Thứ sáu 05/12/2025 09:33
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện một số quy định về họ, hụi, biêu, phường

Ngày 14/6/2005, tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XI đã thông qua Bộ luật Dân sự (Bộ luật Dân sự năm 2005), trong đó Điều 479 quy định về họ, hụi, biêu, phường. Để quy định chi tiết về nội dung này, ngày 27/11/2006, Chính phủ ban hành Nghị định số 144/2006/NĐ-CP về họ, hụi, biêu, phường (Nghị định số 144/2006/NĐ-CP).

Ngày 24/11/2015, tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XIII đã thông qua Bộ luật Dân sự (Bộ luật Dân sự năm 2015) thay thế Bộ luật Dân sự năm 2005. Bộ luật Dân sự năm 2015 có nhiều quy định mới liên quan đến địa vị pháp lý của chủ thể; về việc xác lập, thực hiện, bảo vệ các quyền dân sự; về các giao dịch dân sự; về đại diện; về nghĩa vụ và hợp đồng; về lãi suất trong hợp đồng vay… trong đó chế định hợp đồng vay tài sản đã được sửa đổi, bổ sung khá cơ bản. Đặc biệt Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định rõ việc tổ chức họ có lãi thì mức lãi phải tuân theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015. Để phục vụ cho việc nghiên cứu, đề nghị sửa đổi, bổ sung Nghị định số 144/2006/NĐ-CP, bảo đảm phù hợp với hệ thống pháp luật hiện hành, bài viết này đánh giá về thực trạng áp dụng một số quy định về họ, hụi, biêu, phường theo quy định của Nghị định số 144/2006/NĐ-CP; qua đó nhận diện những hạn chế bất cập trong việc áp dụng và trong các quy định và đưa ra đề xuất, kiến nghị hoàn thiện các quy định này.

1. Các quy định về họ, hụi, biêu phường; quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ và hình thức thỏa thuận về họ
1.1. Khái niệm về họ, hụi, biêu, phường
Họ, hụi, biêu, phường (họ) là một loại giao dịch về tài sản theo tập quán hình thành từ rất lâu trong đời sống của nhân dân ta ở khắp tất cả các miền. Miền Bắc thường gọi là họ, miền trung thường gọi là biêu, phường và miền nam thường gọi là hụi. Một số nơi còn có cách gọi khác là bưu, huê, hội v.v. Mặc dù có nhiều tên gọi khác nhau, nhưng về bản chất là giống nhau. Điều 479 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định “Họ, hụi, biêu, phường (sau đây gọi chung là họ) là một hình thức giao dịch về tài sản theo tập quán trên cơ sở thoả thuận của một nhóm người tập hợp nhau lại cùng định ra số người, thời gian, số tiền hoặc tài sản khác, thể thức góp, lĩnh họ và quyền, nghĩa vụ của các thành viên. Hình thức họ nhằm mục đích tương trợ trong nhân dân được thực hiện theo quy định của pháp luật”.
Họ được chia thành họ không có lãi và họ có lãi. Họ có lãi bao gồm họ đầu thảo và họ hưởng hoa hồng. Tùy theo hình thức họ mà quyền, nghĩa vụ của thành viên tham gia và chủ họ là khác nhau.

1.2. Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ
Chủ thể của các quan hệ pháp luật là các bên tham gia quan hệ pháp luật, nói cách khác, đó là các bên tham gia vào quan hệ pháp luật trên cơ sở những quyền và nghĩa vụ do Nhà nước quy định trong pháp luật. Chủ thể của quan hệ pháp luật có thể là cá nhân, tổ chức. Trong quan hệ họ, chủ thể tham gia quan hệ pháp luật là cá nhân, được thể hiện dưới vai trò là chủ họ và thành viên tham gia họ.

Thứ nhất, đối với họ không có lãi, Điều 13 và Điều 14 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP quy định các thành viên tham gia có nghĩa vụ: (i) góp phần họ theo thoả thuận cho chủ họ trong trường hợp có chủ họ hoặc cho thành viên được lĩnh họ; (ii) bồi thường thiệt hại cho những người tham gia họ, nếu vi phạm nghĩa vụ mà gây thiệt hại; (iii) các nghĩa vụ khác theo thoả thuận và (iv) trường hợp không có chủ họ thì thành viên được uỷ quyền lập và giữ sổ họ có các nghĩa vụ theo quy định tại khoản 1 và khoản 5 Điều 15 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP.

Thành viên tham gia họ có các quyền sau đây: (i) khi đến kỳ mở họ, thành viên được lĩnh họ có quyền nhận các phần họ từ chủ họ hoặc các thành viên khác trong họ; (ii) bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong trường hợp quyền, lợi ích hợp pháp bị vi phạm; (iii) chuyển giao phần họ theo quy định tại các điều từ Điều 309 đến Điều 317 của Bộ Luật Dân sự năm 2005; (iv) ra khỏi họ theo thoả thuận; (v) yêu cầu chủ họ hoặc người giữ sổ họ cho xem sổ họ và cung cấp các thông tin liên quan đến họ và (vi) các quyền khác theo thoả thuận.

Điều 15 và Điều 16 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP quy định về nghĩa vụ và quyền của chủ họ. Theo đó, chủ họ có nghĩa vụ: (i) lập và giữ sổ họ và các giấy tờ liên quan đến họ; (ii) thu phần họ của các thành viên; (iii) giao các phần họ cho thành viên được lĩnh họ; (iv) nộp thay phần họ của thành viên trong trường hợp có thoả thuận nếu đến kỳ mở họ mà có thành viên không góp phần họ; (v) cho các thành viên xem sổ họ và cung cấp các thông tin liên quan đến họ khi có yêu cầu và (iv) các nghĩa vụ khác theo thoả thuận. Có thể nói, trong các nghĩa vụ nêu trên của chủ họ thì ngoài các nghĩa vụ tối thiểu mà chủ họ phải có nghĩa vụ thực hiện thì nghĩa vụ “nộp thay phần họ của nộp thay phần họ của thành viên trong trường hợp có thoả thuận nếu đến kỳ mở họ mà có thành viên không góp phần họ” và nghĩa vụ “cho các thành viên xem sổ họ và cung cấp các thông tin liên quan đến họ khi có yêu cầu” là hai nghĩa vụ rất quan trọng, thể hiện vai trò cũng như trách nhiệm của chủ họ. Nghĩa vụ của chủ họ chính là cơ sở bảo vệ quyền của các thành viên tham gia họ.

Chủ họ có các quyền sau đây: (i) yêu cầu các thành viên trong họ phải góp phần họ; (ii) yêu cầu thành viên được lĩnh họ nhận các phần họ khi đến kỳ mở họ; (iii) yêu cầu thành viên không góp phần họ của mình phải hoàn trả phần họ trong trường hợp chủ họ đã góp thay cho thành viên đó và (iv) các quyền khác theo thoả thuận.

Thứ hai, đối với họ có lãi được chia thành hai loại là họ đầu thảo (là họ mà theo sự thỏa thuận giữa những người tham gia họ, chủ họ được lĩnh toàn bộ các phần họ trong một kỳ mở họ và không phải trả lãi cho các thành viên khác. Trong các kỳ mở họ khác, thành viên trả lãi cao nhất được lĩnh họ và phải trả lãi cho các thành viên khác) và họ hưởng hoa hồng (là họ mà theo sự thỏa thuận giữa những người tham gia họ, chủ họ có trách nhiệm thu phần họ của các thành viên gọp họ để giao cho thành viên được lĩnh họ. Thành viên được lĩnh phải trả lãi cho các thành viên khác và phải trả một khoản hoa hồng cho chủ họ. Mức hoa hồng do những người tham gia họ thỏa thuận. Chủ họ không phải là thành viên của dây họ và các thành viên đều phải bốc thăm trả lãi suất và theo quy ước thành viên nào trả lãi cao nhất thì được lĩnh họ, số tiền này được coi là tiền lãi của các thành viên khác). Từ Điều 19 đến Điều 28 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP quy định cụ thể về nghĩa vụ và quyền của thành viên và chủ họ trong họ đầu thảo (từ Điều 19 đến Điều 23); nghĩa vụ và quyền của thành viên và chủ họ trong họ hưởng hoa hồng (từ Điều 24 đến Điều 28). Về cơ bản, quyền và nghĩa vụ của thành viên họ hưởng hoa hồng và nghĩa vụ của chủ họ hưởng hoa hồng giống với quyền và nghĩa vụ của thành viên họ đầu thảo và nghĩa vụ của chủ họ hưởng hoa hồng. Điểm khác biệt giữa quyền của chủ họ trong họ đầu thảo với họ hưởng hoa hồng là đối với họ hưởng hoa hồng, chủ họ được hưởng hoa hồng từ các thành viên được lĩnh họ trong khi chủ họ trong họ đầu thảo được lĩnh các phần họ trong một kỳ mở họ và không phải trả lãi cho các thành viên.

1.3. Hình thức thỏa thuận về họ

Điều 7 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP quy định thoả thuận về họ được thể hiện bằng lời nói hoặc bằng văn bản. Văn bản thoả thuận về họ được công chứng, chứng thực nếu những người tham gia họ có yêu cầu.

2. Thực trạng áp dụng các quy định về hụi, họ

2.1. Kết quả giải quyết các vụ việc về họ

Nghị định số 144/2006/NĐ-CP được Chính phủ thông qua ngày 27/11/2006 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 22/12/2006. Đây là một văn bản quy phạm pháp luật quan trọng điều chỉnh về họ, hình thứ họ; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của những người tham gia họ.

Theo số liệu thống kê trong công tác xét xử của ngành Tòa án nhân dân và công tác kiểm sát hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố của ngành Kiểm sát nhân dân thì trong thời gian vừa qua các tranh chấp về họ xảy ra nhiều, với tính chất ngày càng phức tạp, do đó ngoài các biện pháp như hòa giải cơ sở, thương lượng... các tranh chấp về họ cũng được giải quyết thông qua con đường tố tụng tại Tòa án ngày càng nhiều. Cụ thể, theo thống kê từ năm 2006 đến nay, tổng số vụ việc được ngành Tòa án nhân dân thụ lý tại 05 địa phương như Thành phố Hồ Chí Minh, Cà Mau, Hậu Giang, Thanh Hóa, Cần Thơ là hơn 8000 vụ việc[1]. Về cơ bản, các vụ việc về họ do Tòa án nhân dân giải quyết trong thời gian qua, đã đáp ứng được mong mỏi của người dân và yêu cầu cải cách tư pháp, áp dụng đúng và thống nhất pháp luật, tiếp tục nâng cao chất lượng xét xử, đảm bảo tiến độ và đảm chất lượng tranh tụng tại phiên tòa để việc xét xử các loại án luôn kịp thời, chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Từ khi Nghị định số 144/2006/NĐ-CP có hiệu lực, theo số liệu thống kê, Viện Kiểm sát nhân dân các cấp đã kiểm sát việc giải quyết 33.809 vụ việc dân sự liên quan đến hoạt động họ, thông qua việc kiểm sát các thông báo thụ lý, kiểm sát các quyết định hòa giải thành, đình chỉ, tạm đình chỉ hoặc tham gia phiên tòa xét xử một số vụ việc dân sự[2].

2.2. Một số hạn chế, bất cập trong việc áp dụng và trong các quy định của Nghị định số 144/2006/NĐ-CP

Qua thực tiễn 10 năm thi hành, Nghị định số 144/2006/NĐ-CP đã phát huy được vai trò trong việc quy định địa vị pháp lý, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia họ nhằm mục đích tương trợ; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng; thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; đáp ứng nhu cầu của cá nhân có thêm kênh huy động vốn để đầu tư kinh doanh hoặc phục vụ mục đích sinh hoạt. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội, nhu cầu cho vay, đi vay bằng phương thức họ ngày càng đa dạng, phức tạp thậm chí có sự biến tướng và bản thân các quy định của Nghị định đã bộc lộ những hạn chế, bất cập về việc áp dụng pháp luật, các quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ và hình thức thỏa thuận về họ, cụ thể như sau:

Thứ nhất, về vấn đề áp dụng pháp luật

Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP “Quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia họ nhằm mục đích tương trợ trong nhân dân theo quy định của Nghị định này và các văn bản pháp luật khác có liên quan được pháp luật bảo vệ”, quy định này có thể gây nhầm lẫn trong việc áp dụng pháp luật đối với các chủ thể và cơ quan tư pháp, cơ quan công an khi điều tra, xét xử. Thực tế, trong hơn 10 năm thi hành Nghị định này, Tòa án khi giải quyết tranh chấp về họ, do không tìm được các căn cứ để áp dụng Nghị định số 144/2006/NĐ-CP, thay vì áp dụng các quy định chung và quy định về lãi suất của Bộ luật Dân sự thì một số Tòa án đã tuyên giao dịch vô hiệu; bên cạnh đó, có trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng hiểu là phải bảo vệ lợi ích hợp pháp của những người tham gia họ nên đã khởi tố vụ án hình sự trong những trường hợp chưa thực sự cần thiết.

Thứ hai, về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ

Nghị định số 144/2006/NĐ-CP không quy định giới hạn nên một người có thể là chủ họ của nhiều dây họ tạo nên mạng lưới chồng chéo nhau. Vì vậy, khi vỡ họ thường có phản ứng dây chuyền, tác động xấu đến nhiều người tham gia họ và đến kinh tế và xã hội.

Quy định của Nghị định số 144/2006/NĐ-CP về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ họ còn thiếu những quy định cần thiết như quy định về việc ra khỏi họ; trách nhiệm của chủ họ trong việc cung cấp thông tin cần thiết; trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ họ; quy định về trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của thành viên; giải quyết trong trường hợp họ chết…

Thứ ba, về hình thức thỏa thuận về họ

Theo Điều 7 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP về hình thức của họ của người tham gia họ có thể thỏa thuận bằng lời nói, không bắt buộc thỏa thuận bằng văn bản hoặc phải công chứng, chứng thực, tuy nhiên trong thực tế, khi giải quyết tranh chấp, các bên không thừa nhận (do thực hiện giao dịch bằng lời nói) hoặc văn bản bị tẩy xóa, ghi thêm (do không công chứng, chứng thực). Bên cạnh đó, các họ viên khi nộp tiền họ thường không đòi hỏi hóa đơn, chứng từ gì đảm bảo; nếu có thì chủ họ thường chỉ đánh dấu vào sổ họ và đảm bảo bằng miệng. Vì vậy, khi phát sinh tranh chấp, Tòa án gặp nhiều khó khăn trong việc xác định chứng cứ, sự thật khách quan của vụ án.

3. Đề xuất, kiến nghị hoàn thiện

Xuất phát từ các quy định và thực tiễn áp dụng một số quy định của Nghị định số 144/2006/NĐ-CP về quyền và nghĩa vụ của chủ thể tham gia họ và hình thức thỏa thuận về họ, tác giả đưa ra một số đề xuất để hoàn thiện các quy định của Nghị định số 144/2006/NĐ-CP, cụ thể như sau:

Thứ nhất, về vấn đề áp dụng pháp luật

Nghiên cứu sửa đổi quy định tại Điều 2 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP theo hướng quy định các quan hệ nếu không đáp ứng đủ các dấu hiệu, điều kiện của giao dịch họ thì áp dụng các quy định chung, quy định về hợp đồng vay tài sản của Bộ luật Dân sự năm 2015; trong trường hợp Bộ luật Dân sự năm 2015, pháp luật có liên quan không có quy định cụ thể thì áp dụng tập quán theo quy định tại Điều 5 Bộ luật Dân sự năm 2015 (về áp dụng tập quán) hoặc các căn cứ khác theo quy định tại Điều 6 Bộ luật Dân sự năm 2015 (về áp dụng tương tự pháp luật) để giải quyết.

Thứ hai, về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể

Xuất phát từ thực tiễn các vụ tranh chấp phát sinh từ việc chơi họ, tác giả cho rằng cần quy định bổ sung về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia qua đó, góp phần tăng cường cơ chế tự kiểm soát lẫn nhau giữa những người tham gia họ. Theo đó cần bổ sung các quy định mang tính định hướng để giúp các thành viên tham gia họ tự bảo vệ quyền của mình, nắm bắt thông tin về quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ họ, của các thành viên khác. Cụ thể, bổ sung các quyền, nghĩa vụ cơ bản như: (i) quyền nêu ý kiến về việc chấp thuận gia nhập dây họ của thành viên mới; (ii) quyền yêu cầu chủ họ hoặc các thành viên khác trả phần họ khi đến kỳ lĩnh họ; (iii) quyền chuyển giao phần họ theo quy định tại các điều từ Điều 365 đến Điều 371 của Bộ luật dân sự năm 2015; (iv) quyền ra khỏi họ; (v) quyền yêu cầu xem và sao chụp sổ họ; (vi) nghĩa vụ của thành viên mới khi gia nhập dây họ; (vii) nghĩa vụ phải thực hiện trong trường hợp rút khỏi họ; (viii) bổ sung quy định về trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của thành viên trong trường hợp chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa đúng và (ix) khi mở họ phải có mặt các thành viên tham gia dây họ đó và ký tên hoặc điểm chỉ vào sổ của chủ họ và sổ của họ viên để tránh việc chủ họ lập những dây họ “ảo” để chiếm đoạt tài sản của họ viên.

Đồng thời, để tránh tình trạng vỡ họ dây truyền như trong thời gian vừa qua, tác giả đề nghị quy định cụ thể việc chủ họ chỉ được lập tối đa 02 dây họ, qua đó, hạn chế thiệt hại cho nhiều người và tránh việc lợi dụng của chủ họ nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản.

Thứ ba, về hình thức thỏa thuận về họ

Để có cơ sở đánh giá chứng cứ trong quá trình giải quyết tranh chấp, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên khi tham gia họ, tác giả kiến nghị cần quy định rõ và cụ thể những trường hợp thỏa thuận về họ được thể hiện bằng lời nói, những trường hợp văn bản thỏa thuận cần phải công chứng, chứng thực để thuận lợi xử lý khi có tranh chấp xảy ra. Tiêu chí để xác định thỏa thuận được thực hiện bằng lời nói, văn bản hoặc cần phải được công chức, chứng thực có thể căn cứ vào tính chất quy mô của dây họ và số lượng thành viên tham gia./.

Thịnh Anh


[1] Theo Công văn của các cơ quan gửi Bộ Tư pháp phục vụ cho việc xây dựng Báo cáo của Bộ Tư pháp tổng kết thi hành Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường ngày 01/5/2017.

[2]Theo Báo cáo của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao tại Công văn số 126/BC-VKSTC ngày 11/11/2016.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Trường Cao đẳng Luật miền Bắc được nâng cấp từ Trường Trung cấp Luật Thái Nguyên theo Quyết định số 869/QĐ-LĐTBXH ngày 10/7/2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ), đã kế thừa hơn một thập kỷ kinh nghiệm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ pháp lý cấp cơ sở, đặc biệt, tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc.
Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Bộ Tư pháp đã trang bị, bổ sung, ứng dụng các công nghệ mới như máy chủ ảo hóa, lưu trữ SAN; máy chủ ứng dụng, máy chủ cơ sở dữ liệu cho Trung tâm dữ liệu điện tử để đáp ứng yêu cầu quản lý, vận hành và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp.
Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Bài viết về những thành tựu nổi bật và định hướng phát triển công tác hành chính tư pháp trong thời gian tới.
Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, có chức năng thông tin về khoa học pháp lý, thông tin lý luận, nghiệp vụ và thực tiễn trong xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp của Bộ, ngành Tư pháp; tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước theo quy định pháp luật; đồng thời, là diễn đàn trao đổi học thuật, thực tiễn và chính sách trong lĩnh vực pháp luật[1].
Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, thực hiện chức năng thông tin về các hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp và các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội trong nước và quốc tế; truyền thông, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hoạt động xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp phục vụ yêu cầu quản lý của Bộ Tư pháp, đáp ứng nhu cầu của xã hội về thông tin, nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tham gia định hướng tư tưởng, phản biện xã hội, khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và tự lực, tự cường của Nhân dân, đồng hành với an sinh xã hội.
Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2026-2031 được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật và thống nhất trên phạm vi cả nước, Hội đồng bầu cử quốc gia (HĐBCQG) được thành lập, giữ vai trò tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH); chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND). Việc tìm hiểu cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của HĐBCQG có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và cử tri thực hiện quyền làm chủ của mình, đồng thời giúp cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan thực hiện tốt nhiệm vụ trong công tác bầu cử.
Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Bài viết phân tích một số thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới của Cục Kiểm tra văn bản và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp.
Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Trong những năm qua, hoạt động nghiên cứu khoa học của Bộ Tư pháp đã khẳng định được vai trò cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn, giúp Lãnh đạo Bộ tham mưu với các cấp có thẩm quyền xây dựng các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác pháp luật, tư pháp, về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Trợ giúp pháp lý - Điểm tựa pháp lý cho tuổi vị thành niên lầm lỡ

Trợ giúp pháp lý - Điểm tựa pháp lý cho tuổi vị thành niên lầm lỡ

Lứa tuổi vị thành niên là giai đoạn các em đang hình thành nhân cách, dễ bồng bột, thiếu kỹ năng kiểm soát cảm xúc và nhận thức pháp luật còn hạn chế. Nếu không được định hướng, các em rất dễ sa vào những hành vi vi phạm pháp luật đáng tiếc. Chỉ một phút nóng giận, một quyết định bồng bột… cũng đủ khiến tuổi trẻ phải trả giá bằng cả những tháng ngày sau song sắt. Thế nhưng, trong câu chuyện buồn ấy, vẫn có một điểm sáng nhân văn - đó là bàn tay nâng đỡ của trợ giúp pháp lý miễn phí, để một thiếu niên lầm lỡ có cơ hội sửa sai và làm lại từ đầu.

Theo dõi chúng tôi trên: