Thứ hai 24/08/2026 13:05
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện một số quy định về họ, hụi, biêu, phường

Ngày 14/6/2005, tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XI đã thông qua Bộ luật Dân sự (Bộ luật Dân sự năm 2005), trong đó Điều 479 quy định về họ, hụi, biêu, phường. Để quy định chi tiết về nội dung này, ngày 27/11/2006, Chính phủ ban hành Nghị định số 144/2006/NĐ-CP về họ, hụi, biêu, phường (Nghị định số 144/2006/NĐ-CP).

Ngày 24/11/2015, tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XIII đã thông qua Bộ luật Dân sự (Bộ luật Dân sự năm 2015) thay thế Bộ luật Dân sự năm 2005. Bộ luật Dân sự năm 2015 có nhiều quy định mới liên quan đến địa vị pháp lý của chủ thể; về việc xác lập, thực hiện, bảo vệ các quyền dân sự; về các giao dịch dân sự; về đại diện; về nghĩa vụ và hợp đồng; về lãi suất trong hợp đồng vay… trong đó chế định hợp đồng vay tài sản đã được sửa đổi, bổ sung khá cơ bản. Đặc biệt Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định rõ việc tổ chức họ có lãi thì mức lãi phải tuân theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015. Để phục vụ cho việc nghiên cứu, đề nghị sửa đổi, bổ sung Nghị định số 144/2006/NĐ-CP, bảo đảm phù hợp với hệ thống pháp luật hiện hành, bài viết này đánh giá về thực trạng áp dụng một số quy định về họ, hụi, biêu, phường theo quy định của Nghị định số 144/2006/NĐ-CP; qua đó nhận diện những hạn chế bất cập trong việc áp dụng và trong các quy định và đưa ra đề xuất, kiến nghị hoàn thiện các quy định này.

1. Các quy định về họ, hụi, biêu phường; quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ và hình thức thỏa thuận về họ
1.1. Khái niệm về họ, hụi, biêu, phường
Họ, hụi, biêu, phường (họ) là một loại giao dịch về tài sản theo tập quán hình thành từ rất lâu trong đời sống của nhân dân ta ở khắp tất cả các miền. Miền Bắc thường gọi là họ, miền trung thường gọi là biêu, phường và miền nam thường gọi là hụi. Một số nơi còn có cách gọi khác là bưu, huê, hội v.v. Mặc dù có nhiều tên gọi khác nhau, nhưng về bản chất là giống nhau. Điều 479 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định “Họ, hụi, biêu, phường (sau đây gọi chung là họ) là một hình thức giao dịch về tài sản theo tập quán trên cơ sở thoả thuận của một nhóm người tập hợp nhau lại cùng định ra số người, thời gian, số tiền hoặc tài sản khác, thể thức góp, lĩnh họ và quyền, nghĩa vụ của các thành viên. Hình thức họ nhằm mục đích tương trợ trong nhân dân được thực hiện theo quy định của pháp luật”.
Họ được chia thành họ không có lãi và họ có lãi. Họ có lãi bao gồm họ đầu thảo và họ hưởng hoa hồng. Tùy theo hình thức họ mà quyền, nghĩa vụ của thành viên tham gia và chủ họ là khác nhau.

1.2. Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ
Chủ thể của các quan hệ pháp luật là các bên tham gia quan hệ pháp luật, nói cách khác, đó là các bên tham gia vào quan hệ pháp luật trên cơ sở những quyền và nghĩa vụ do Nhà nước quy định trong pháp luật. Chủ thể của quan hệ pháp luật có thể là cá nhân, tổ chức. Trong quan hệ họ, chủ thể tham gia quan hệ pháp luật là cá nhân, được thể hiện dưới vai trò là chủ họ và thành viên tham gia họ.

Thứ nhất, đối với họ không có lãi, Điều 13 và Điều 14 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP quy định các thành viên tham gia có nghĩa vụ: (i) góp phần họ theo thoả thuận cho chủ họ trong trường hợp có chủ họ hoặc cho thành viên được lĩnh họ; (ii) bồi thường thiệt hại cho những người tham gia họ, nếu vi phạm nghĩa vụ mà gây thiệt hại; (iii) các nghĩa vụ khác theo thoả thuận và (iv) trường hợp không có chủ họ thì thành viên được uỷ quyền lập và giữ sổ họ có các nghĩa vụ theo quy định tại khoản 1 và khoản 5 Điều 15 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP.

Thành viên tham gia họ có các quyền sau đây: (i) khi đến kỳ mở họ, thành viên được lĩnh họ có quyền nhận các phần họ từ chủ họ hoặc các thành viên khác trong họ; (ii) bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong trường hợp quyền, lợi ích hợp pháp bị vi phạm; (iii) chuyển giao phần họ theo quy định tại các điều từ Điều 309 đến Điều 317 của Bộ Luật Dân sự năm 2005; (iv) ra khỏi họ theo thoả thuận; (v) yêu cầu chủ họ hoặc người giữ sổ họ cho xem sổ họ và cung cấp các thông tin liên quan đến họ và (vi) các quyền khác theo thoả thuận.

Điều 15 và Điều 16 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP quy định về nghĩa vụ và quyền của chủ họ. Theo đó, chủ họ có nghĩa vụ: (i) lập và giữ sổ họ và các giấy tờ liên quan đến họ; (ii) thu phần họ của các thành viên; (iii) giao các phần họ cho thành viên được lĩnh họ; (iv) nộp thay phần họ của thành viên trong trường hợp có thoả thuận nếu đến kỳ mở họ mà có thành viên không góp phần họ; (v) cho các thành viên xem sổ họ và cung cấp các thông tin liên quan đến họ khi có yêu cầu và (iv) các nghĩa vụ khác theo thoả thuận. Có thể nói, trong các nghĩa vụ nêu trên của chủ họ thì ngoài các nghĩa vụ tối thiểu mà chủ họ phải có nghĩa vụ thực hiện thì nghĩa vụ “nộp thay phần họ của nộp thay phần họ của thành viên trong trường hợp có thoả thuận nếu đến kỳ mở họ mà có thành viên không góp phần họ” và nghĩa vụ “cho các thành viên xem sổ họ và cung cấp các thông tin liên quan đến họ khi có yêu cầu” là hai nghĩa vụ rất quan trọng, thể hiện vai trò cũng như trách nhiệm của chủ họ. Nghĩa vụ của chủ họ chính là cơ sở bảo vệ quyền của các thành viên tham gia họ.

Chủ họ có các quyền sau đây: (i) yêu cầu các thành viên trong họ phải góp phần họ; (ii) yêu cầu thành viên được lĩnh họ nhận các phần họ khi đến kỳ mở họ; (iii) yêu cầu thành viên không góp phần họ của mình phải hoàn trả phần họ trong trường hợp chủ họ đã góp thay cho thành viên đó và (iv) các quyền khác theo thoả thuận.

Thứ hai, đối với họ có lãi được chia thành hai loại là họ đầu thảo (là họ mà theo sự thỏa thuận giữa những người tham gia họ, chủ họ được lĩnh toàn bộ các phần họ trong một kỳ mở họ và không phải trả lãi cho các thành viên khác. Trong các kỳ mở họ khác, thành viên trả lãi cao nhất được lĩnh họ và phải trả lãi cho các thành viên khác) và họ hưởng hoa hồng (là họ mà theo sự thỏa thuận giữa những người tham gia họ, chủ họ có trách nhiệm thu phần họ của các thành viên gọp họ để giao cho thành viên được lĩnh họ. Thành viên được lĩnh phải trả lãi cho các thành viên khác và phải trả một khoản hoa hồng cho chủ họ. Mức hoa hồng do những người tham gia họ thỏa thuận. Chủ họ không phải là thành viên của dây họ và các thành viên đều phải bốc thăm trả lãi suất và theo quy ước thành viên nào trả lãi cao nhất thì được lĩnh họ, số tiền này được coi là tiền lãi của các thành viên khác). Từ Điều 19 đến Điều 28 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP quy định cụ thể về nghĩa vụ và quyền của thành viên và chủ họ trong họ đầu thảo (từ Điều 19 đến Điều 23); nghĩa vụ và quyền của thành viên và chủ họ trong họ hưởng hoa hồng (từ Điều 24 đến Điều 28). Về cơ bản, quyền và nghĩa vụ của thành viên họ hưởng hoa hồng và nghĩa vụ của chủ họ hưởng hoa hồng giống với quyền và nghĩa vụ của thành viên họ đầu thảo và nghĩa vụ của chủ họ hưởng hoa hồng. Điểm khác biệt giữa quyền của chủ họ trong họ đầu thảo với họ hưởng hoa hồng là đối với họ hưởng hoa hồng, chủ họ được hưởng hoa hồng từ các thành viên được lĩnh họ trong khi chủ họ trong họ đầu thảo được lĩnh các phần họ trong một kỳ mở họ và không phải trả lãi cho các thành viên.

1.3. Hình thức thỏa thuận về họ

Điều 7 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP quy định thoả thuận về họ được thể hiện bằng lời nói hoặc bằng văn bản. Văn bản thoả thuận về họ được công chứng, chứng thực nếu những người tham gia họ có yêu cầu.

2. Thực trạng áp dụng các quy định về hụi, họ

2.1. Kết quả giải quyết các vụ việc về họ

Nghị định số 144/2006/NĐ-CP được Chính phủ thông qua ngày 27/11/2006 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 22/12/2006. Đây là một văn bản quy phạm pháp luật quan trọng điều chỉnh về họ, hình thứ họ; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của những người tham gia họ.

Theo số liệu thống kê trong công tác xét xử của ngành Tòa án nhân dân và công tác kiểm sát hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố của ngành Kiểm sát nhân dân thì trong thời gian vừa qua các tranh chấp về họ xảy ra nhiều, với tính chất ngày càng phức tạp, do đó ngoài các biện pháp như hòa giải cơ sở, thương lượng... các tranh chấp về họ cũng được giải quyết thông qua con đường tố tụng tại Tòa án ngày càng nhiều. Cụ thể, theo thống kê từ năm 2006 đến nay, tổng số vụ việc được ngành Tòa án nhân dân thụ lý tại 05 địa phương như Thành phố Hồ Chí Minh, Cà Mau, Hậu Giang, Thanh Hóa, Cần Thơ là hơn 8000 vụ việc[1]. Về cơ bản, các vụ việc về họ do Tòa án nhân dân giải quyết trong thời gian qua, đã đáp ứng được mong mỏi của người dân và yêu cầu cải cách tư pháp, áp dụng đúng và thống nhất pháp luật, tiếp tục nâng cao chất lượng xét xử, đảm bảo tiến độ và đảm chất lượng tranh tụng tại phiên tòa để việc xét xử các loại án luôn kịp thời, chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Từ khi Nghị định số 144/2006/NĐ-CP có hiệu lực, theo số liệu thống kê, Viện Kiểm sát nhân dân các cấp đã kiểm sát việc giải quyết 33.809 vụ việc dân sự liên quan đến hoạt động họ, thông qua việc kiểm sát các thông báo thụ lý, kiểm sát các quyết định hòa giải thành, đình chỉ, tạm đình chỉ hoặc tham gia phiên tòa xét xử một số vụ việc dân sự[2].

2.2. Một số hạn chế, bất cập trong việc áp dụng và trong các quy định của Nghị định số 144/2006/NĐ-CP

Qua thực tiễn 10 năm thi hành, Nghị định số 144/2006/NĐ-CP đã phát huy được vai trò trong việc quy định địa vị pháp lý, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia họ nhằm mục đích tương trợ; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng; thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; đáp ứng nhu cầu của cá nhân có thêm kênh huy động vốn để đầu tư kinh doanh hoặc phục vụ mục đích sinh hoạt. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội, nhu cầu cho vay, đi vay bằng phương thức họ ngày càng đa dạng, phức tạp thậm chí có sự biến tướng và bản thân các quy định của Nghị định đã bộc lộ những hạn chế, bất cập về việc áp dụng pháp luật, các quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ và hình thức thỏa thuận về họ, cụ thể như sau:

Thứ nhất, về vấn đề áp dụng pháp luật

Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP “Quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia họ nhằm mục đích tương trợ trong nhân dân theo quy định của Nghị định này và các văn bản pháp luật khác có liên quan được pháp luật bảo vệ”, quy định này có thể gây nhầm lẫn trong việc áp dụng pháp luật đối với các chủ thể và cơ quan tư pháp, cơ quan công an khi điều tra, xét xử. Thực tế, trong hơn 10 năm thi hành Nghị định này, Tòa án khi giải quyết tranh chấp về họ, do không tìm được các căn cứ để áp dụng Nghị định số 144/2006/NĐ-CP, thay vì áp dụng các quy định chung và quy định về lãi suất của Bộ luật Dân sự thì một số Tòa án đã tuyên giao dịch vô hiệu; bên cạnh đó, có trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng hiểu là phải bảo vệ lợi ích hợp pháp của những người tham gia họ nên đã khởi tố vụ án hình sự trong những trường hợp chưa thực sự cần thiết.

Thứ hai, về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ

Nghị định số 144/2006/NĐ-CP không quy định giới hạn nên một người có thể là chủ họ của nhiều dây họ tạo nên mạng lưới chồng chéo nhau. Vì vậy, khi vỡ họ thường có phản ứng dây chuyền, tác động xấu đến nhiều người tham gia họ và đến kinh tế và xã hội.

Quy định của Nghị định số 144/2006/NĐ-CP về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ họ còn thiếu những quy định cần thiết như quy định về việc ra khỏi họ; trách nhiệm của chủ họ trong việc cung cấp thông tin cần thiết; trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ họ; quy định về trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của thành viên; giải quyết trong trường hợp họ chết…

Thứ ba, về hình thức thỏa thuận về họ

Theo Điều 7 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP về hình thức của họ của người tham gia họ có thể thỏa thuận bằng lời nói, không bắt buộc thỏa thuận bằng văn bản hoặc phải công chứng, chứng thực, tuy nhiên trong thực tế, khi giải quyết tranh chấp, các bên không thừa nhận (do thực hiện giao dịch bằng lời nói) hoặc văn bản bị tẩy xóa, ghi thêm (do không công chứng, chứng thực). Bên cạnh đó, các họ viên khi nộp tiền họ thường không đòi hỏi hóa đơn, chứng từ gì đảm bảo; nếu có thì chủ họ thường chỉ đánh dấu vào sổ họ và đảm bảo bằng miệng. Vì vậy, khi phát sinh tranh chấp, Tòa án gặp nhiều khó khăn trong việc xác định chứng cứ, sự thật khách quan của vụ án.

3. Đề xuất, kiến nghị hoàn thiện

Xuất phát từ các quy định và thực tiễn áp dụng một số quy định của Nghị định số 144/2006/NĐ-CP về quyền và nghĩa vụ của chủ thể tham gia họ và hình thức thỏa thuận về họ, tác giả đưa ra một số đề xuất để hoàn thiện các quy định của Nghị định số 144/2006/NĐ-CP, cụ thể như sau:

Thứ nhất, về vấn đề áp dụng pháp luật

Nghiên cứu sửa đổi quy định tại Điều 2 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP theo hướng quy định các quan hệ nếu không đáp ứng đủ các dấu hiệu, điều kiện của giao dịch họ thì áp dụng các quy định chung, quy định về hợp đồng vay tài sản của Bộ luật Dân sự năm 2015; trong trường hợp Bộ luật Dân sự năm 2015, pháp luật có liên quan không có quy định cụ thể thì áp dụng tập quán theo quy định tại Điều 5 Bộ luật Dân sự năm 2015 (về áp dụng tập quán) hoặc các căn cứ khác theo quy định tại Điều 6 Bộ luật Dân sự năm 2015 (về áp dụng tương tự pháp luật) để giải quyết.

Thứ hai, về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể

Xuất phát từ thực tiễn các vụ tranh chấp phát sinh từ việc chơi họ, tác giả cho rằng cần quy định bổ sung về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia qua đó, góp phần tăng cường cơ chế tự kiểm soát lẫn nhau giữa những người tham gia họ. Theo đó cần bổ sung các quy định mang tính định hướng để giúp các thành viên tham gia họ tự bảo vệ quyền của mình, nắm bắt thông tin về quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ họ, của các thành viên khác. Cụ thể, bổ sung các quyền, nghĩa vụ cơ bản như: (i) quyền nêu ý kiến về việc chấp thuận gia nhập dây họ của thành viên mới; (ii) quyền yêu cầu chủ họ hoặc các thành viên khác trả phần họ khi đến kỳ lĩnh họ; (iii) quyền chuyển giao phần họ theo quy định tại các điều từ Điều 365 đến Điều 371 của Bộ luật dân sự năm 2015; (iv) quyền ra khỏi họ; (v) quyền yêu cầu xem và sao chụp sổ họ; (vi) nghĩa vụ của thành viên mới khi gia nhập dây họ; (vii) nghĩa vụ phải thực hiện trong trường hợp rút khỏi họ; (viii) bổ sung quy định về trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của thành viên trong trường hợp chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa đúng và (ix) khi mở họ phải có mặt các thành viên tham gia dây họ đó và ký tên hoặc điểm chỉ vào sổ của chủ họ và sổ của họ viên để tránh việc chủ họ lập những dây họ “ảo” để chiếm đoạt tài sản của họ viên.

Đồng thời, để tránh tình trạng vỡ họ dây truyền như trong thời gian vừa qua, tác giả đề nghị quy định cụ thể việc chủ họ chỉ được lập tối đa 02 dây họ, qua đó, hạn chế thiệt hại cho nhiều người và tránh việc lợi dụng của chủ họ nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản.

Thứ ba, về hình thức thỏa thuận về họ

Để có cơ sở đánh giá chứng cứ trong quá trình giải quyết tranh chấp, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên khi tham gia họ, tác giả kiến nghị cần quy định rõ và cụ thể những trường hợp thỏa thuận về họ được thể hiện bằng lời nói, những trường hợp văn bản thỏa thuận cần phải công chứng, chứng thực để thuận lợi xử lý khi có tranh chấp xảy ra. Tiêu chí để xác định thỏa thuận được thực hiện bằng lời nói, văn bản hoặc cần phải được công chức, chứng thực có thể căn cứ vào tính chất quy mô của dây họ và số lượng thành viên tham gia./.

Thịnh Anh


[1] Theo Công văn của các cơ quan gửi Bộ Tư pháp phục vụ cho việc xây dựng Báo cáo của Bộ Tư pháp tổng kết thi hành Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường ngày 01/5/2017.

[2]Theo Báo cáo của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao tại Công văn số 126/BC-VKSTC ngày 11/11/2016.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: