Thứ năm 12/03/2026 16:09
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tiền mã hóa và những vấn đề đặt ra với hoạt động quản lý nhà nước của lực lượng an ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao

Tiền mã hóa và những vấn đề đặt ra với hoạt động quản lý nhà nước của lực lượng an ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao

Tóm tắt: Bài viết đưa ra quan điểm về tiền ảo, tiền điện tử, tiền mã hóa và đánh giá những tác động của nó đối với an ninh trên không gian mạng, an ninh tài chính tiền tệ, thách thức đối với các cơ quan quản lý nhà nước trong việc xây dựng, ban hành chính sách để quản lý hiệu quả đối với lĩnh vực này ở Việt Nam.

Abstract: The article gives a view on virtual currency, electronic currency, and cryptocurrency and assesses its impacts on cybersecurity, financial and monetary security, and challenges for state management agencies in formulating and promulgating policies to effectively manage this field in Vietnam.

1. Quan niệm về tiền ảo, tiền điện tử, tiền mã hóa, tiền kỹ thuật số

Hiện nay, thuật ngữ tiền ảo (virtual currency), tiền điện tử (electronic currency), tiền kỹ thuật số (digital currency), tiền mã hóa (crypto currency) thường được sử dụng tại Việt Nam. Trên thực tế, có quan điểm cho rằng, các thuật ngữ này là một hoặc sử dụng thuật ngữ chưa thống nhất trong một số trường hợp. Tuy nhiên, căn cứ vào quy định của một số tổ chức như Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB - European Central Bank), Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS - Bank for International Settlements), thì các loại tiền nêu trên có thể được hiểu khái quát như sau:

- Tiền ảo là một loại tiền kỹ thuật số, được phát hành bởi những người phát triển phần mềm thường đồng thời là người kiểm soát hệ thống; được sử dụng và chấp nhận thanh toán giữa các thành viên của một cộng đồng ảo nhất định. Ví dụ: Tiền ảo trong các trò chơi điện tử, các ứng dụng cho phép lưu trữ một loại tiền chỉ để sử dụng trong ứng dụng đó.

- Tiền điện tử là giá trị tiền tệ lưu trữ trên các phương tiện điện tử được trả trước bởi khách hàng cho ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán để thực hiện giao dịch thanh toán và được bảo đảm giá trị tương ứng tại ngân hàng, tiền điện tử phổ biến hiện nay là thẻ trả trước, ví điện tử, tiền di động.

- Tiền mã hóa hay tiền kỹ thuật số được tạo ra bởi các thuật toán mã hóa phức tạp dựa trên công nghệ chuỗi khối (blockchain), được giao dịch, trao đổi hoàn toàn trên môi trường internet và hiện nay chưa chịu sự quản lý của bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào (trừ khi được ngân hàng trung ương trực tiếp phát hành). Ví dụ điển hình của tiền mã hóa là Bitcoin, Ethereum, USDT, DogeCoin, Binance Coin... Những đồng tiền này hiện đang được mua bán, trao đổi trong một bộ phận người dùng tại Việt Nam.

Qua sự phân tích và khảo sát thực tế hoạt động giao dịch của các đồng tiền trên tại Việt Nam, có thể thấy rằng, hiện nay, chỉ duy nhất tiền điện tử là đồng tiền hợp pháp, chịu sự quản lý của nhà nước và khách hàng được bảo vệ bởi pháp luật. Bên cạnh đó, đồng tiền được người dùng đầu tư, giao dịch rất sôi động thời gian vừa qua trên các sàn quốc tế (Binance, Exness, FTX, Remitano...) là tiền mã hóa (Bitcoin, Ethereum, USDT...). Hiện nay, tiền mã hóa không chịu sự quản lý của Nhà nước, không được bảo hộ và do đó có thể phát sinh những yếu tố ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự trong nước nếu như không có những biện pháp quản lý nhà nước căn cơ, hiệu quả và phù hợp với xu thế quốc tế.

2. Khó khăn, vướng mắc trong hoạt động quản lý nhà nước đối với tiền mã hóa

Theo khảo sát của trang công nghệ Statista (statista.com) cho thấy, Việt Nam đứng thứ hai ở mức độ phổ biến của tiền mã hóa, hay theo thống kê của Chainalysis (chainalysis.com), Việt Nam đứng thứ 13 thế giới về mức độ kiếm lời liên quan đến Bitcoin và đứng thứ 04 về lợi nhuận thu được từ tiền mã hóa, chỉ sau Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc. Con số nêu trên phản ánh tương lai tiền mã hóa vẫn sẽ tiếp tục phát triển mạnh tại Việt Nam vì đặc tính mã hóa chuỗi khối, tính chất phi tập trung của tiền mã hóa, giao dịch thuận tiện và độ an toàn bảo mật cao nên sẽ ngày càng kích thích người tiêu dùng đầu tư mặc dù lực lượng Công an nhân dân, Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan chức năng đều đã đưa ra những cảnh báo về nguy cơ, rủi ro khi giao dịch loại tiền này. Điều này dẫn đến những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động quản lý nhà nước của các cơ quan có thẩm quyền, trong đó có lực lượng Công an nhân dân, thể hiện ở các điểm sau đây:

Một là, do chưa có khung pháp lý để điều chỉnh các hoạt động của tiền mã hóa, nên gây khó khăn trong hoạt động quản lý tài chính, đặc biệt là vấn đề quản lý ngoại hối, bởi tiền mã hóa cho phép người sử dụng giao dịch không qua một trung gian tài chính, không có biên giới quốc gia. Do vậy, dòng vốn có thể đến bất cứ đâu với số lượng bất kỳ mà không chịu sự quản lý của Nhà nước.

Hai là, các tranh chấp phát sinh liên quan đến tiền mã hóa rất khó xử lý khi nó chưa được coi là một loại tài sản theo luật định. Ví dụ, khi chưa coi tiền mã hóa là một tài sản sẽ rất khó khăn để chứng minh hành vi của tội cướp tài sản, đồng thời do giá trị của các đồng tiền mã hóa thay đổi liên tục nên để xác định giá trị quy đổi ra tiền pháp định để định khung hình phạt cũng là một trở ngại lớn đối với cơ quan điều tra, truy tố, xét xử bởi chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào coi tiền mã hóa là một loại tài sản. Một ví dụ khác, nếu hành vi xâm nhập trái phép vào ví tiền để đánh cắp một số lượng tiền mã hóa thì bản chất là hành vi trộm cắp tài sản (theo Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017) với khung hình phạt cao nhất là 20 năm tù nhưng khi chưa coi tiền mã hóa là tài sản thì chỉ có thể chứng minh đây là hành vi xâm nhập trái phép được quy định tại Điều 289 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 với khung hình phạt cao nhất chỉ là 12 năm.

Ba là, lợi dụng sự phát triển mạnh mẽ của các loại tiền mã hóa, nhiều đối tượng trong nước câu kết với nhau để quảng bá các loại tiền ảo, tiền mã hóa tự xây dựng, thiết kế với ưu điểm “dễ chơi, vốn ít, thắng lớn” để đánh trúng tâm lý ham lợi nhuận cao, đặc biệt là lợi dụng tình hình kinh tế - xã hội gặp nhiều khó khăn sau đại dịch Covid-19. Thực chất, đây là các sàn tiền ảo, tiền mã hóa chưa được pháp luật công nhận, tiềm ẩn nhiều nguy cơ rủi ro về an toàn bảo mật, an toàn giao dịch, thanh toán và thậm chí các đối tượng có thể can thiệp kỹ thuật để lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Bốn là, trên thực tế đã xuất hiện hành vi mua bán các loại hàng cấm, rửa tiền, tài trợ khủng bố bằng tiền mã hóa bởi đặc tính phi biên giới, mã hóa đầu cuối, qua các nấc trung gian cũng được mã hóa, do đó, việc truy nguyên dấu vết nếu có hành vi vi phạm pháp luật là rất khó khăn và hầu như không thể tìm ra được chủ sở hữu của các ví nhận, gửi tiền mã hóa. Vì hiện nay chưa có công nghệ để giải mã được các chuỗi khối. Đây chính là đặc điểm cơ bản để các tổ chức tội phạm, người phạm tội lợi dụng để mua bán, giao dịch bằng tiền mã hóa gây khó khăn cho hoạt động điều tra khi có tội phạm xảy ra.

3. Thực trạng hoạt động xây dựng hệ thống pháp luật đối với tiền mã hóa và giải pháp pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với tiền mã hóa

3.1. Hoạt động xây dựng hệ thống pháp luật đối với tiền mã hóa

Trên thực tế, việc quản lý tiền ảo, tiền mã hóa, tài sản số có liên quan đến nhiều cơ quan quản lý nhà nước. Ngày 21/8/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1255/QĐ-TTg phê duyệt Đề án hoàn thiện khung pháp lý để quản lý, xử lý đối với các loại tài sản ảo, tiền điện tử, tiền ảo (Quyết định số 1255/QĐ-TTg). Theo Quyết định này, lực lượng Công an nhân dân vừa đóng vai trò chủ công, nòng cốt trong nghiên cứu, đề xuất biện pháp phòng, chống, xử lý các vi phạm hình sự liên quan đến tiền ảo, đồng thời phối hợp với các cơ quan khác nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung, ban hành nhiều nội dung liên quan. Tuy nhiên, đến nay, việc nghiên cứu, xây dựng, sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật còn gặp những khó khăn, vướng mắc sau đây:

Một là, tốc độ phát triển của tiền ảo, tiền mã hóa rất nhanh, phạm vi ảnh hưởng rộng lớn đến nhiều lĩnh vực; sự phức tạp của các loại tài sản mã hóa, tiền mã hóa đến từ yếu tố kỹ thuật là thách thức không nhỏ trong hoạt động nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam.

Hai là, việc thiếu quy định liên quan đến tài sản ảo, tiền ảo, trong đó, một số quy định đã có nhưng chưa rõ ràng dẫn đến nhận thức còn khác nhau nên việc nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung pháp luật phòng, chống rửa tiền liên quan đến tiền ảo gặp khó khăn khi quy định các nhà cung cấp dịch vụ tài sản ảo, tiền ảo là đối tượng báo cáo theo pháp luật phòng, chống rửa tiền; việc xác định cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền thực hiện hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát, quản lý các nhà cung cấp dịch vụ tiền ảo cũng còn gặp những khó khăn, bất cập; khi chưa có văn bản quy phạm pháp luật về tiền ảo thì lực lượng Công an nhân dân cũng chưa có cơ sở để đề xuất các biện pháp phòng, chống, xử lý các vi phạm liên quan đến tài sản ảo, tiền ảo, đó là các hoạt động phòng, chống, xử lý các vi phạm hình sự về gian lận, rửa tiền, tài trợ khủng bố và các tội phạm khác liên quan đến tài sản ảo, tiền ảo.

Ba là, lĩnh vực tài sản ảo, tiền ảo cũng tương tự như các dịch vụ khác trên internet với đặc tính toàn cầu hóa, các quốc gia cũng đang tiến hành hoàn thiện khung pháp lý tương tự như Việt Nam bởi tính phức tạp, không biên giới của tài sản ảo, tiền ảo. Do đó, cần nghiên cứu kỹ lưỡng khi ban hành văn bản pháp luật về lĩnh vực này.

Bốn là, nguồn nhân lực và năng lực của đội ngũ cán bộ chuyên sâu trong lĩnh vực tài sản ảo, tiền ảo ở Việt Nam còn thiếu là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến hoạt động xây dựng cơ sở pháp lý quản lý hiệu quả lĩnh vực tiền điện tử, tiền ảo, tài sản ảo ở Việt Nam.

Năm là, mối quan hệ hợp tác giữa các cơ quan quản lý nhà nước còn chưa thực sự hiệu quả, các kết quả đạt được còn khiêm tốn so với kỳ vọng sớm hoàn thiện khung pháp lý đối với lĩnh vực này.

3.2. Giải pháp pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với tiền mã hóa

Để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với tiền mã hóa, theo tác giả, trong thời gian tới, cần triển khai thực hiện một số giải pháp cơ bản sau đây:

Thứ nhất, xây dựng hệ thống pháp luật liên quan đến lĩnh vực tiền điện tử, tiền ảo, tiền mã hóa. Với chức năng tham mưu, lực lượng an ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao cần chủ động tham mưu xây dựng và hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự, cụ thể: Bổ sung quy định về tội phạm liên quan đến tiền điện tử, tiền ảo, tiền mã hóa, tài sản số nhằm hoàn thiện khung pháp lý khi giải quyết các tranh chấp các phát sinh liên quan đến lĩnh vực này (lừa đảo, trộm cắp, xâm nhập trái phép các ví tiền…) cũng như rà soát, nghiên cứu, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan đến lĩnh vực này như: Bộ luật Dân sự, Luật Đầu tư, Luật Giao dịch điện tử, Luật Công nghệ thông tin… tạo hành lang pháp lý quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với tiền điện tử, tiền mã hóa, tài sản số. Trong quy định của pháp luật cần đưa ra các khái niệm về tiền ảo, tiền mã hóa thực sự rõ ràng, dễ hiểu, tránh gây nhầm lẫn.

Thứ hai, thí điểm các biện pháp quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền mã hóa. Với những ưu điểm về mặt công nghệ và sự phát triển của các loại tiền mã hóa trong giai đoạn hiện nay, không thể xác định hoạt động quản lý nhà nước mang lại hiệu quả là cấm tuyệt đối, tác giả cho rằng, cần phải thí điểm các biện pháp trong hoạt động quản lý nhà nước về tiền điện tử, tiền mã hóa, tài sản số, cụ thể như:

- Quản lý các tài khoản tiền mã hóa đang thực hiện giao dịch tại Việt Nam. Với chức năng quản lý nhà nước và phòng, chống tội phạm của lực lượng an ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao cần tham mưu để xây dựng các biện pháp quản lý các giao dịch liên quan đến tiền ảo, đặc biệt là quản lý được sự liên kết giữa các ví tiền với tài khoản ngân hàng của người sử dụng, việc mua bán, trao đổi phải minh bạch, việc chuyển đổi từ tiền mã hóa sang tiền mặt và ngược lại, nghiên cứu về vấn đề thu thuế đối với các chủ tài khoản.

- Tham mưu xây dựng các sàn giao dịch tiền mã hóa trên công nghệ chuỗi khối do Chính phủ quản lý tập trung để thử nghiệm mô hình này. Tất nhiên, để xây dựng các sàn giao dịch tiền mã hóa đòi hỏi nguồn nhân lực và trang bị công nghệ kỹ thuật cao trong việc xây dựng mô hình. Mặt khác, cần khuyến khích các doanh nghiệp công nghệ đầu tư vào xây dựng mô hình chuỗi khối, thông qua các sàn này để huy động vốn.

Thứ ba, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ công tác trong lực lượng an ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao. Điều này đòi hỏi mỗi cán bộ, chiến sỹ phải nâng cao khả năng tự học hỏi, tự nghiên cứu bằng đam mê đối với nghề nghiệp kết hợp với các chương trình đào tạo, tập huấn thông qua chương trình liên kết đào tạo với cơ quan an ninh, cảnh sát các nước và tổ chức an ninh mạng. Trong quá trình nghiên cứu, xây dựng, sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực này cần kết hợp tốt giữa cán bộ có trình độ hiểu biết về công nghệ chuỗi khối với các cán bộ am hiểu về pháp luật, nghiệp vụ của lực lượng Công an nhân dân.

Thứ tư, nâng cao hiệu quả mối quan hệ phối hợp giữa lực lượng an ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao với các lực lượng khác trong hoạt động quản lý nhà nước thông qua việc tổ chức các buổi hội thảo, tọa đàm chuyên đề theo phạm vi, trách nhiệm được phân công, phân cấp nhằm nắm bắt, cập nhật xu hướng của các loại tiền mã hóa, kinh nghiệm của nước khác trong xây dựng pháp luật về tiền ảo, tiền mã hóa. Quá trình xây dựng khung pháp luật tại Việt Nam có sự tham gia của nhiều chủ thể, do đó, cần tăng cường hơn nữa việc trao đổi, thảo luận giữa các bộ, ban, ngành liên quan như: Bộ Tư pháp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Công Thương, Bộ Khoa học và Công nghệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao và các bộ, ngành khác có liên quan để sớm hoàn thiện khung pháp lý theo Quyết định số 1255/QĐ-TTg.

Đinh Thành An

Học viện Cảnh sát nhân dân

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 377), tháng 3/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: