Chủ nhật 11/10/2026 06:11
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực trạng và một số giải pháp hạn chế việc giả mạo, mạo danh chủ thể trong hoạt động công chứng trên địa bàn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bài viết đề cập thực trạng giả mạo, mạo danh chủ thể trong hoạt động công chứng trên địa bàn tỉnh Gia Lai, từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp góp phần hạn chế các rủi ro này trên thực tế.

Tóm tắt: Bài viết đề cập thực trạng giả mạo, mạo danh chủ thể trong hoạt động công chứng trên địa bàn tỉnh Gia Lai, từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp góp phần hạn chế các rủi ro này trên thực tế.

Abstract: This article is concerned with the situation of the forging and impersonating subjects in notarization activities in Gia Lai province, hence, recommends some solutions to limit these risks in the practice.

Những năm gần đây, tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Gia Lai ngày một phát triển, các hợp đồng, giao dịch của người dân ngày càng nhiều, chủ yếu là các giao dịch về thế chấp, chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế… liên quan đến đất đai và các tài sản khác; các tổ chức hành nghề công chứng trên địa phương cũng xuất hiện nhiều hơn. Hiện nay, tỉnh Gia Lai có 15 tổ chức hành nghề công chứng (03 phòng công chứng và 12 văn phòng công chứng) với 33 công chứng viên. Từ năm 2016 đến năm 2018, các tổ chức này đã thực hiện công chứng hơn 226.000 hợp đồng, giao dịch, trong đó, nhiều hợp đồng, giao dịch đa dạng, phức tạp với nhiều chủ thể do một số chủ thể có nhiều địa chỉ và giấy tờ tùy thân cấp đã lâu nên khó xác định, vì vậy, việc giả mạo, mạo danh chủ thể trong hoạt động công chứng đang ngày càng nhiều và diễn biến phức tạp.

Công chứng “là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản...” (khoản 1 Điều 2 Luật Công chứng năm 2014). Việc xác định “tính xác thực” của công chứng viên rất quan trọng vì chỉ khi xác thực đúng, đủ và hợp pháp thì hợp đồng giao dịch đó mới có giá trị pháp lý. Tính xác thực ở đây là xác thực về thời điểm giao kết, người yêu cầu công chứng có năng lực hành vi dân sự phù hợp hay không; xác thực về địa điểm giao kết có tại trụ sở của tổ chức hành nghề hay ngoài trụ sở, lý do ngoài trụ sở có đúng quy định tại Điều 44 Luật Công chứng năm 2014 hay không; xác thực đúng ý chí, mục đích và nội dung của hợp đồng và xác thực đúng chủ thể trong hoạt động công chứng. Trong đó, việc xác định đúng chủ thể có ý nghĩa hết sức quan trọng, đảm bảo an toàn pháp lý cho các bên tham gia giao dịch, ngăn ngừa tranh chấp, giảm thiểu rủi ro. Cùng với việc xác định thẩm quyền của công chứng viên có được công chứng hợp đồng, giao dịch hay không thì việc xác định chủ thể trong hoạt động công chứng còn quyết định tới hợp đồng vô hiệu hay không? Thực tế cho thấy, để xác định chủ thể thực hiện giao dịch, ngoài việc xem giấy tờ tùy thân có đúng tên tuổi, hình ảnh, đặc điểm nhận dạng ông A là ông A, bà B là bà B hay không… thì công chứng viên còn phải xác định đã đủ tuổi giao dịch dân sự chưa, có người đại diện hay không, có thuộc trường hợp giám hộ hay không. Khoản 3 Điều 2 Luật Công chứng năm 2014 định nghĩa người yêu cầu công chứng “là cá nhân, tổ chức Việt Nam hoặc cá nhân, tổ chức nước ngoài...”. Như vậy, nếu công chứng viên căn cứ theo điều luật nêu trên để xác định chủ thể trong hoạt động công chứng thì chủ thể rất rộng, điều luật cũng chỉ quy định chung chung; trong khi đó, theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và một số luật chuyên ngành thì chỉ có một số chủ thể nhất định mới là chủ thể trong hoạt động công chứng ví dụ như cá nhân, pháp nhân… Trong các loại chủ thể nêu trên thì chủ thể mà các đối tượng thường hay giả mạo, mạo danh nhất đó là chủ thể là cá nhân, vì việc giả mạo, mạo danh chủ thể là cá nhân sẽ dễ dàng hơn so với tổ chức.

Trong hoạt động công chứng, việc giả mạo, mạo danh chủ thể diễn ra ngày một nhiều về số lượng, cách thức thực hiện, phức tạp về độ tinh vi, gây không ít khó khăn cho các tổ chức hành nghề công chứng và cơ quan có thẩm quyền quản lý nhà nước về hoạt động công chứng, gây bất an cho cá nhân, tổ chức thực hiện giao dịch và tác động tiêu cực đến kinh tế - xã hội, an ninh, trật tự của địa phương. Ví dụ như sau:

Ngày 23/4/2018, Phòng Công chứng số 1 tỉnh Gia Lai thụ lý hồ sơ yêu cầu công chứng hợp đồng thế chấp tài sản giữa bên thế chấp là bà A và bên nhận thế chấp là Ngân hàng B. Sau khi kiểm tra, đối chiếu chứng minh nhân dân, công chứng viên nhận thấy có nhiều điểm nghi vấn như: Ảnh trong chứng minh nhân dân không có dấu giáp lai nổi, ảnh bị dán vào không trùng khớp với ô vuông trên chứng minh nhân dân. Do đó, công chứng viên đã lăn tay điểm chỉ và qua đối chiếu dấu vân tay của người yêu cầu công chứng trên hợp đồng thế chấp và dấu vân tay trên chứng minh nhân dân của bà A thì không trùng khớp. Tuy nhiên, người yêu cầu công chứng không thừa nhận hành vi giả mạo, cứ khẳng định mình là bà A và đã bỏ về. Sau đó, công chứng viên ngừng thực hiện giao dịch hồ sơ và tiến hành lập biên bản tạm thu giữ các giấy tờ của bà A, gửi Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Gia Lai để yêu cầu giám định. Hôm sau, bà A (chủ thể thật) mới lên Phòng Công chứng và thừa nhận hành vi là nhờ người cùng làng, giả đi công chứng để vay tiền.

Gia Lai là địa phương có nhiều dân tộc thiểu số (Jrai, Bahnar…) cùng sinh sống, các đối tượng đã lợi dụng sự thiếu hiểu biết và hoàn cảnh khó khăn của bà con người dân tộc thiểu số để lừa đảo. Điều đáng nói ở đây là, các đối tượng sẽ không trực tiếp giả mạo chủ thể là người yêu cầu công chứng mà sẽ thông đồng, móc nối với người làm chứng để làm chứng sai sự thật. Người làm chứng mà đối tượng giả mạo lợi dụng là người có uy tín trong làng, sau mỗi lần làm chứng vậy sẽ được chia một khoản tiền; đa số các vụ lừa đảo là người không biết chữ, chỉ biết lăn tay, đối tượng dẫn lên văn phòng công chứng ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng nói dối là làm thủ tục vay vốn ngân hàng.

Thời gian vừa qua, trên địa bàn tỉnh Gia Lai, các thủ đoạn của các đối tượng lừa đảo, giả mạo càng tinh vi, xảo quyệt và khó phát hiện hơn. Các đối tượng giả mạo thường xuất hiện vào lúc các tổ chức hành nghề công chứng đông khách nhất hay những lúc gần trưa, xế chiều để có thể lợi dụng sự đông khách mà công chứng viên không kiểm tra kỹ càng; hay một số đối tượng giả mạo thường sau khi ký xong, lấy lý do đi rút tiền hay có việc về trước, tránh tiếp xúc với công chứng viên. Thủ đoạn mà các đối tượng lừa đảo thường dùng đó là thay đổi ảnh của người có tên trong chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu. Điều đáng nói hơn, có một số đối tượng lừa đảo mạo danh chủ thể sử dụng thủ đoạn giả mạo rất tinh vi và hiện đại như gỡ ảnh của người có tên trên chứng minh nhân dân và dán ảnh của người giả mạo vào, không những thế, chúng còn lột một nửa phần sau của chứng minh nhân dân có dấu vân tay và thay thế dấu vân tay của mình vào. Sau đó, các đối tượng lừa đảo sẽ đi ép dẻo lại chứng minh nhân dân để chứng minh nhân dân nhìn như mới và không bị bong tróc. Với cách làm như trên, cho dù công chứng viên có lăn tay, điểm chỉ thì dấu vân tay vẫn là của người mạo danh và ảnh cũng là người giả.

Ngoài ra, các đối tượng còn lợi dụng sự sơ hở, thiếu quản lý và lỏng lẻo trong hoạt động công chứng để thực hiện hành vi lừa đảo, giả mạo của mình; tại một số tổ chức hành nghề công chứng, nhất là một số các văn phòng công chứng, trình tự, thủ tục chưa thực hiện đúng theo quy định của pháp luật về công chứng, ví dụ, theo quy định của pháp luật, công chứng viên chỉ được công chứng ngoài trụ sở trong một số trường hợp luật định như “...người già yếu, không thể đi lại được, người đang bị tạm giữ, tạm giam, đang thi hành án phạt tù hoặc có lý do chính đáng khác không thể đến trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng” (khoản 2 Điều 44 Luật Công chứng năm 2014). Tuy nhiên, “lý do chính đáng” ở đây là gì thì luật chưa quy định cụ thể, rõ ràng nên trên thực tế, việc công chứng ngoài trụ sở là phổ biến, có tổ chức hành nghề công chứng còn quảng cáo phục vụ mọi lúc, mọi nơi, sẵn sàng cho nhân viên của mình đi lấy chữ ký ngoài trụ sở. Điều đáng lo ngại nhất là về vấn đề an toàn pháp lý khi để nhân viên đi lấy chữ ký, bởi vì việc xác định nhân thân của người yêu cầu công chứng, nhận dạng người thật và người trên giấy tờ tùy thân, lăn tay điểm chỉ, so sánh dấu vân tay để xác định đúng chủ thể là rất khó, chưa kể xác định năng lực hành vi của người yêu cầu công chứng và xác định giấy tờ giả mạo.

Cũng theo quy định tại khoản 3 Điều 40 Luật Công chứng năm 2014, công chứng viên là người trực tiếp tiếp nhận hồ sơ yêu cầu công chứng sau khi kiểm tra đầy đủ giấy tờ. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều công chứng viên không trực tiếp tiếp nhận hồ sơ yêu cầu công chứng mà giao cho chuyên viên, nhân viên hợp đồng tiếp nhận hồ sơ và trực tiếp làm hồ sơ, người yêu cầu công chứng không ký trước mặt công chứng viên mà giao cho chuyên viên, nhân viên hợp đồng lấy chữ ký, làm trọn vẹn bộ hồ sơ; khi chuyên viên, nhân viên lấy chữ ký thường chỉ nhìn các giấy tờ tùy thân mà ít trao đổi, tiếp xúc với khách hàng; sau khi hoàn tất hồ sơ, chuyên viên mới mang vào phòng riêng cho công chứng viên ký. Trường hợp nào công chứng viên thấy giấy tờ tùy thân cũ kỹ, hết hạn hoặc có nghi ngờ mới yêu cầu người yêu cầu công chứng lăn tay, điểm chỉ. Tuy nhiên, với số lượng hồ sơ và khách hàng đến công chứng ngày một nhiều, không phải lúc nào công chứng viên cũng yêu cầu điểm chỉ hết được.

Ngày 17/5/2019, Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai đã có Công văn số 1041/UBND-NC chỉ đạo Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp với Hội Công chứng viên của tỉnh, các cơ quan, đơn vị có liên quan hoàn thành việc xây dựng cơ sở dữ liệu công chứng trên địa bàn tỉnh và tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành quy chế khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu công chứng nhằm đảm bảo an toàn pháp lý, hạn chế rủi ro cho việc công chứng các hợp đồng giao dịch, phòng ngừa tranh chấp, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức khi thực hiện hoạt động công chứng, đặc biệt là góp phần hạn chế tình trạng giả mạo, mạo danh chủ thể để thực hiện các giao dịch.

Từ thực trạng giả mạo, mạo danh chủ thể trong hoạt động công chứng trên địa bàn tỉnh Gia Lai, để hạn chế các rủi ro trong quá trình thực hiện giao dịch, tác giả đề xuất một số giải pháp sau đây:

Thứ nhất, tăng cường tuyên truyền, phổ biến sâu rộng cho người dân, tổ chức biết được các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, xử lý hình sự về giả mạo giấy tờ, chủ thể, thông tin về các thủ đoạn giả mạo, mạo danh; nâng cao ý thức cảnh giác, tinh thần phát giác và tố giác các vi phạm. Đối với các trường hợp ủy quyền, mua bán, chuyển nhượng tài sản là bất động sản hoặc động sản phải đăng ký, công chứng viên cần giải thích quyền và nghĩa vụ, hậu quả pháp lý; khi công chứng, cần hỏi rõ các bên đã xem xét kỹ tài sản cần mua hay chưa, đã nhận tiền cọc chưa hoặc đã hỏi các hộ gia đình lân cận, tổ dân phố xem tài sản có tranh chấp gì không chưa... Qua đó, nâng cao mức độ tin cậy của giao dịch; các bên đã xem xét kỹ nội dung, trước khi lên công chứng, đã biết, xác định được đúng chủ thể có thật không, từ đó, tránh được tình trạng giả mạo chủ thể.

Thứ hai, đẩy nhanh tốc độ, cách thức, giải pháp, xây dựng quy chế khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu công chứng để nâng cao hiệu quả việc quản lý, khai thác, sử dụng, cung cấp và cập nhật dữ liệu thông tin công chứng được kịp thời. Một khi đã phát hiện được chủ thể giả mạo thì đưa lên hệ thống cơ sở dữ liệu để các tổ chức hành nghề công chứng ở địa phương biết được đối tượng, ngăn chặn, tránh tình trạng đối tượng không giả mạo chủ thể được ở tổ chức hành nghề công chứng này thì đi đến tổ chức hành nghề công chứng khác để tiếp tục hành vi giả mạo. Các tổ chức hành nghề công chứng nên cập nhật thêm thiết bị công nghệ thông tin như máy soi, kính lúp để có thể nhận dạng được chính xác dấu vân tay có đúng là chủ thể trên giấy tờ tùy thân.

Thứ ba, xây dựng, thực hiện thường xuyên quy chế phối hợp trong việc đấu tranh, giả mạo chủ thể như phối hợp trình báo, tố giác, cung cấp thông tin giữa cơ quan công an và tổ chức hành nghề công chứng. Khi phát hiện trường hợp giả mạo, cơ quan công an nên có sự hỗ trợ, có biện pháp răn đe để các đối tượng sợ không dám tái phạm; việc xử lý hình sự và phạt vi phạm hành chính cần phải nghiêm khác hơn. Phòng Kỹ thuật hình sự thuộc công an tại địa phương cũng nên tổ chức các buổi tập huấn cho các công chứng viên để có thể nhận biết, có thêm kiến thức về hành vi giả mạo, nhất là các đặc điểm nhận dạng một người.

Thứ tư, đối với công chứng viên, cần được thường xuyên tham gia các buổi tập huấn, nâng cao kỹ năng phân biệt thật, giả. Công chứng viên cần kiểm tra kỹ càng hồ sơ, giấy tờ, nếu nghi ngờ có thể lăn tay, điểm chỉ vì khoản 3 Điều 48 Luật Công chứng năm 2014 cho phép công chứng viên điểm chỉ khi “thấy cần thiết bảo vệ quyền lợi người yêu cầu công chứng”; ngoài điểm chỉ ra, công chứng viên phải trao đổi, tiếp xúc với người yêu cầu công chứng và đưa ra những câu hỏi bất ngờ để nếu là chủ thể giả mạo sẽ trả lời lúng túng hoặc không đúng sự thật, trường hợp cần thiết, có thể đi xác minh, giám định hoặc từ chối yêu cầu công chứng.

Hoàng Minh Khởi

Phòng Công chứng số 1 tỉnh Gia Lai

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: