Thứ năm 27/08/2026 01:56
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tiền mã hóa và những vấn đề đặt ra với hoạt động quản lý nhà nước của lực lượng an ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao

Tiền mã hóa và những vấn đề đặt ra với hoạt động quản lý nhà nước của lực lượng an ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao

Tóm tắt: Bài viết đưa ra quan điểm về tiền ảo, tiền điện tử, tiền mã hóa và đánh giá những tác động của nó đối với an ninh trên không gian mạng, an ninh tài chính tiền tệ, thách thức đối với các cơ quan quản lý nhà nước trong việc xây dựng, ban hành chính sách để quản lý hiệu quả đối với lĩnh vực này ở Việt Nam.

Abstract: The article gives a view on virtual currency, electronic currency, and cryptocurrency and assesses its impacts on cybersecurity, financial and monetary security, and challenges for state management agencies in formulating and promulgating policies to effectively manage this field in Vietnam.

1. Quan niệm về tiền ảo, tiền điện tử, tiền mã hóa, tiền kỹ thuật số

Hiện nay, thuật ngữ tiền ảo (virtual currency), tiền điện tử (electronic currency), tiền kỹ thuật số (digital currency), tiền mã hóa (crypto currency) thường được sử dụng tại Việt Nam. Trên thực tế, có quan điểm cho rằng, các thuật ngữ này là một hoặc sử dụng thuật ngữ chưa thống nhất trong một số trường hợp. Tuy nhiên, căn cứ vào quy định của một số tổ chức như Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB - European Central Bank), Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS - Bank for International Settlements), thì các loại tiền nêu trên có thể được hiểu khái quát như sau:

- Tiền ảo là một loại tiền kỹ thuật số, được phát hành bởi những người phát triển phần mềm thường đồng thời là người kiểm soát hệ thống; được sử dụng và chấp nhận thanh toán giữa các thành viên của một cộng đồng ảo nhất định. Ví dụ: Tiền ảo trong các trò chơi điện tử, các ứng dụng cho phép lưu trữ một loại tiền chỉ để sử dụng trong ứng dụng đó.

- Tiền điện tử là giá trị tiền tệ lưu trữ trên các phương tiện điện tử được trả trước bởi khách hàng cho ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán để thực hiện giao dịch thanh toán và được bảo đảm giá trị tương ứng tại ngân hàng, tiền điện tử phổ biến hiện nay là thẻ trả trước, ví điện tử, tiền di động.

- Tiền mã hóa hay tiền kỹ thuật số được tạo ra bởi các thuật toán mã hóa phức tạp dựa trên công nghệ chuỗi khối (blockchain), được giao dịch, trao đổi hoàn toàn trên môi trường internet và hiện nay chưa chịu sự quản lý của bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào (trừ khi được ngân hàng trung ương trực tiếp phát hành). Ví dụ điển hình của tiền mã hóa là Bitcoin, Ethereum, USDT, DogeCoin, Binance Coin... Những đồng tiền này hiện đang được mua bán, trao đổi trong một bộ phận người dùng tại Việt Nam.

Qua sự phân tích và khảo sát thực tế hoạt động giao dịch của các đồng tiền trên tại Việt Nam, có thể thấy rằng, hiện nay, chỉ duy nhất tiền điện tử là đồng tiền hợp pháp, chịu sự quản lý của nhà nước và khách hàng được bảo vệ bởi pháp luật. Bên cạnh đó, đồng tiền được người dùng đầu tư, giao dịch rất sôi động thời gian vừa qua trên các sàn quốc tế (Binance, Exness, FTX, Remitano...) là tiền mã hóa (Bitcoin, Ethereum, USDT...). Hiện nay, tiền mã hóa không chịu sự quản lý của Nhà nước, không được bảo hộ và do đó có thể phát sinh những yếu tố ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự trong nước nếu như không có những biện pháp quản lý nhà nước căn cơ, hiệu quả và phù hợp với xu thế quốc tế.

2. Khó khăn, vướng mắc trong hoạt động quản lý nhà nước đối với tiền mã hóa

Theo khảo sát của trang công nghệ Statista (statista.com) cho thấy, Việt Nam đứng thứ hai ở mức độ phổ biến của tiền mã hóa, hay theo thống kê của Chainalysis (chainalysis.com), Việt Nam đứng thứ 13 thế giới về mức độ kiếm lời liên quan đến Bitcoin và đứng thứ 04 về lợi nhuận thu được từ tiền mã hóa, chỉ sau Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc. Con số nêu trên phản ánh tương lai tiền mã hóa vẫn sẽ tiếp tục phát triển mạnh tại Việt Nam vì đặc tính mã hóa chuỗi khối, tính chất phi tập trung của tiền mã hóa, giao dịch thuận tiện và độ an toàn bảo mật cao nên sẽ ngày càng kích thích người tiêu dùng đầu tư mặc dù lực lượng Công an nhân dân, Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan chức năng đều đã đưa ra những cảnh báo về nguy cơ, rủi ro khi giao dịch loại tiền này. Điều này dẫn đến những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động quản lý nhà nước của các cơ quan có thẩm quyền, trong đó có lực lượng Công an nhân dân, thể hiện ở các điểm sau đây:

Một là, do chưa có khung pháp lý để điều chỉnh các hoạt động của tiền mã hóa, nên gây khó khăn trong hoạt động quản lý tài chính, đặc biệt là vấn đề quản lý ngoại hối, bởi tiền mã hóa cho phép người sử dụng giao dịch không qua một trung gian tài chính, không có biên giới quốc gia. Do vậy, dòng vốn có thể đến bất cứ đâu với số lượng bất kỳ mà không chịu sự quản lý của Nhà nước.

Hai là, các tranh chấp phát sinh liên quan đến tiền mã hóa rất khó xử lý khi nó chưa được coi là một loại tài sản theo luật định. Ví dụ, khi chưa coi tiền mã hóa là một tài sản sẽ rất khó khăn để chứng minh hành vi của tội cướp tài sản, đồng thời do giá trị của các đồng tiền mã hóa thay đổi liên tục nên để xác định giá trị quy đổi ra tiền pháp định để định khung hình phạt cũng là một trở ngại lớn đối với cơ quan điều tra, truy tố, xét xử bởi chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào coi tiền mã hóa là một loại tài sản. Một ví dụ khác, nếu hành vi xâm nhập trái phép vào ví tiền để đánh cắp một số lượng tiền mã hóa thì bản chất là hành vi trộm cắp tài sản (theo Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017) với khung hình phạt cao nhất là 20 năm tù nhưng khi chưa coi tiền mã hóa là tài sản thì chỉ có thể chứng minh đây là hành vi xâm nhập trái phép được quy định tại Điều 289 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 với khung hình phạt cao nhất chỉ là 12 năm.

Ba là, lợi dụng sự phát triển mạnh mẽ của các loại tiền mã hóa, nhiều đối tượng trong nước câu kết với nhau để quảng bá các loại tiền ảo, tiền mã hóa tự xây dựng, thiết kế với ưu điểm “dễ chơi, vốn ít, thắng lớn” để đánh trúng tâm lý ham lợi nhuận cao, đặc biệt là lợi dụng tình hình kinh tế - xã hội gặp nhiều khó khăn sau đại dịch Covid-19. Thực chất, đây là các sàn tiền ảo, tiền mã hóa chưa được pháp luật công nhận, tiềm ẩn nhiều nguy cơ rủi ro về an toàn bảo mật, an toàn giao dịch, thanh toán và thậm chí các đối tượng có thể can thiệp kỹ thuật để lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Bốn là, trên thực tế đã xuất hiện hành vi mua bán các loại hàng cấm, rửa tiền, tài trợ khủng bố bằng tiền mã hóa bởi đặc tính phi biên giới, mã hóa đầu cuối, qua các nấc trung gian cũng được mã hóa, do đó, việc truy nguyên dấu vết nếu có hành vi vi phạm pháp luật là rất khó khăn và hầu như không thể tìm ra được chủ sở hữu của các ví nhận, gửi tiền mã hóa. Vì hiện nay chưa có công nghệ để giải mã được các chuỗi khối. Đây chính là đặc điểm cơ bản để các tổ chức tội phạm, người phạm tội lợi dụng để mua bán, giao dịch bằng tiền mã hóa gây khó khăn cho hoạt động điều tra khi có tội phạm xảy ra.

3. Thực trạng hoạt động xây dựng hệ thống pháp luật đối với tiền mã hóa và giải pháp pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với tiền mã hóa

3.1. Hoạt động xây dựng hệ thống pháp luật đối với tiền mã hóa

Trên thực tế, việc quản lý tiền ảo, tiền mã hóa, tài sản số có liên quan đến nhiều cơ quan quản lý nhà nước. Ngày 21/8/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1255/QĐ-TTg phê duyệt Đề án hoàn thiện khung pháp lý để quản lý, xử lý đối với các loại tài sản ảo, tiền điện tử, tiền ảo (Quyết định số 1255/QĐ-TTg). Theo Quyết định này, lực lượng Công an nhân dân vừa đóng vai trò chủ công, nòng cốt trong nghiên cứu, đề xuất biện pháp phòng, chống, xử lý các vi phạm hình sự liên quan đến tiền ảo, đồng thời phối hợp với các cơ quan khác nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung, ban hành nhiều nội dung liên quan. Tuy nhiên, đến nay, việc nghiên cứu, xây dựng, sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật còn gặp những khó khăn, vướng mắc sau đây:

Một là, tốc độ phát triển của tiền ảo, tiền mã hóa rất nhanh, phạm vi ảnh hưởng rộng lớn đến nhiều lĩnh vực; sự phức tạp của các loại tài sản mã hóa, tiền mã hóa đến từ yếu tố kỹ thuật là thách thức không nhỏ trong hoạt động nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam.

Hai là, việc thiếu quy định liên quan đến tài sản ảo, tiền ảo, trong đó, một số quy định đã có nhưng chưa rõ ràng dẫn đến nhận thức còn khác nhau nên việc nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung pháp luật phòng, chống rửa tiền liên quan đến tiền ảo gặp khó khăn khi quy định các nhà cung cấp dịch vụ tài sản ảo, tiền ảo là đối tượng báo cáo theo pháp luật phòng, chống rửa tiền; việc xác định cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền thực hiện hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát, quản lý các nhà cung cấp dịch vụ tiền ảo cũng còn gặp những khó khăn, bất cập; khi chưa có văn bản quy phạm pháp luật về tiền ảo thì lực lượng Công an nhân dân cũng chưa có cơ sở để đề xuất các biện pháp phòng, chống, xử lý các vi phạm liên quan đến tài sản ảo, tiền ảo, đó là các hoạt động phòng, chống, xử lý các vi phạm hình sự về gian lận, rửa tiền, tài trợ khủng bố và các tội phạm khác liên quan đến tài sản ảo, tiền ảo.

Ba là, lĩnh vực tài sản ảo, tiền ảo cũng tương tự như các dịch vụ khác trên internet với đặc tính toàn cầu hóa, các quốc gia cũng đang tiến hành hoàn thiện khung pháp lý tương tự như Việt Nam bởi tính phức tạp, không biên giới của tài sản ảo, tiền ảo. Do đó, cần nghiên cứu kỹ lưỡng khi ban hành văn bản pháp luật về lĩnh vực này.

Bốn là, nguồn nhân lực và năng lực của đội ngũ cán bộ chuyên sâu trong lĩnh vực tài sản ảo, tiền ảo ở Việt Nam còn thiếu là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến hoạt động xây dựng cơ sở pháp lý quản lý hiệu quả lĩnh vực tiền điện tử, tiền ảo, tài sản ảo ở Việt Nam.

Năm là, mối quan hệ hợp tác giữa các cơ quan quản lý nhà nước còn chưa thực sự hiệu quả, các kết quả đạt được còn khiêm tốn so với kỳ vọng sớm hoàn thiện khung pháp lý đối với lĩnh vực này.

3.2. Giải pháp pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với tiền mã hóa

Để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với tiền mã hóa, theo tác giả, trong thời gian tới, cần triển khai thực hiện một số giải pháp cơ bản sau đây:

Thứ nhất, xây dựng hệ thống pháp luật liên quan đến lĩnh vực tiền điện tử, tiền ảo, tiền mã hóa. Với chức năng tham mưu, lực lượng an ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao cần chủ động tham mưu xây dựng và hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự, cụ thể: Bổ sung quy định về tội phạm liên quan đến tiền điện tử, tiền ảo, tiền mã hóa, tài sản số nhằm hoàn thiện khung pháp lý khi giải quyết các tranh chấp các phát sinh liên quan đến lĩnh vực này (lừa đảo, trộm cắp, xâm nhập trái phép các ví tiền…) cũng như rà soát, nghiên cứu, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan đến lĩnh vực này như: Bộ luật Dân sự, Luật Đầu tư, Luật Giao dịch điện tử, Luật Công nghệ thông tin… tạo hành lang pháp lý quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với tiền điện tử, tiền mã hóa, tài sản số. Trong quy định của pháp luật cần đưa ra các khái niệm về tiền ảo, tiền mã hóa thực sự rõ ràng, dễ hiểu, tránh gây nhầm lẫn.

Thứ hai, thí điểm các biện pháp quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền mã hóa. Với những ưu điểm về mặt công nghệ và sự phát triển của các loại tiền mã hóa trong giai đoạn hiện nay, không thể xác định hoạt động quản lý nhà nước mang lại hiệu quả là cấm tuyệt đối, tác giả cho rằng, cần phải thí điểm các biện pháp trong hoạt động quản lý nhà nước về tiền điện tử, tiền mã hóa, tài sản số, cụ thể như:

- Quản lý các tài khoản tiền mã hóa đang thực hiện giao dịch tại Việt Nam. Với chức năng quản lý nhà nước và phòng, chống tội phạm của lực lượng an ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao cần tham mưu để xây dựng các biện pháp quản lý các giao dịch liên quan đến tiền ảo, đặc biệt là quản lý được sự liên kết giữa các ví tiền với tài khoản ngân hàng của người sử dụng, việc mua bán, trao đổi phải minh bạch, việc chuyển đổi từ tiền mã hóa sang tiền mặt và ngược lại, nghiên cứu về vấn đề thu thuế đối với các chủ tài khoản.

- Tham mưu xây dựng các sàn giao dịch tiền mã hóa trên công nghệ chuỗi khối do Chính phủ quản lý tập trung để thử nghiệm mô hình này. Tất nhiên, để xây dựng các sàn giao dịch tiền mã hóa đòi hỏi nguồn nhân lực và trang bị công nghệ kỹ thuật cao trong việc xây dựng mô hình. Mặt khác, cần khuyến khích các doanh nghiệp công nghệ đầu tư vào xây dựng mô hình chuỗi khối, thông qua các sàn này để huy động vốn.

Thứ ba, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ công tác trong lực lượng an ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao. Điều này đòi hỏi mỗi cán bộ, chiến sỹ phải nâng cao khả năng tự học hỏi, tự nghiên cứu bằng đam mê đối với nghề nghiệp kết hợp với các chương trình đào tạo, tập huấn thông qua chương trình liên kết đào tạo với cơ quan an ninh, cảnh sát các nước và tổ chức an ninh mạng. Trong quá trình nghiên cứu, xây dựng, sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực này cần kết hợp tốt giữa cán bộ có trình độ hiểu biết về công nghệ chuỗi khối với các cán bộ am hiểu về pháp luật, nghiệp vụ của lực lượng Công an nhân dân.

Thứ tư, nâng cao hiệu quả mối quan hệ phối hợp giữa lực lượng an ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao với các lực lượng khác trong hoạt động quản lý nhà nước thông qua việc tổ chức các buổi hội thảo, tọa đàm chuyên đề theo phạm vi, trách nhiệm được phân công, phân cấp nhằm nắm bắt, cập nhật xu hướng của các loại tiền mã hóa, kinh nghiệm của nước khác trong xây dựng pháp luật về tiền ảo, tiền mã hóa. Quá trình xây dựng khung pháp luật tại Việt Nam có sự tham gia của nhiều chủ thể, do đó, cần tăng cường hơn nữa việc trao đổi, thảo luận giữa các bộ, ban, ngành liên quan như: Bộ Tư pháp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Công Thương, Bộ Khoa học và Công nghệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao và các bộ, ngành khác có liên quan để sớm hoàn thiện khung pháp lý theo Quyết định số 1255/QĐ-TTg.

Đinh Thành An

Học viện Cảnh sát nhân dân

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 377), tháng 3/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: