Chủ nhật 26/07/2026 13:50
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tiêu chí đánh giá sự phân biệt của nhãn hiệu theo quy định của pháp luật Hoa Kỳ

Sự phân biệt là một trong những điều kiện quan trọng để một dấu hiệu được bảo hộ là nhãn hiệu. Hoa Kỳ là một nước có nhiều kinh nghiệm về lý thuyết và nền tảng pháp lý về bảo hộ nhãn hiệu, trong đó có nêu rõ những tiêu chí đánh giá thế nào là một dấu hiệu có sự phân biệt. Bài viết sẽ dựa trên việc phân tích quy định pháp luật Hoa Kỳ về nội dung này để đưa ra một số khuyến nghị cho việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong thời gian tới.

Sự phân biệt là một trong những điều kiện quan trọng để một dấu hiệu được bảo hộ là nhãn hiệu. Hoa Kỳ một nước có nhiều kinh nghiệm về lý thuyết và nền tảng pháp lý về bảo hộ nhãn hiệu, trong đó có nêu rõ những tiêu chí đánh giá thế nào là một dấu hiệu có sự phân biệt. Bài viết sẽ dựa trên việc phân tích quy định pháp luật Hoa Kỳ về nội dung này để đưa ra một số khuyến nghị cho việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong thời gian tới.

Theo cách hiểu chung nhất, nhãn hiệu là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các chủ thể kinh doanh khác nhau. Do đó, để được bảo hộ là nhãn hiệu thì dấu hiệu đó phải là đặc biệt, độc nhất trên thị trường hay ít ra trong một lĩnh vực kinh doanh hay khu vực kinh doanh, để khi khách hàng nhìn thấy nhãn hiệu đó có thể liên hệ, xác định được nguồn gốc sản xuất hoặc cung cấp hàng hoá, dịch vụ. Sự phân biệt của nhãn hiệu được chia thành: Sự phân biệt tự thân (inherently distinctive) và sự phân biệt thông qua quá trình sử dụng (second meaning). Khi được pháp luật bảo hộ là nhãn hiệu, thì chủ sở hữu sẽ được độc quyền sử dụng dấu hiệu trên hàng hoá, dịch vụ của mình trong thời gian vô hạn; tất cả các chủ thể khác sử dụng các dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu được bảo hộ này nếu không được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu thì sẽ bị coi là hành vi vi phạm. Chính vì vậy, pháp luật Hoa Kỳ đã quy định về các tiêu chí đánh giá tương đối hoàn chỉnh khi xem xét điều kiện về sự phân biệt của dấu hiệu, nhằm đảm bảo sự cân bằng lợi ích của các chủ thể trong nền kinh tế.

Các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về sự phân biệt của pháp luật bảo hộ nhãn hiệu chưa rõ ràng. Do đó, nội dung bài viết có thể coi là một tài liệu để các nhà làm luật tham khảo giúp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề này trong thời gian tới.

1. Phân loại dấu hiệu

Dấu hiệu có thể là từ ngữ, hình ảnh, đồ hoạ, màu sắc, hoặc sự kết hợp của các yếu tố này… Tuy nhiên, chỉ những dấu hiệu nào có sự phân biệt mới được pháp luật bảo hộ là nhãn hiệu.Theo tiêu chuẩn Abercrombie của Hoa Kỳ, dấu hiệu có thể chia thành các loại sau:

- Dấu hiệu mang tính chung chung (Generic Marks): Dấu hiệu mang tính chung chung là những dấu hiệu trình bày về chủng loại, bản chất cơ bản hoặc mục đích sử dụng của sản phẩm, dịch vụ. Dấu hiệu loại này không có tính phân biệt và sẽ không được chấp nhận để đăng ký bảo hộ là nhãn hiệu. Nếu cho một chủ thể duy nhất được sở hữu dấu hiệu chung như là một nhãn hiệu, thì sẽ ngăn cản các đối thủ cạnh tranh khác truyền đạt thông tin cơ bản về bản chất của hàng hoá, dịch vụ tới khách hàng. Ví dụ, từ “nước cam” không được sử dụng là nhãn hiệu cho sản phẩm nước cam đóng chai.

- Dấu hiệu mang tính mô tả (Descriptive Marks): Dấu hiệu mang tính mô tả sẽ truyền thông về sản phẩm bằng cách tăng cường, kết hợp hoặc củng cố về các thuộc tính hoặc chất lượng của hàng hoá, dịch vụ. Dấu hiệu này không thể phân biệt giữa các nguồn cung hàng hoá, dịch vụ và do đó không đủ điều kiện để bảo vệ là nhãn hiệu. Tuy nhiên, pháp luật của nhiều nước cho phép bảo hộ dấu hiệu mang tính mô tả nếu nó có được ý nghĩa thứ hai (secondary meaning). Nghĩa là dấu hiệu có được sự phân biệt thông qua quá trình sử dụng, người tiêu dùng có thể nhận biết, tự động liên kết với nguồn gốc sản phẩm. Ví dụ: Hãng kẹo Wrigley JR. Company (Hoa Kỳ) đã được Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam đồng ý bảo hộ nhãn hiệu “Doublemint” cho sản phẩm kẹo, kẹo cao su, sau khi Công ty này nộp hồ sơ bổ sung minh chứng nhãn hiệu này đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi tại Việt Nam trong nhiều năm qua.

- Dấu hiệu mang tính gợi ý (Suggestive Marks): Dấu hiệu mang tính gợi ý sẽ liên quan đến hoặc tạo ấn tượng về một đặc tính của hàng hoá, dịch vụ, nhưng thực tế không mô tả về chất lượng hoặc đặc điểm của sản phẩm, dịch vụ. Nó đòi hỏi trí tưởng tượng, nhận thức của người tiêu dùng để rút ra một kết luận về bản chất của hàng hoá, dịch vụ. Ví dụ, đăng ký hình ảnh “hươu cao cổ” là nhãn hiệu cho một sản phẩm sữa dành cho trẻ em. Trong một số trường hợp cụ thể, việc phân biệt giữa dấu hiệu gợi ý và dấu hiệu mô tả không phải dễ dàng mà người ta có thể dựa vào định nghĩa của từ điển, nhu cầu của đối thủ cạnh tranh...

- Dấu hiệu mang tính ngẫu nhiên hoặc tưởng tượng (Arbitrary or Fanciful Marks): Một dấu hiệu mang tính ngẫu nhiên hay tưởng tượng không có mối quan hệ rõ ràng giữa dấu hiệu nhận diện với các sản phẩm, dịch vụ. Ví dụ: Dấu hiệu hình quả táo và dòng máy tính của Apple. Dấu hiệu mang tính ngẫu nhiên hay tưởng tượng là thuật ngữ không có nghĩa, ngoài việc xác định nguồn gốc của sản phẩm.

2. Các tiêu chí đánh giá sự phân biệt của nhãn hiệu theo quy định của pháp luật Hoa Kỳ

2.1. Sự phân biệt tự thân của nhãn hiệu

- Khái niệm: Một dấu hiệu được xem là có sự phân biệt tự thân là ngay lập tức xác định được nhà sản xuất hoặc nguồn sản phẩm, kể từ thời điểm được sử dụng lần đầu tiên trong thương mại. Nghĩa là, nó có thể tự động được nhận diện bởi khách hàng và không gây nhầm lẫn với các sản phẩm tương tự khác. Mặt khác, dấu hiệu đó thường ít hoặc không có sự liên hệ với hàng hoá, dịch vụ đang sử dụng. Dấu hiệu đó không mô tả sản phẩm hoặc không xác định đặc tính nào của sản phẩm, cũng như không truyền đạt thông tin về sản phẩm bằng cách tăng cường, kết hợp hoặc củng cố các đặc tính của sản phẩm. Các dấu hiệu có được sự phân biệt tự thân cũng không cản trở cạnh tranh, các đối thủ không sử dụng các dấu hiệu này nhưng vẫn có thể lựa chọn những dấu hiệu riêng biệt, đặc thù khác để truyền thông về hàng hoá, dịch vụ của họ. Ví dụ, hình dáng độc đáo của chai nước ngọt hay từ “Coca - Cola” là dấu hiệu ngẫu nhiên, có thể chỉ ra được nguồn gốc của một loại nước giải khát kể từ thời điểm nó được sử dụng.

- c tiêu chí đánh giá

+ Tiêu chuẩn Abercrombie: Theo tiêu chuẩn phân loại Abercrombie, những dấu hiệu mang tính chung chung, chỉ chủng loại sẽ không bảo hộ là nhãn hiệu theo quy định của pháp luật. Dấu hiệu mang tính gợi ý, ngẫu nhiên hay tưởng tượng nếu có được sự khác biệt về bản chất, thì có thể được bảo hộ ngay từ lần sử dụng đầu tiên mà không cần sử dụng thêm bằng chứng thực tế trên thương trường; còn đối với những dấu hiệu mang tính mô tả, mặc dù không có tính phân biệt nhưng vẫn có thể được bảo hộ nếu dấu hiệu có được sự phân biệt thông qua quá trình sử dụng.

+ Tiêu chuẩn Seabrook[1]: Án lệ về Seabrook thường được coi là thiết lập tiêu chuẩn kiểm tra cho sự phân biệt tự thân của dấu hiệu ba chiều. Tiêu chuẩn này được Tòa án Eleventh Circuit (Hoa Kỳ) đưa ra bao gồm: Dấu hiệu đó có phải là hình dạng cơ bản hay thiết kế thông thường không? Dấu hiệu có phải là đặc biệt hay duy nhất trong một lĩnh vực cụ thể? Dấu hiệu được sử dụng có phải là sự tinh chỉnh từ một hình thức trang trí phổ biến và quen thuộc đối với hàng hoá hoặc dịch vụ cùng loại?

Ví dụ, máy lắc cocktail có hình dáng chim cánh cụt. Thực tế thì thiết kế này không phục vụ mục đích nào khác ngoài việc làm cho nó trở lên hấp dẫn hơn và tạo ấn tượng cho khách hàng nhớ tới nguồn sản xuất của sản phẩm. Do đó, đây là nhãn hiệu ba chiều có được sự phân biệt tự thân.

+ Tiêu chuẩn Chevron[2]: Tòa án Fifth Circuit (Hoa Kỳ) khi xét xử vụ tranh chấp giữa Chevron Chemical. Co. và Voluntary Purchasing Groups đã cho rằng, không cần thiết phải xét tới sự phân biệt thông qua quá trình sử dụng nếu nhãn hiệu có được sự phân biệt tự thân. Theo đó, các yếu tố có thể được áp dụng để đánh giá dấu hiệu có sự phân biệt tự thân, bao gồm: Nếu dấu hiệu đó mang tính ngẫu nhiên và không có chức năng nào để mô tả sản phẩm hoặc hỗ trợ hiệu quả việc đóng gói sản phẩm; dấu hiệu đó tạo một ấn tượng thị giác đặc biệt.

+ Tiêu chuẩn của Hiệp hội Luật Sở hữu trí tuệ Hoa Kỳ: Theo Hiệp hội Luật Sở hữu trí tuệ Hoa kỳ (American Intellectual properry Law Association - AIPLA), sự phân biệt tự thân của dấu hiệu có thể được xem xét dựa trên các tiêu chí[3]: Liệu dấu hiệu đó có là hình dạng cơ bản, thông thường không; liệu dấu hiệu có phải là độc nhất, không thông thường trong lĩnh vực có liên quan; liệu dấu hiệu có là một sàng lọc đơn thuần về một hình thức trang trí thông dụng và được biết đến phổ biến cho một loại hàng hoá cụ thể; liệu dấu hiệu có khả năng tạo ra một ấn tượng thương mại khác biệt với bất kỳ dấu hiệu từ nào đi kèm; một số đặc điểm khác có thể chỉ ra dấu hiệu có sự nhận diện về nguồn gốc của hàng hoá, dịch vụ?

Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp để xác định nhãn hiệu có sự phân biệt tự thân hay không là một vấn đề tương đối khó khăn, cho nên quan điểm của một số nhà nghiên cứu và một số toà án Hoa Kỳ cho rằng, trong tất cả trường hợp nhãn hiệu muốn được công nhận thì cần phải chứng minh nó đã có được sự phân biệt thông qua quá trình sử dụng. Và sự phân biệt này sẽ được xác định qua các tiêu chí khác nhau, tuỳ theo pháp luật của từng nước.

2.2. Sự phân biệt của nhãn hiệu thông qua quá trình sử dụng

- Khái niệm: Sự phân biệt qua quá trình sử dụng là một liên kết trong tâm trí của người mua giữa dấu hiệu và nguồn duy nhất nhận diện sản phẩm. Người tiêu dùng mong đợi dấu hiệu đó đại diện cho sản phẩm của một nhà sản xuất cụ thể và cũng mong muốn dấu hiệu đó truyền đạt thông tin về đặc tính của sản phẩm. Theo tiêu chuẩn Abercrombie, các dấu hiệu mang tính mô tả cần phải chứng minh đã đạt được sự phân biệt qua quá trình sử dụng, thì mới được bảo hộ là nhãn hiệu. Nếu dấu hiệu mang tính mô tả được tự do bảo hộ độc quyền, mặc dù không ảnh hưởng quá nhiều đến quá trình cạnh tranh nhưng cũng hạn chế đối thủ truyền thông về sản phẩm đến người tiêu dùng ở một mức độ nào đó. Vì vậy, chúng chỉ được bảo hộ sau khi sử dụng rộng rãi và được người tiêu dùng công nhận.

- Các tiêu chí đánh giá: Theo quy định của Hoa Kỳ, nơi tiếp nhận đăng ký và cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu là tại Văn phòng Sáng chế và nhãn hiệu Hoa Kỳ (USPTO). Có hai phương thức đăng ký nhãn hiệu là đăng ký chính (principal register) và đăng ký bổ sung (supplemental register). Đăng ký chính áp dụng đối với những nhãn hiệu đảm bảo các điều kiện về tính phân biệt. Những nhãn hiệu chưa chứng minh được tính phân biệt chỉ có thể nộp đơn đăng ký bổ sung và nhận được ít quyền bảo hộ hơn so với đăng ký chính thức. Sau 05 năm kể từ khi đăng ký bổ sung, nhãn hiệu chứng minh được tính phân biệt qua sử dụng sẽ được phép đăng ký chính.

Thông thường, các chủ thể có thể chứng minh nhãn hiệu đã có được sự phân biệt thông qua quá trình sử dụng bằng hai cách: (i) Thuật ngữ hay hình ảnh được sử dụng độc quyền và liên tục trong năm năm trước thời điểm tuyên bố; (ii) Nếu có bằng chứng chứng tỏ rằng thuật ngữ hay cụm từ này chỉ có liên hệ với một công ty nhất định. Hiện nay tại Hoa Kỳ, các tòa án và cơ quan cấp văn bằng bảo hộ cho nhãn hiệu thường căn cứ vào các tiêu chuẩn sau để xem xét khả năng đạt được sự phân biệt qua quá trình sử dụng, bao gồm:

+ Bằng chứng trực tiếp: Ý kiến và kết quả khảo sát từ người tiêu dùng trực tiếp về việc họ có nhận thức được rằng hàng hoá, dịch vụ đến từ một nguồn duy nhất (ngay cả khi khách hàng không biết rõ và nguồn cung sản phẩm đó)[4].

+ Bằng chứng gián tiếp: Thời gian, mức độ và tính độc quyền của việc sử dụng nhãn hiệu, số lượng và cách thức quảng cáo, doanh số bán hàng và số lượng khách hàng, thị phần, bằng chứng về sự sao chép có chủ đích, những đánh giá khách quan của truyền thông về sản phẩm mang nhãn hiệu…

Trên thực tế, không phải tất cả các tiêu chí đều có giá trị như nhau mà căn cứ từng trường hợp cụ thể, Toà án sẽ đánh giá những tiêu chí nhất định để xác định xem dấu hiệu có được sự phân biệt hay không. Trong pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu của Việt Nam có đề cập đến một trong những điều kiện bảo hộ nhãn hiệu là dấu hiệu đó cần phải có sự phân biệt nhưng không đưa ra được tiêu chí để xác định thế nào là dấu hiệu có sự phân biệt tự thân và dấu hiệu có được sự phân biệt thông qua quá trình sử dụng. Pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện hành chỉ liệt kê các trường hợp loại trừ nhãn hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt (khoản 2 Điều 74 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 - sửa đổi, bổ sung năm 2009 và năm 2019) hoặc cũng đề cập đến nội dung những dấu hiệu mang tính mô tả sẽ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp nhận bảo hộ khi chứng minh được đã sử dụng và được thừa nhận rộng rãi (điểm 39.5 Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN ngày 14/02/2007 của Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn thi hành Nghị định số 13/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp). Tuy nhiên, bằng chứng thế nào về khả năng phân biệt của dấu hiệu thì không được giải thích rõ. Vì thiếu hệ thống đánh giá nên việc chứng minh phụ thuộc hoàn toàn vào chủ quan của nguyên đơn, bị đơn và tòa án và không có một căn cứ chung để các bên tranh luận có thể dựa vào đó mà đưa ra chứng cứ lập luận của mình. Việc dựa trên những kinh nghiệm của Hoa Kỳ được đề cập trong bài viết, các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam có thể chọn lọc những nội dung phù hợp để ban hành những quy định phù hợp với thực tiễn của Việt Nam trong thời gian tới.

ThS. Phạm Thị Diệp Hạnh
Đại học Ngoại thương cơ sở II, thành phố Hồ Chí Minh


[1] Án lệ Seabrook Foods, Inc. và Bar-Well Foods Ltd., 568 F.2d 1242 (C.C.P.A. 1977).

[2] Án lệ Chevron Chemical. Co. và Voluntary Purchasing Groups, 659 F.2d 695 (5th Cir. 1981).

[3] Dinwoodie, Graeme B.Janis, & D., Mark. (2010), Trade dress and design law, New York: Aspen Publishers, tr. 91.

[4] FARJAMI, M. 1993, Protectable trade dress without secondary meaning on second thought, Loyola of Los Angeles entertainment Law Journal, 13, 381- 412 (p. 400).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Trong những năm gần đây, chủ trương về chuyển đổi số đã trở thành một trong những định hướng chiến lược quan trọng của Đảng và Nhà nước. Với tinh thần chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu khách quan (Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị) tới Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”.
Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ tiền lương làm thêm giờ đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong chính sách thuế theo hướng hỗ trợ người lao động (NLĐ) và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đây không chỉ là giải pháp nhằm tăng thu nhập thực nhận mà còn thể hiện sự kết nối giữa pháp luật thuế với pháp luật lao động. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến quản lý thuế, bảo hiểm xã hội và quan hệ lao động, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả của chính sách.
Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Ngày 19/6/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1111/QĐ-TTg (Quyết định số 1111/QĐ-TTg) về việc ban hành Kế hoạch tổ chức “Ngày Văn hóa Việt Nam” giai đoạn 2026 - 2030. Đây không chỉ là một văn bản hành chính thuần túy, mà là một lời hiệu triệu, một chiến lược toàn diện nhằm đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo đà cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Thực hiện Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15 về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và Nghị quyết số 2093/NQ-UBTVQH15 về việc thành lập Ban Chỉ đạo tổng rà soát, Bộ Tư pháp với vai trò là Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo đang tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được giao. Trong tuần từ ngày 06/7/2026 đến hết ngày 12/7/2026, công tác rà soát đã bước vào giai đoạn then chốt với sự tham gia đồng bộ của các bộ, ngành và địa phương trên cả nước, tập trung vào việc đánh giá thực chất và đảm bảo chất lượng báo cáo.
Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.

Theo dõi chúng tôi trên: