Thứ sáu 13/03/2026 10:02
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tiêu chí đánh giá sự phân biệt của nhãn hiệu theo quy định của pháp luật Hoa Kỳ

Sự phân biệt là một trong những điều kiện quan trọng để một dấu hiệu được bảo hộ là nhãn hiệu. Hoa Kỳ là một nước có nhiều kinh nghiệm về lý thuyết và nền tảng pháp lý về bảo hộ nhãn hiệu, trong đó có nêu rõ những tiêu chí đánh giá thế nào là một dấu hiệu có sự phân biệt. Bài viết sẽ dựa trên việc phân tích quy định pháp luật Hoa Kỳ về nội dung này để đưa ra một số khuyến nghị cho việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong thời gian tới.

Sự phân biệt là một trong những điều kiện quan trọng để một dấu hiệu được bảo hộ là nhãn hiệu. Hoa Kỳ một nước có nhiều kinh nghiệm về lý thuyết và nền tảng pháp lý về bảo hộ nhãn hiệu, trong đó có nêu rõ những tiêu chí đánh giá thế nào là một dấu hiệu có sự phân biệt. Bài viết sẽ dựa trên việc phân tích quy định pháp luật Hoa Kỳ về nội dung này để đưa ra một số khuyến nghị cho việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong thời gian tới.

Theo cách hiểu chung nhất, nhãn hiệu là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các chủ thể kinh doanh khác nhau. Do đó, để được bảo hộ là nhãn hiệu thì dấu hiệu đó phải là đặc biệt, độc nhất trên thị trường hay ít ra trong một lĩnh vực kinh doanh hay khu vực kinh doanh, để khi khách hàng nhìn thấy nhãn hiệu đó có thể liên hệ, xác định được nguồn gốc sản xuất hoặc cung cấp hàng hoá, dịch vụ. Sự phân biệt của nhãn hiệu được chia thành: Sự phân biệt tự thân (inherently distinctive) và sự phân biệt thông qua quá trình sử dụng (second meaning). Khi được pháp luật bảo hộ là nhãn hiệu, thì chủ sở hữu sẽ được độc quyền sử dụng dấu hiệu trên hàng hoá, dịch vụ của mình trong thời gian vô hạn; tất cả các chủ thể khác sử dụng các dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu được bảo hộ này nếu không được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu thì sẽ bị coi là hành vi vi phạm. Chính vì vậy, pháp luật Hoa Kỳ đã quy định về các tiêu chí đánh giá tương đối hoàn chỉnh khi xem xét điều kiện về sự phân biệt của dấu hiệu, nhằm đảm bảo sự cân bằng lợi ích của các chủ thể trong nền kinh tế.

Các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về sự phân biệt của pháp luật bảo hộ nhãn hiệu chưa rõ ràng. Do đó, nội dung bài viết có thể coi là một tài liệu để các nhà làm luật tham khảo giúp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề này trong thời gian tới.

1. Phân loại dấu hiệu

Dấu hiệu có thể là từ ngữ, hình ảnh, đồ hoạ, màu sắc, hoặc sự kết hợp của các yếu tố này… Tuy nhiên, chỉ những dấu hiệu nào có sự phân biệt mới được pháp luật bảo hộ là nhãn hiệu.Theo tiêu chuẩn Abercrombie của Hoa Kỳ, dấu hiệu có thể chia thành các loại sau:

- Dấu hiệu mang tính chung chung (Generic Marks): Dấu hiệu mang tính chung chung là những dấu hiệu trình bày về chủng loại, bản chất cơ bản hoặc mục đích sử dụng của sản phẩm, dịch vụ. Dấu hiệu loại này không có tính phân biệt và sẽ không được chấp nhận để đăng ký bảo hộ là nhãn hiệu. Nếu cho một chủ thể duy nhất được sở hữu dấu hiệu chung như là một nhãn hiệu, thì sẽ ngăn cản các đối thủ cạnh tranh khác truyền đạt thông tin cơ bản về bản chất của hàng hoá, dịch vụ tới khách hàng. Ví dụ, từ “nước cam” không được sử dụng là nhãn hiệu cho sản phẩm nước cam đóng chai.

- Dấu hiệu mang tính mô tả (Descriptive Marks): Dấu hiệu mang tính mô tả sẽ truyền thông về sản phẩm bằng cách tăng cường, kết hợp hoặc củng cố về các thuộc tính hoặc chất lượng của hàng hoá, dịch vụ. Dấu hiệu này không thể phân biệt giữa các nguồn cung hàng hoá, dịch vụ và do đó không đủ điều kiện để bảo vệ là nhãn hiệu. Tuy nhiên, pháp luật của nhiều nước cho phép bảo hộ dấu hiệu mang tính mô tả nếu nó có được ý nghĩa thứ hai (secondary meaning). Nghĩa là dấu hiệu có được sự phân biệt thông qua quá trình sử dụng, người tiêu dùng có thể nhận biết, tự động liên kết với nguồn gốc sản phẩm. Ví dụ: Hãng kẹo Wrigley JR. Company (Hoa Kỳ) đã được Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam đồng ý bảo hộ nhãn hiệu “Doublemint” cho sản phẩm kẹo, kẹo cao su, sau khi Công ty này nộp hồ sơ bổ sung minh chứng nhãn hiệu này đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi tại Việt Nam trong nhiều năm qua.

- Dấu hiệu mang tính gợi ý (Suggestive Marks): Dấu hiệu mang tính gợi ý sẽ liên quan đến hoặc tạo ấn tượng về một đặc tính của hàng hoá, dịch vụ, nhưng thực tế không mô tả về chất lượng hoặc đặc điểm của sản phẩm, dịch vụ. Nó đòi hỏi trí tưởng tượng, nhận thức của người tiêu dùng để rút ra một kết luận về bản chất của hàng hoá, dịch vụ. Ví dụ, đăng ký hình ảnh “hươu cao cổ” là nhãn hiệu cho một sản phẩm sữa dành cho trẻ em. Trong một số trường hợp cụ thể, việc phân biệt giữa dấu hiệu gợi ý và dấu hiệu mô tả không phải dễ dàng mà người ta có thể dựa vào định nghĩa của từ điển, nhu cầu của đối thủ cạnh tranh...

- Dấu hiệu mang tính ngẫu nhiên hoặc tưởng tượng (Arbitrary or Fanciful Marks): Một dấu hiệu mang tính ngẫu nhiên hay tưởng tượng không có mối quan hệ rõ ràng giữa dấu hiệu nhận diện với các sản phẩm, dịch vụ. Ví dụ: Dấu hiệu hình quả táo và dòng máy tính của Apple. Dấu hiệu mang tính ngẫu nhiên hay tưởng tượng là thuật ngữ không có nghĩa, ngoài việc xác định nguồn gốc của sản phẩm.

2. Các tiêu chí đánh giá sự phân biệt của nhãn hiệu theo quy định của pháp luật Hoa Kỳ

2.1. Sự phân biệt tự thân của nhãn hiệu

- Khái niệm: Một dấu hiệu được xem là có sự phân biệt tự thân là ngay lập tức xác định được nhà sản xuất hoặc nguồn sản phẩm, kể từ thời điểm được sử dụng lần đầu tiên trong thương mại. Nghĩa là, nó có thể tự động được nhận diện bởi khách hàng và không gây nhầm lẫn với các sản phẩm tương tự khác. Mặt khác, dấu hiệu đó thường ít hoặc không có sự liên hệ với hàng hoá, dịch vụ đang sử dụng. Dấu hiệu đó không mô tả sản phẩm hoặc không xác định đặc tính nào của sản phẩm, cũng như không truyền đạt thông tin về sản phẩm bằng cách tăng cường, kết hợp hoặc củng cố các đặc tính của sản phẩm. Các dấu hiệu có được sự phân biệt tự thân cũng không cản trở cạnh tranh, các đối thủ không sử dụng các dấu hiệu này nhưng vẫn có thể lựa chọn những dấu hiệu riêng biệt, đặc thù khác để truyền thông về hàng hoá, dịch vụ của họ. Ví dụ, hình dáng độc đáo của chai nước ngọt hay từ “Coca - Cola” là dấu hiệu ngẫu nhiên, có thể chỉ ra được nguồn gốc của một loại nước giải khát kể từ thời điểm nó được sử dụng.

- c tiêu chí đánh giá

+ Tiêu chuẩn Abercrombie: Theo tiêu chuẩn phân loại Abercrombie, những dấu hiệu mang tính chung chung, chỉ chủng loại sẽ không bảo hộ là nhãn hiệu theo quy định của pháp luật. Dấu hiệu mang tính gợi ý, ngẫu nhiên hay tưởng tượng nếu có được sự khác biệt về bản chất, thì có thể được bảo hộ ngay từ lần sử dụng đầu tiên mà không cần sử dụng thêm bằng chứng thực tế trên thương trường; còn đối với những dấu hiệu mang tính mô tả, mặc dù không có tính phân biệt nhưng vẫn có thể được bảo hộ nếu dấu hiệu có được sự phân biệt thông qua quá trình sử dụng.

+ Tiêu chuẩn Seabrook[1]: Án lệ về Seabrook thường được coi là thiết lập tiêu chuẩn kiểm tra cho sự phân biệt tự thân của dấu hiệu ba chiều. Tiêu chuẩn này được Tòa án Eleventh Circuit (Hoa Kỳ) đưa ra bao gồm: Dấu hiệu đó có phải là hình dạng cơ bản hay thiết kế thông thường không? Dấu hiệu có phải là đặc biệt hay duy nhất trong một lĩnh vực cụ thể? Dấu hiệu được sử dụng có phải là sự tinh chỉnh từ một hình thức trang trí phổ biến và quen thuộc đối với hàng hoá hoặc dịch vụ cùng loại?

Ví dụ, máy lắc cocktail có hình dáng chim cánh cụt. Thực tế thì thiết kế này không phục vụ mục đích nào khác ngoài việc làm cho nó trở lên hấp dẫn hơn và tạo ấn tượng cho khách hàng nhớ tới nguồn sản xuất của sản phẩm. Do đó, đây là nhãn hiệu ba chiều có được sự phân biệt tự thân.

+ Tiêu chuẩn Chevron[2]: Tòa án Fifth Circuit (Hoa Kỳ) khi xét xử vụ tranh chấp giữa Chevron Chemical. Co. và Voluntary Purchasing Groups đã cho rằng, không cần thiết phải xét tới sự phân biệt thông qua quá trình sử dụng nếu nhãn hiệu có được sự phân biệt tự thân. Theo đó, các yếu tố có thể được áp dụng để đánh giá dấu hiệu có sự phân biệt tự thân, bao gồm: Nếu dấu hiệu đó mang tính ngẫu nhiên và không có chức năng nào để mô tả sản phẩm hoặc hỗ trợ hiệu quả việc đóng gói sản phẩm; dấu hiệu đó tạo một ấn tượng thị giác đặc biệt.

+ Tiêu chuẩn của Hiệp hội Luật Sở hữu trí tuệ Hoa Kỳ: Theo Hiệp hội Luật Sở hữu trí tuệ Hoa kỳ (American Intellectual properry Law Association - AIPLA), sự phân biệt tự thân của dấu hiệu có thể được xem xét dựa trên các tiêu chí[3]: Liệu dấu hiệu đó có là hình dạng cơ bản, thông thường không; liệu dấu hiệu có phải là độc nhất, không thông thường trong lĩnh vực có liên quan; liệu dấu hiệu có là một sàng lọc đơn thuần về một hình thức trang trí thông dụng và được biết đến phổ biến cho một loại hàng hoá cụ thể; liệu dấu hiệu có khả năng tạo ra một ấn tượng thương mại khác biệt với bất kỳ dấu hiệu từ nào đi kèm; một số đặc điểm khác có thể chỉ ra dấu hiệu có sự nhận diện về nguồn gốc của hàng hoá, dịch vụ?

Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp để xác định nhãn hiệu có sự phân biệt tự thân hay không là một vấn đề tương đối khó khăn, cho nên quan điểm của một số nhà nghiên cứu và một số toà án Hoa Kỳ cho rằng, trong tất cả trường hợp nhãn hiệu muốn được công nhận thì cần phải chứng minh nó đã có được sự phân biệt thông qua quá trình sử dụng. Và sự phân biệt này sẽ được xác định qua các tiêu chí khác nhau, tuỳ theo pháp luật của từng nước.

2.2. Sự phân biệt của nhãn hiệu thông qua quá trình sử dụng

- Khái niệm: Sự phân biệt qua quá trình sử dụng là một liên kết trong tâm trí của người mua giữa dấu hiệu và nguồn duy nhất nhận diện sản phẩm. Người tiêu dùng mong đợi dấu hiệu đó đại diện cho sản phẩm của một nhà sản xuất cụ thể và cũng mong muốn dấu hiệu đó truyền đạt thông tin về đặc tính của sản phẩm. Theo tiêu chuẩn Abercrombie, các dấu hiệu mang tính mô tả cần phải chứng minh đã đạt được sự phân biệt qua quá trình sử dụng, thì mới được bảo hộ là nhãn hiệu. Nếu dấu hiệu mang tính mô tả được tự do bảo hộ độc quyền, mặc dù không ảnh hưởng quá nhiều đến quá trình cạnh tranh nhưng cũng hạn chế đối thủ truyền thông về sản phẩm đến người tiêu dùng ở một mức độ nào đó. Vì vậy, chúng chỉ được bảo hộ sau khi sử dụng rộng rãi và được người tiêu dùng công nhận.

- Các tiêu chí đánh giá: Theo quy định của Hoa Kỳ, nơi tiếp nhận đăng ký và cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu là tại Văn phòng Sáng chế và nhãn hiệu Hoa Kỳ (USPTO). Có hai phương thức đăng ký nhãn hiệu là đăng ký chính (principal register) và đăng ký bổ sung (supplemental register). Đăng ký chính áp dụng đối với những nhãn hiệu đảm bảo các điều kiện về tính phân biệt. Những nhãn hiệu chưa chứng minh được tính phân biệt chỉ có thể nộp đơn đăng ký bổ sung và nhận được ít quyền bảo hộ hơn so với đăng ký chính thức. Sau 05 năm kể từ khi đăng ký bổ sung, nhãn hiệu chứng minh được tính phân biệt qua sử dụng sẽ được phép đăng ký chính.

Thông thường, các chủ thể có thể chứng minh nhãn hiệu đã có được sự phân biệt thông qua quá trình sử dụng bằng hai cách: (i) Thuật ngữ hay hình ảnh được sử dụng độc quyền và liên tục trong năm năm trước thời điểm tuyên bố; (ii) Nếu có bằng chứng chứng tỏ rằng thuật ngữ hay cụm từ này chỉ có liên hệ với một công ty nhất định. Hiện nay tại Hoa Kỳ, các tòa án và cơ quan cấp văn bằng bảo hộ cho nhãn hiệu thường căn cứ vào các tiêu chuẩn sau để xem xét khả năng đạt được sự phân biệt qua quá trình sử dụng, bao gồm:

+ Bằng chứng trực tiếp: Ý kiến và kết quả khảo sát từ người tiêu dùng trực tiếp về việc họ có nhận thức được rằng hàng hoá, dịch vụ đến từ một nguồn duy nhất (ngay cả khi khách hàng không biết rõ và nguồn cung sản phẩm đó)[4].

+ Bằng chứng gián tiếp: Thời gian, mức độ và tính độc quyền của việc sử dụng nhãn hiệu, số lượng và cách thức quảng cáo, doanh số bán hàng và số lượng khách hàng, thị phần, bằng chứng về sự sao chép có chủ đích, những đánh giá khách quan của truyền thông về sản phẩm mang nhãn hiệu…

Trên thực tế, không phải tất cả các tiêu chí đều có giá trị như nhau mà căn cứ từng trường hợp cụ thể, Toà án sẽ đánh giá những tiêu chí nhất định để xác định xem dấu hiệu có được sự phân biệt hay không. Trong pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu của Việt Nam có đề cập đến một trong những điều kiện bảo hộ nhãn hiệu là dấu hiệu đó cần phải có sự phân biệt nhưng không đưa ra được tiêu chí để xác định thế nào là dấu hiệu có sự phân biệt tự thân và dấu hiệu có được sự phân biệt thông qua quá trình sử dụng. Pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện hành chỉ liệt kê các trường hợp loại trừ nhãn hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt (khoản 2 Điều 74 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 - sửa đổi, bổ sung năm 2009 và năm 2019) hoặc cũng đề cập đến nội dung những dấu hiệu mang tính mô tả sẽ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp nhận bảo hộ khi chứng minh được đã sử dụng và được thừa nhận rộng rãi (điểm 39.5 Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN ngày 14/02/2007 của Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn thi hành Nghị định số 13/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp). Tuy nhiên, bằng chứng thế nào về khả năng phân biệt của dấu hiệu thì không được giải thích rõ. Vì thiếu hệ thống đánh giá nên việc chứng minh phụ thuộc hoàn toàn vào chủ quan của nguyên đơn, bị đơn và tòa án và không có một căn cứ chung để các bên tranh luận có thể dựa vào đó mà đưa ra chứng cứ lập luận của mình. Việc dựa trên những kinh nghiệm của Hoa Kỳ được đề cập trong bài viết, các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam có thể chọn lọc những nội dung phù hợp để ban hành những quy định phù hợp với thực tiễn của Việt Nam trong thời gian tới.

ThS. Phạm Thị Diệp Hạnh
Đại học Ngoại thương cơ sở II, thành phố Hồ Chí Minh


[1] Án lệ Seabrook Foods, Inc. và Bar-Well Foods Ltd., 568 F.2d 1242 (C.C.P.A. 1977).

[2] Án lệ Chevron Chemical. Co. và Voluntary Purchasing Groups, 659 F.2d 695 (5th Cir. 1981).

[3] Dinwoodie, Graeme B.Janis, & D., Mark. (2010), Trade dress and design law, New York: Aspen Publishers, tr. 91.

[4] FARJAMI, M. 1993, Protectable trade dress without secondary meaning on second thought, Loyola of Los Angeles entertainment Law Journal, 13, 381- 412 (p. 400).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: