”.
Họ được chia thành họ không có lãi và họ có lãi. Họ có lãi bao gồm họ đầu thảo và họ hưởng hoa hồng. Tùy theo hình thức họ mà quyền, nghĩa vụ của thành viên tham gia và chủ họ là khác nhau.

1.2. Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ
Chủ thể của các quan hệ pháp luật là các bên tham gia quan hệ pháp luật, nói cách khác, đó là các bên tham gia vào quan hệ pháp luật trên cơ sở những quyền và nghĩa vụ do Nhà nước quy định trong pháp luật. Chủ thể của quan hệ pháp luật có thể là cá nhân, tổ chức. Trong quan hệ họ, chủ thể tham gia quan hệ pháp luật là cá nhân, được thể hiện dưới vai trò là chủ họ và thành viên tham gia họ.

Thứ nhất, đối với họ không có lãi, Điều 13 và Điều 14 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP quy định các thành viên tham gia có nghĩa vụ: (i) góp phần họ theo thoả thuận cho chủ họ trong trường hợp có chủ họ hoặc cho thành viên được lĩnh họ; (ii) bồi thường thiệt hại cho những người tham gia họ, nếu vi phạm nghĩa vụ mà gây thiệt hại; (iii) các nghĩa vụ khác theo thoả thuận và (iv) trường hợp không có chủ họ thì thành viên được uỷ quyền lập và giữ sổ họ có các nghĩa vụ theo quy định tại khoản 1 và khoản 5 Điều 15 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP.

Thành viên tham gia họ có các quyền sau đây: (i) khi đến kỳ mở họ, thành viên được lĩnh họ có quyền nhận các phần họ từ chủ họ hoặc các thành viên khác trong họ; (ii) bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong trường hợp quyền, lợi ích hợp pháp bị vi phạm; (iii) chuyển giao phần họ theo quy định tại các điều từ Điều 309 đến Điều 317 của Bộ Luật Dân sự năm 2005; (iv) ra khỏi họ theo thoả thuận; (v) yêu cầu chủ họ hoặc người giữ sổ họ cho xem sổ họ và cung cấp các thông tin liên quan đến họ và (vi) các quyền khác theo thoả thuận.

Điều 15 và Điều 16 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP quy định về nghĩa vụ và quyền của chủ họ. Theo đó, chủ họ có nghĩa vụ: (i) lập và giữ sổ họ và các giấy tờ liên quan đến họ; (ii) thu phần họ của các thành viên; (iii) giao các phần họ cho thành viên được lĩnh họ; (iv) nộp thay phần họ của thành viên trong trường hợp có thoả thuận nếu đến kỳ mở họ mà có thành viên không góp phần họ; (v) cho các thành viên xem sổ họ và cung cấp các thông tin liên quan đến họ khi có yêu cầu và (iv) các nghĩa vụ khác theo thoả thuận. Có thể nói, trong các nghĩa vụ nêu trên của chủ họ thì ngoài các nghĩa vụ tối thiểu mà chủ họ phải có nghĩa vụ thực hiện thì nghĩa vụ “nộp thay phần họ của nộp thay phần họ của thành viên trong trường hợp có thoả thuận nếu đến kỳ mở họ mà có thành viên không góp phần họ” và nghĩa vụ “cho các thành viên xem sổ họ và cung cấp các thông tin liên quan đến họ khi có yêu cầu” là hai nghĩa vụ rất quan trọng, thể hiện vai trò cũng như trách nhiệm của chủ họ. Nghĩa vụ của chủ họ chính là cơ sở bảo vệ quyền của các thành viên tham gia họ.

Chủ họ có các quyền sau đây: (i) yêu cầu các thành viên trong họ phải góp phần họ; (ii) yêu cầu thành viên được lĩnh họ nhận các phần họ khi đến kỳ mở họ; (iii) yêu cầu thành viên không góp phần họ của mình phải hoàn trả phần họ trong trường hợp chủ họ đã góp thay cho thành viên đó và (iv) các quyền khác theo thoả thuận.

Thứ hai, đối với họ có lãi được chia thành hai loại là họ đầu thảo (là họ mà theo sự thỏa thuận giữa những người tham gia họ, chủ họ được lĩnh toàn bộ các phần họ trong một kỳ mở họ và không phải trả lãi cho các thành viên khác. Trong các kỳ mở họ khác, thành viên trả lãi cao nhất được lĩnh họ và phải trả lãi cho các thành viên khác) và họ hưởng hoa hồng (là họ mà theo sự thỏa thuận giữa những người tham gia họ, chủ họ có trách nhiệm thu phần họ của các thành viên gọp họ để giao cho thành viên được lĩnh họ. Thành viên được lĩnh phải trả lãi cho các thành viên khác và phải trả một khoản hoa hồng cho chủ họ. Mức hoa hồng do những người tham gia họ thỏa thuận. Chủ họ không phải là thành viên của dây họ và các thành viên đều phải bốc thăm trả lãi suất và theo quy ước thành viên nào trả lãi cao nhất thì được lĩnh họ, số tiền này được coi là tiền lãi của các thành viên khác). Từ Điều 19 đến Điều 28 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP quy định cụ thể về nghĩa vụ và quyền của thành viên và chủ họ trong họ đầu thảo (từ Điều 19 đến Điều 23); nghĩa vụ và quyền của thành viên và chủ họ trong họ hưởng hoa hồng (từ Điều 24 đến Điều 28). Về cơ bản, quyền và nghĩa vụ của thành viên họ hưởng hoa hồng và nghĩa vụ của chủ họ hưởng hoa hồng giống với quyền và nghĩa vụ của thành viên họ đầu thảo và nghĩa vụ của chủ họ hưởng hoa hồng. Điểm khác biệt giữa quyền của chủ họ trong họ đầu thảo với họ hưởng hoa hồng là đối với họ hưởng hoa hồng, chủ họ được hưởng hoa hồng từ các thành viên được lĩnh họ trong khi chủ họ trong họ đầu thảo được lĩnh các phần họ trong một kỳ mở họ và không phải trả lãi cho các thành viên.

1.3. Hình thức thỏa thuận về họ

Điều 7 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP quy định thoả thuận về họ được thể hiện bằng lời nói hoặc bằng văn bản. Văn bản thoả thuận về họ được công chứng, chứng thực nếu những người tham gia họ có yêu cầu.

2. Thực trạng áp dụng các quy định về hụi, họ

2.1. Kết quả giải quyết các vụ việc về họ

Nghị định số 144/2006/NĐ-CP được Chính phủ thông qua ngày 27/11/2006 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 22/12/2006. Đây là một văn bản quy phạm pháp luật quan trọng điều chỉnh về họ, hình thứ họ; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của những người tham gia họ.

Theo số liệu thống kê trong công tác xét xử của ngành Tòa án nhân dân và công tác kiểm sát hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố của ngành Kiểm sát nhân dân thì trong thời gian vừa qua các tranh chấp về họ xảy ra nhiều, với tính chất ngày càng phức tạp, do đó ngoài các biện pháp như hòa giải cơ sở, thương lượng... các tranh chấp về họ cũng được giải quyết thông qua con đường tố tụng tại Tòa án ngày càng nhiều. Cụ thể, theo thống kê từ năm 2006 đến nay, tổng số vụ việc được ngành Tòa án nhân dân thụ lý tại 05 địa phương như Thành phố Hồ Chí Minh, Cà Mau, Hậu Giang, Thanh Hóa, Cần Thơ là hơn 8000 vụ việc[1]. Về cơ bản, các vụ việc về họ do Tòa án nhân dân giải quyết trong thời gian qua, đã đáp ứng được mong mỏi của người dân và yêu cầu cải cách tư pháp, áp dụng đúng và thống nhất pháp luật, tiếp tục nâng cao chất lượng xét xử, đảm bảo tiến độ và đảm chất lượng tranh tụng tại phiên tòa để việc xét xử các loại án luôn kịp thời, chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Từ khi Nghị định số 144/2006/NĐ-CP có hiệu lực, theo số liệu thống kê, Viện Kiểm sát nhân dân các cấp đã kiểm sát việc giải quyết 33.809 vụ việc dân sự liên quan đến hoạt động họ, thông qua việc kiểm sát các thông báo thụ lý, kiểm sát các quyết định hòa giải thành, đình chỉ, tạm đình chỉ hoặc tham gia phiên tòa xét xử một số vụ việc dân sự[2].

2.2. Một số hạn chế, bất cập trong việc áp dụng và trong các quy định của Nghị định số 144/2006/NĐ-CP

Qua thực tiễn 10 năm thi hành, Nghị định số 144/2006/NĐ-CP đã phát huy được vai trò trong việc quy định địa vị pháp lý, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia họ nhằm mục đích tương trợ; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng; thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; đáp ứng nhu cầu của cá nhân có thêm kênh huy động vốn để đầu tư kinh doanh hoặc phục vụ mục đích sinh hoạt. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội, nhu cầu cho vay, đi vay bằng phương thức họ ngày càng đa dạng, phức tạp thậm chí có sự biến tướng và bản thân các quy định của Nghị định đã bộc lộ những hạn chế, bất cập về việc áp dụng pháp luật, các quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ và hình thức thỏa thuận về họ, cụ thể như sau:

Thứ nhất, về vấn đề áp dụng pháp luật

Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP “Quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia họ nhằm mục đích tương trợ trong nhân dân theo quy định của Nghị định này và các văn bản pháp luật khác có liên quan được pháp luật bảo vệ”, quy định này có thể gây nhầm lẫn trong việc áp dụng pháp luật đối với các chủ thể và cơ quan tư pháp, cơ quan công an khi điều tra, xét xử. Thực tế, trong hơn 10 năm thi hành Nghị định này, Tòa án khi giải quyết tranh chấp về họ, do không tìm được các căn cứ để áp dụng Nghị định số 144/2006/NĐ-CP, thay vì áp dụng các quy định chung và quy định về lãi suất của Bộ luật Dân sự thì một số Tòa án đã tuyên giao dịch vô hiệu; bên cạnh đó, có trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng hiểu là phải bảo vệ lợi ích hợp pháp của những người tham gia họ nên đã khởi tố vụ án hình sự trong những trường hợp chưa thực sự cần thiết.

Thứ hai, về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ

Nghị định số 144/2006/NĐ-CP không quy định giới hạn nên một người có thể là chủ họ của nhiều dây họ tạo nên mạng lưới chồng chéo nhau. Vì vậy, khi vỡ họ thường có phản ứng dây chuyền, tác động xấu đến nhiều người tham gia họ và đến kinh tế và xã hội.

Quy định của Nghị định số 144/2006/NĐ-CP về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ họ còn thiếu những quy định cần thiết như quy định về việc ra khỏi họ; trách nhiệm của chủ họ trong việc cung cấp thông tin cần thiết; trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ họ; quy định về trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của thành viên; giải quyết trong trường hợp họ chết…

Thứ ba, về hình thức thỏa thuận về họ

Theo Điều 7 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP về hình thức của họ của người tham gia họ có thể thỏa thuận bằng lời nói, không bắt buộc thỏa thuận bằng văn bản hoặc phải công chứng, chứng thực, tuy nhiên trong thực tế, khi giải quyết tranh chấp, các bên không thừa nhận (do thực hiện giao dịch bằng lời nói) hoặc văn bản bị tẩy xóa, ghi thêm (do không công chứng, chứng thực). Bên cạnh đó, các họ viên khi nộp tiền họ thường không đòi hỏi hóa đơn, chứng từ gì đảm bảo; nếu có thì chủ họ thường chỉ đánh dấu vào sổ họ và đảm bảo bằng miệng. Vì vậy, khi phát sinh tranh chấp, Tòa án gặp nhiều khó khăn trong việc xác định chứng cứ, sự thật khách quan của vụ án.

3. Đề xuất, kiến nghị hoàn thiện

Xuất phát từ các quy định và thực tiễn áp dụng một số quy định của Nghị định số 144/2006/NĐ-CP về quyền và nghĩa vụ của chủ thể tham gia họ và hình thức thỏa thuận về họ, tác giả đưa ra một số đề xuất để hoàn thiện các quy định của Nghị định số 144/2006/NĐ-CP, cụ thể như sau:

Thứ nhất, về vấn đề áp dụng pháp luật

Nghiên cứu sửa đổi quy định tại Điều 2 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP theo hướng quy định các quan hệ nếu không đáp ứng đủ các dấu hiệu, điều kiện của giao dịch họ thì áp dụng các quy định chung, quy định về hợp đồng vay tài sản của Bộ luật Dân sự năm 2015; trong trường hợp Bộ luật Dân sự năm 2015, pháp luật có liên quan không có quy định cụ thể thì áp dụng tập quán theo quy định tại Điều 5 Bộ luật Dân sự năm 2015 (về áp dụng tập quán) hoặc các căn cứ khác theo quy định tại Điều 6 Bộ luật Dân sự năm 2015 (về áp dụng tương tự pháp luật) để giải quyết.

Thứ hai, về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể

Xuất phát từ thực tiễn các vụ tranh chấp phát sinh từ việc chơi họ, tác giả cho rằng cần quy định bổ sung về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia qua đó, góp phần tăng cường cơ chế tự kiểm soát lẫn nhau giữa những người tham gia họ. Theo đó cần bổ sung các quy định mang tính định hướng để giúp các thành viên tham gia họ tự bảo vệ quyền của mình, nắm bắt thông tin về quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ họ, của các thành viên khác. Cụ thể, bổ sung các quyền, nghĩa vụ cơ bản như: (i) quyền nêu ý kiến về việc chấp thuận gia nhập dây họ của thành viên mới; (ii) quyền yêu cầu chủ họ hoặc các thành viên khác trả phần họ khi đến kỳ lĩnh họ; (iii) quyền chuyển giao phần họ theo quy định tại các điều từ Điều 365 đến Điều 371 của Bộ luật dân sự năm 2015; (iv) quyền ra khỏi họ; (v) quyền yêu cầu xem và sao chụp sổ họ; (vi) nghĩa vụ của thành viên mới khi gia nhập dây họ; (vii) nghĩa vụ phải thực hiện trong trường hợp rút khỏi họ; (viii) bổ sung quy định về trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của thành viên trong trường hợp chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa đúng và (ix) khi mở họ phải có mặt các thành viên tham gia dây họ đó và ký tên hoặc điểm chỉ vào sổ của chủ họ và sổ của họ viên để tránh việc chủ họ lập những dây họ “ảo” để chiếm đoạt tài sản của họ viên.

Đồng thời, để tránh tình trạng vỡ họ dây truyền như trong thời gian vừa qua, tác giả đề nghị quy định cụ thể việc chủ họ chỉ được lập tối đa 02 dây họ, qua đó, hạn chế thiệt hại cho nhiều người và tránh việc lợi dụng của chủ họ nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản.

Thứ ba, về hình thức thỏa thuận về họ

Để có cơ sở đánh giá chứng cứ trong quá trình giải quyết tranh chấp, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên khi tham gia họ, tác giả kiến nghị cần quy định rõ và cụ thể những trường hợp thỏa thuận về họ được thể hiện bằng lời nói, những trường hợp văn bản thỏa thuận cần phải công chứng, chứng thực để thuận lợi xử lý khi có tranh chấp xảy ra. Tiêu chí để xác định thỏa thuận được thực hiện bằng lời nói, văn bản hoặc cần phải được công chức, chứng thực có thể căn cứ vào tính chất quy mô của dây họ và số lượng thành viên tham gia./.

Thịnh Anh


[1] Theo Công văn của các cơ quan gửi Bộ Tư pháp phục vụ cho việc xây dựng Báo cáo của Bộ Tư pháp tổng kết thi hành Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường ngày 01/5/2017.

[2]Theo Báo cáo của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao tại Công văn số 126/BC-VKSTC ngày 11/11/2016.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.

Theo dõi chúng tôi trên: