Thứ tư 14/01/2026 11:20
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tiêu chí đánh giá sự phân biệt của nhãn hiệu theo quy định của pháp luật Hoa Kỳ

Sự phân biệt là một trong những điều kiện quan trọng để một dấu hiệu được bảo hộ là nhãn hiệu. Hoa Kỳ là một nước có nhiều kinh nghiệm về lý thuyết và nền tảng pháp lý về bảo hộ nhãn hiệu, trong đó có nêu rõ những tiêu chí đánh giá thế nào là một dấu hiệu có sự phân biệt. Bài viết sẽ dựa trên việc phân tích quy định pháp luật Hoa Kỳ về nội dung này để đưa ra một số khuyến nghị cho việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong thời gian tới.

Sự phân biệt là một trong những điều kiện quan trọng để một dấu hiệu được bảo hộ là nhãn hiệu. Hoa Kỳ một nước có nhiều kinh nghiệm về lý thuyết và nền tảng pháp lý về bảo hộ nhãn hiệu, trong đó có nêu rõ những tiêu chí đánh giá thế nào là một dấu hiệu có sự phân biệt. Bài viết sẽ dựa trên việc phân tích quy định pháp luật Hoa Kỳ về nội dung này để đưa ra một số khuyến nghị cho việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong thời gian tới.

Theo cách hiểu chung nhất, nhãn hiệu là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các chủ thể kinh doanh khác nhau. Do đó, để được bảo hộ là nhãn hiệu thì dấu hiệu đó phải là đặc biệt, độc nhất trên thị trường hay ít ra trong một lĩnh vực kinh doanh hay khu vực kinh doanh, để khi khách hàng nhìn thấy nhãn hiệu đó có thể liên hệ, xác định được nguồn gốc sản xuất hoặc cung cấp hàng hoá, dịch vụ. Sự phân biệt của nhãn hiệu được chia thành: Sự phân biệt tự thân (inherently distinctive) và sự phân biệt thông qua quá trình sử dụng (second meaning). Khi được pháp luật bảo hộ là nhãn hiệu, thì chủ sở hữu sẽ được độc quyền sử dụng dấu hiệu trên hàng hoá, dịch vụ của mình trong thời gian vô hạn; tất cả các chủ thể khác sử dụng các dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu được bảo hộ này nếu không được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu thì sẽ bị coi là hành vi vi phạm. Chính vì vậy, pháp luật Hoa Kỳ đã quy định về các tiêu chí đánh giá tương đối hoàn chỉnh khi xem xét điều kiện về sự phân biệt của dấu hiệu, nhằm đảm bảo sự cân bằng lợi ích của các chủ thể trong nền kinh tế.

Các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về sự phân biệt của pháp luật bảo hộ nhãn hiệu chưa rõ ràng. Do đó, nội dung bài viết có thể coi là một tài liệu để các nhà làm luật tham khảo giúp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề này trong thời gian tới.

1. Phân loại dấu hiệu

Dấu hiệu có thể là từ ngữ, hình ảnh, đồ hoạ, màu sắc, hoặc sự kết hợp của các yếu tố này… Tuy nhiên, chỉ những dấu hiệu nào có sự phân biệt mới được pháp luật bảo hộ là nhãn hiệu.Theo tiêu chuẩn Abercrombie của Hoa Kỳ, dấu hiệu có thể chia thành các loại sau:

- Dấu hiệu mang tính chung chung (Generic Marks): Dấu hiệu mang tính chung chung là những dấu hiệu trình bày về chủng loại, bản chất cơ bản hoặc mục đích sử dụng của sản phẩm, dịch vụ. Dấu hiệu loại này không có tính phân biệt và sẽ không được chấp nhận để đăng ký bảo hộ là nhãn hiệu. Nếu cho một chủ thể duy nhất được sở hữu dấu hiệu chung như là một nhãn hiệu, thì sẽ ngăn cản các đối thủ cạnh tranh khác truyền đạt thông tin cơ bản về bản chất của hàng hoá, dịch vụ tới khách hàng. Ví dụ, từ “nước cam” không được sử dụng là nhãn hiệu cho sản phẩm nước cam đóng chai.

- Dấu hiệu mang tính mô tả (Descriptive Marks): Dấu hiệu mang tính mô tả sẽ truyền thông về sản phẩm bằng cách tăng cường, kết hợp hoặc củng cố về các thuộc tính hoặc chất lượng của hàng hoá, dịch vụ. Dấu hiệu này không thể phân biệt giữa các nguồn cung hàng hoá, dịch vụ và do đó không đủ điều kiện để bảo vệ là nhãn hiệu. Tuy nhiên, pháp luật của nhiều nước cho phép bảo hộ dấu hiệu mang tính mô tả nếu nó có được ý nghĩa thứ hai (secondary meaning). Nghĩa là dấu hiệu có được sự phân biệt thông qua quá trình sử dụng, người tiêu dùng có thể nhận biết, tự động liên kết với nguồn gốc sản phẩm. Ví dụ: Hãng kẹo Wrigley JR. Company (Hoa Kỳ) đã được Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam đồng ý bảo hộ nhãn hiệu “Doublemint” cho sản phẩm kẹo, kẹo cao su, sau khi Công ty này nộp hồ sơ bổ sung minh chứng nhãn hiệu này đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi tại Việt Nam trong nhiều năm qua.

- Dấu hiệu mang tính gợi ý (Suggestive Marks): Dấu hiệu mang tính gợi ý sẽ liên quan đến hoặc tạo ấn tượng về một đặc tính của hàng hoá, dịch vụ, nhưng thực tế không mô tả về chất lượng hoặc đặc điểm của sản phẩm, dịch vụ. Nó đòi hỏi trí tưởng tượng, nhận thức của người tiêu dùng để rút ra một kết luận về bản chất của hàng hoá, dịch vụ. Ví dụ, đăng ký hình ảnh “hươu cao cổ” là nhãn hiệu cho một sản phẩm sữa dành cho trẻ em. Trong một số trường hợp cụ thể, việc phân biệt giữa dấu hiệu gợi ý và dấu hiệu mô tả không phải dễ dàng mà người ta có thể dựa vào định nghĩa của từ điển, nhu cầu của đối thủ cạnh tranh...

- Dấu hiệu mang tính ngẫu nhiên hoặc tưởng tượng (Arbitrary or Fanciful Marks): Một dấu hiệu mang tính ngẫu nhiên hay tưởng tượng không có mối quan hệ rõ ràng giữa dấu hiệu nhận diện với các sản phẩm, dịch vụ. Ví dụ: Dấu hiệu hình quả táo và dòng máy tính của Apple. Dấu hiệu mang tính ngẫu nhiên hay tưởng tượng là thuật ngữ không có nghĩa, ngoài việc xác định nguồn gốc của sản phẩm.

2. Các tiêu chí đánh giá sự phân biệt của nhãn hiệu theo quy định của pháp luật Hoa Kỳ

2.1. Sự phân biệt tự thân của nhãn hiệu

- Khái niệm: Một dấu hiệu được xem là có sự phân biệt tự thân là ngay lập tức xác định được nhà sản xuất hoặc nguồn sản phẩm, kể từ thời điểm được sử dụng lần đầu tiên trong thương mại. Nghĩa là, nó có thể tự động được nhận diện bởi khách hàng và không gây nhầm lẫn với các sản phẩm tương tự khác. Mặt khác, dấu hiệu đó thường ít hoặc không có sự liên hệ với hàng hoá, dịch vụ đang sử dụng. Dấu hiệu đó không mô tả sản phẩm hoặc không xác định đặc tính nào của sản phẩm, cũng như không truyền đạt thông tin về sản phẩm bằng cách tăng cường, kết hợp hoặc củng cố các đặc tính của sản phẩm. Các dấu hiệu có được sự phân biệt tự thân cũng không cản trở cạnh tranh, các đối thủ không sử dụng các dấu hiệu này nhưng vẫn có thể lựa chọn những dấu hiệu riêng biệt, đặc thù khác để truyền thông về hàng hoá, dịch vụ của họ. Ví dụ, hình dáng độc đáo của chai nước ngọt hay từ “Coca - Cola” là dấu hiệu ngẫu nhiên, có thể chỉ ra được nguồn gốc của một loại nước giải khát kể từ thời điểm nó được sử dụng.

- c tiêu chí đánh giá

+ Tiêu chuẩn Abercrombie: Theo tiêu chuẩn phân loại Abercrombie, những dấu hiệu mang tính chung chung, chỉ chủng loại sẽ không bảo hộ là nhãn hiệu theo quy định của pháp luật. Dấu hiệu mang tính gợi ý, ngẫu nhiên hay tưởng tượng nếu có được sự khác biệt về bản chất, thì có thể được bảo hộ ngay từ lần sử dụng đầu tiên mà không cần sử dụng thêm bằng chứng thực tế trên thương trường; còn đối với những dấu hiệu mang tính mô tả, mặc dù không có tính phân biệt nhưng vẫn có thể được bảo hộ nếu dấu hiệu có được sự phân biệt thông qua quá trình sử dụng.

+ Tiêu chuẩn Seabrook[1]: Án lệ về Seabrook thường được coi là thiết lập tiêu chuẩn kiểm tra cho sự phân biệt tự thân của dấu hiệu ba chiều. Tiêu chuẩn này được Tòa án Eleventh Circuit (Hoa Kỳ) đưa ra bao gồm: Dấu hiệu đó có phải là hình dạng cơ bản hay thiết kế thông thường không? Dấu hiệu có phải là đặc biệt hay duy nhất trong một lĩnh vực cụ thể? Dấu hiệu được sử dụng có phải là sự tinh chỉnh từ một hình thức trang trí phổ biến và quen thuộc đối với hàng hoá hoặc dịch vụ cùng loại?

Ví dụ, máy lắc cocktail có hình dáng chim cánh cụt. Thực tế thì thiết kế này không phục vụ mục đích nào khác ngoài việc làm cho nó trở lên hấp dẫn hơn và tạo ấn tượng cho khách hàng nhớ tới nguồn sản xuất của sản phẩm. Do đó, đây là nhãn hiệu ba chiều có được sự phân biệt tự thân.

+ Tiêu chuẩn Chevron[2]: Tòa án Fifth Circuit (Hoa Kỳ) khi xét xử vụ tranh chấp giữa Chevron Chemical. Co. và Voluntary Purchasing Groups đã cho rằng, không cần thiết phải xét tới sự phân biệt thông qua quá trình sử dụng nếu nhãn hiệu có được sự phân biệt tự thân. Theo đó, các yếu tố có thể được áp dụng để đánh giá dấu hiệu có sự phân biệt tự thân, bao gồm: Nếu dấu hiệu đó mang tính ngẫu nhiên và không có chức năng nào để mô tả sản phẩm hoặc hỗ trợ hiệu quả việc đóng gói sản phẩm; dấu hiệu đó tạo một ấn tượng thị giác đặc biệt.

+ Tiêu chuẩn của Hiệp hội Luật Sở hữu trí tuệ Hoa Kỳ: Theo Hiệp hội Luật Sở hữu trí tuệ Hoa kỳ (American Intellectual properry Law Association - AIPLA), sự phân biệt tự thân của dấu hiệu có thể được xem xét dựa trên các tiêu chí[3]: Liệu dấu hiệu đó có là hình dạng cơ bản, thông thường không; liệu dấu hiệu có phải là độc nhất, không thông thường trong lĩnh vực có liên quan; liệu dấu hiệu có là một sàng lọc đơn thuần về một hình thức trang trí thông dụng và được biết đến phổ biến cho một loại hàng hoá cụ thể; liệu dấu hiệu có khả năng tạo ra một ấn tượng thương mại khác biệt với bất kỳ dấu hiệu từ nào đi kèm; một số đặc điểm khác có thể chỉ ra dấu hiệu có sự nhận diện về nguồn gốc của hàng hoá, dịch vụ?

Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp để xác định nhãn hiệu có sự phân biệt tự thân hay không là một vấn đề tương đối khó khăn, cho nên quan điểm của một số nhà nghiên cứu và một số toà án Hoa Kỳ cho rằng, trong tất cả trường hợp nhãn hiệu muốn được công nhận thì cần phải chứng minh nó đã có được sự phân biệt thông qua quá trình sử dụng. Và sự phân biệt này sẽ được xác định qua các tiêu chí khác nhau, tuỳ theo pháp luật của từng nước.

2.2. Sự phân biệt của nhãn hiệu thông qua quá trình sử dụng

- Khái niệm: Sự phân biệt qua quá trình sử dụng là một liên kết trong tâm trí của người mua giữa dấu hiệu và nguồn duy nhất nhận diện sản phẩm. Người tiêu dùng mong đợi dấu hiệu đó đại diện cho sản phẩm của một nhà sản xuất cụ thể và cũng mong muốn dấu hiệu đó truyền đạt thông tin về đặc tính của sản phẩm. Theo tiêu chuẩn Abercrombie, các dấu hiệu mang tính mô tả cần phải chứng minh đã đạt được sự phân biệt qua quá trình sử dụng, thì mới được bảo hộ là nhãn hiệu. Nếu dấu hiệu mang tính mô tả được tự do bảo hộ độc quyền, mặc dù không ảnh hưởng quá nhiều đến quá trình cạnh tranh nhưng cũng hạn chế đối thủ truyền thông về sản phẩm đến người tiêu dùng ở một mức độ nào đó. Vì vậy, chúng chỉ được bảo hộ sau khi sử dụng rộng rãi và được người tiêu dùng công nhận.

- Các tiêu chí đánh giá: Theo quy định của Hoa Kỳ, nơi tiếp nhận đăng ký và cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu là tại Văn phòng Sáng chế và nhãn hiệu Hoa Kỳ (USPTO). Có hai phương thức đăng ký nhãn hiệu là đăng ký chính (principal register) và đăng ký bổ sung (supplemental register). Đăng ký chính áp dụng đối với những nhãn hiệu đảm bảo các điều kiện về tính phân biệt. Những nhãn hiệu chưa chứng minh được tính phân biệt chỉ có thể nộp đơn đăng ký bổ sung và nhận được ít quyền bảo hộ hơn so với đăng ký chính thức. Sau 05 năm kể từ khi đăng ký bổ sung, nhãn hiệu chứng minh được tính phân biệt qua sử dụng sẽ được phép đăng ký chính.

Thông thường, các chủ thể có thể chứng minh nhãn hiệu đã có được sự phân biệt thông qua quá trình sử dụng bằng hai cách: (i) Thuật ngữ hay hình ảnh được sử dụng độc quyền và liên tục trong năm năm trước thời điểm tuyên bố; (ii) Nếu có bằng chứng chứng tỏ rằng thuật ngữ hay cụm từ này chỉ có liên hệ với một công ty nhất định. Hiện nay tại Hoa Kỳ, các tòa án và cơ quan cấp văn bằng bảo hộ cho nhãn hiệu thường căn cứ vào các tiêu chuẩn sau để xem xét khả năng đạt được sự phân biệt qua quá trình sử dụng, bao gồm:

+ Bằng chứng trực tiếp: Ý kiến và kết quả khảo sát từ người tiêu dùng trực tiếp về việc họ có nhận thức được rằng hàng hoá, dịch vụ đến từ một nguồn duy nhất (ngay cả khi khách hàng không biết rõ và nguồn cung sản phẩm đó)[4].

+ Bằng chứng gián tiếp: Thời gian, mức độ và tính độc quyền của việc sử dụng nhãn hiệu, số lượng và cách thức quảng cáo, doanh số bán hàng và số lượng khách hàng, thị phần, bằng chứng về sự sao chép có chủ đích, những đánh giá khách quan của truyền thông về sản phẩm mang nhãn hiệu…

Trên thực tế, không phải tất cả các tiêu chí đều có giá trị như nhau mà căn cứ từng trường hợp cụ thể, Toà án sẽ đánh giá những tiêu chí nhất định để xác định xem dấu hiệu có được sự phân biệt hay không. Trong pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu của Việt Nam có đề cập đến một trong những điều kiện bảo hộ nhãn hiệu là dấu hiệu đó cần phải có sự phân biệt nhưng không đưa ra được tiêu chí để xác định thế nào là dấu hiệu có sự phân biệt tự thân và dấu hiệu có được sự phân biệt thông qua quá trình sử dụng. Pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện hành chỉ liệt kê các trường hợp loại trừ nhãn hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt (khoản 2 Điều 74 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 - sửa đổi, bổ sung năm 2009 và năm 2019) hoặc cũng đề cập đến nội dung những dấu hiệu mang tính mô tả sẽ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp nhận bảo hộ khi chứng minh được đã sử dụng và được thừa nhận rộng rãi (điểm 39.5 Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN ngày 14/02/2007 của Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn thi hành Nghị định số 13/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp). Tuy nhiên, bằng chứng thế nào về khả năng phân biệt của dấu hiệu thì không được giải thích rõ. Vì thiếu hệ thống đánh giá nên việc chứng minh phụ thuộc hoàn toàn vào chủ quan của nguyên đơn, bị đơn và tòa án và không có một căn cứ chung để các bên tranh luận có thể dựa vào đó mà đưa ra chứng cứ lập luận của mình. Việc dựa trên những kinh nghiệm của Hoa Kỳ được đề cập trong bài viết, các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam có thể chọn lọc những nội dung phù hợp để ban hành những quy định phù hợp với thực tiễn của Việt Nam trong thời gian tới.

ThS. Phạm Thị Diệp Hạnh
Đại học Ngoại thương cơ sở II, thành phố Hồ Chí Minh


[1] Án lệ Seabrook Foods, Inc. và Bar-Well Foods Ltd., 568 F.2d 1242 (C.C.P.A. 1977).

[2] Án lệ Chevron Chemical. Co. và Voluntary Purchasing Groups, 659 F.2d 695 (5th Cir. 1981).

[3] Dinwoodie, Graeme B.Janis, & D., Mark. (2010), Trade dress and design law, New York: Aspen Publishers, tr. 91.

[4] FARJAMI, M. 1993, Protectable trade dress without secondary meaning on second thought, Loyola of Los Angeles entertainment Law Journal, 13, 381- 412 (p. 400).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Sau hơn 17 năm thi hành, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, thực tiễn đời sống xã hội đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hoạt động TTTP về dân sự. Do đó, việc tổng kết thực tiễn thực hiện Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 là cần thiết, từ đó, đánh giá những điểm còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn, làm cơ sở đề xuất hoàn thiện pháp luật TTTP về dân sự trong bối cảnh mới.

Theo dõi chúng tôi trên: