Thứ bảy 07/03/2026 09:32
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tiêu chí đánh giá trình độ sáng tạo của sáng chế

Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, sở hữu trí tuệ là một công cụ đắc lực đối với việc phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia. Vấn đề về quyền sở hữu trí tuệ đang khẳng định vai trò không thể thiếu trong quá trình hình thành một nền kinh tế toàn diện và phát triển bền vững. Chứng chỉ về quyền sở hữu trí tuệ là vật chứng bảo đảm cho thành công của mỗi doanh nhân tiến vào thị trường thế giới. Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp nước ta buộc phải tham gia môi trường cạnh tranh quốc tế với cường độ cao, với những yêu cầu chặt chẽ về thực thi các quy định về sở hữu trí tuệ. Đây cũng là một trong những vấn đề mà các đối tác quốc tế quan tâm trong tiến trình đàm phán gia nhập các tổ chức quốc tế[1].


Vi phạm quyền sở hữu trí tuệ không chỉ là tình trạng phổ biến ở Việt Nam, mà các quốc gia khác trên thế giới cũng như vậy, kể cả các nước phát triển như Mỹ, Đức, Pháp… Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ngày càng trở nên quan trọng trong việc thúc đẩy sự sáng tạo, phát triển nền kinh tế, văn hóa và trở thành điều kiện tiên quyết trong hội nhập quốc tế của mỗi quốc gia. Vì vậy, tiếp tục nâng cao nhận thức cho người dân, các tổ chức và cá nhân có liên quan, nhằm đưa Luật Sở hữu trí tuệ vào cuộc sống là điều cần thiết...[2]

Quyền sở hữu công nghiệp là một trong những quyền quan trọng trong các quyền sở hữu trí tuệ có tác động lớn đến đời sống kinh tế - xã hội. Do vậy, vấn đề bảo hộ các quyền sở hữu trí tuệ cũng rất quan trọng. Theo quy định tại khoản 4 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ thì “quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh”. Trong các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp đó thì sáng chế cũng chiếm vị trí, vai trò quan trọng trong việc tìm tòi, sáng tạo, áp dụng những giải pháp mới, tiên tiến góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất và phát triển kinh tế.

Vậy khái niệm sáng chế là gì? Có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Theo hiểu biết thông thường, sáng chế là sản phẩm sáng tạo của con người, không có sẵn trong tự nhiên. Ở khía cạnh này, bất cứ cái gì được con người tạo ra đều có thể được xem là sáng chế. Chẳng hạn, T. Edisson là người sáng chế ra bóng đèn, máy ghi âm[3].

Theo từ điển bách khoa mở Wikipedia, sáng chế là một giải pháp kỹ thuật mang tính mới về nguyên lý kỹ thuật, tính sáng tạo và áp dụng được.

Theo Hiệp định TRIPs[4] thì để sáng chế được bảo hộ phải đáp ứng được điều kiện là sáng chế đó phải mới, có trình độ sáng tạo và có khả năng áp dụng công nghiệp.

Đứng ở khía cạnh pháp luật Việt Nam, theo quy định tại khoản 12 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ thì “sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên”. Hay sáng chế cũng có thể hiểu theo cách khác là “giải pháp kỹ thuật - đối tượng được bảo hộ dưới danh nghĩa là sáng chế - là tập hợp cần và đủ các thông tin về cách thức kỹ thuật và/hoặc phương tiện kỹ thuật nhằm giải quyết một nhiệm vụ (một vấn đề) xác định”[5].

Như vậy, sáng chế được xác định là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hay quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên.

Vậy thì vấn đề bảo hộ sáng chế được quy định như thế nào? Theo quy định tại Điều 58 Luật Sở hữu trí tuệ để sáng chế được bảo hộ cần phải đáp ứng được các điều kiện như sau:

“1. Sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp bằng độc quyền sáng chế nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

a) Có tính mới;

b) Có trình độ sáng tạo;

c) Có khả năng áp dụng công nghiệp.

2. Sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích nếu không phải là hiểu biết thông thường và đáp ứng các điều kiện sau đây:

a) Có tính mới;

b) Có khả năng áp dụng công nghiệp”.

Tựu chung để sáng chế được bảo hộ cần phải đảm bảo ba điều kiện là phải có tính mới, có trình độ sáng tạo và khả năng áp dụng công nghiệp. Trong đó, điều kiện có trình độ sáng tạo là một trong những điều kiện bắt buộc để phân biệt trong xem xét về hình thức cấp bằng độc quyền sáng chế hay bằng độc quyền giải pháp hữu ích.

Sáng tạo là một thuật ngữ gắn liền với sự thay đổi, đưa ra cái mới, do đó, tính sáng tạo thực chất rất gần với tính mới khi chúng ta đề cập sáng chế với tư cách là một đối tượng của sở hữu công nghiệp[6].

Sáng chế được coi là có trình độ sáng tạo nếu căn cứ vào các giải pháp kỹ thuật đã được bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc dưới bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn hoặc trước ngày ưu tiên của đơn đăng ký sáng chế trong trường hợp đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên, sáng chế đó là một bước tiến sáng tạo, không thể được tạo ra một cách dễ dàng đối với người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng[7].

Trình độ sáng tạo được xem là một thuộc tính quan trọng để đánh giá chất lượng của các sáng chế. Theo đó, tính sáng tạo để sáng chế càng có giá trị và khả năng áp dụng trong các hoạt động kinh tế - xã hội hay phục vụ cuộc sống càng lớn. Trong một số trường hợp khi xem xét các tiêu chuẩn của một sáng chế để cấp văn bằng bảo hộ, tính sáng tạo có thể có ít, thậm chí không có tính sáng tạo[8]. Khi đó, chỉ cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích trong trường hợp sáng chế không đáp ứng tiêu chuẩn về tính sáng tạo nhưng có tính mới và có khả năng áp dụng công nghiệp thì sáng chế sẽ được bảo hộ dưới hình thức cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích nếu sáng chế này không phải là hiểu biết thông thường. Trường hợp này không đáp ứng được về tính sáng tạo nhưng vẫn đáp ứng được điều kiện là không phải những hiểu biết thông thường, tức không phải ai cũng có thể làm được, không phổ biến rộng rãi. Vấn đề này chỉ được bảo hộ với danh nghĩa là bằng giải pháp hữu ích chứ không phải sáng chế. Trên thực tế theo quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu, giải pháp hữu ích về bản chất cũng là sáng chế nhưng ở trình độ thấp hơn mà trong lĩnh vực pháp luật người ta gọi là sáng chế nhỏ hay mẫu hữu ích. Mặc dù vậy, pháp luật của nhiều nước trong đó có Việt Nam có sự phân biệt hai đối tượng này[9].

Vậy tiêu chí nào để đánh giá trình độ sáng tạo đó? Việc đánh giá trình độ sáng tạo của giải pháp kỹ thuật được thực hiện bằng cách đánh giá dấu hiệu (các dấu hiệu) cơ bản khác biệt nêu trong phạm vi (yêu cầu) bảo hộ để đưa ra kết luận: (i) Dấu hiệu (các dấu hiệu) cơ bản khác biệt có bị coi là đã được bộc lộ trong nguồn thông tin tối thiểu bắt buộc[10] hay không và (ii) Tập hợp các dấu hiệu cơ bản khác biệt có bị coi là có tính hiển nhiên đối với người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng hay không.

Ứng với một điểm thuộc phạm vi (yêu cầu) bảo hộ, giải pháp kỹ thuật được coi là có trình độ sáng tạo nếu việc đưa dấu hiệu cơ bản khác biệt vào tập hợp các dấu hiệu cơ bản của giải pháp kỹ thuật là kết quả của hoạt động sáng tạo và không phải là kết quả hiển nhiên của hiểu biết thông thường trong lĩnh vực kỹ thuật tương ứng.

Trong các trường hợp sau đây (nhưng không phải chỉ trong các trường hợp đó), ứng với một điểm thuộc phạm vi bảo hộ, giải pháp kỹ thuật bị coi là không có trình độ sáng tạo: (i) Tập hợp các dấu hiệu cơ bản khác biệt mang tính hiển nhiên (bất kỳ người nào có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng cũng biết rằng để thực hiện chức năng đã định hoặc để đạt được mục đích đã định tất yếu phải sử dụng tập hợp các dấu hiệu đó và ngược lại khi sử dụng tập hợp các dấu hiệu đó thì tất yếu phải đạt được mục đích hoặc thực hiện được chức năng tương ứng); (ii) Tập hợp các dấu hiệu cơ bản khác biệt đã được bộc lộ dưới dạng đồng nhất hoặc tương đương trong một/một số giải pháp kỹ thuật nào đó đã biết trong nguồn thông tin tối thiểu bắt buộc; (iii) Giải pháp kỹ thuật là sự kết hợp đơn giản của các giải pháp kỹ thuật đã biết với chức năng, mục đích và hiệu quả cũng là sự kết hợp đơn giản chức năng, mục đích và hiệu quả của từng giải pháp kỹ thuật đã biết.

Trong điểm này: (i) Hai dấu hiệu được coi là đồng nhất nếu có cùng bản chất; (ii) Hai dấu hiệu được coi là tương đương nếu có bản chất tương tự nhau có cùng mục đích và cách thức đạt được mục đích cơ bản là giống nhau[11].

Để được xem là có trình độ sáng tạo và được cấp bằng độc quyền sáng chế thì phải thỏa mãn được các điều kiện là các dấu hiệu cơ bản mang tính khác biệt không bộc lộ trong nguồn thông tin tối thiểu bắt buộc[12] và giải pháp kỹ thuật này không có tính hiển nhiên đối với người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng mà đòi hỏi phải đáp ứng được các yêu cầu nhất định, các tiêu chí, dấu hiệu cơ bản để phân biệt với các giải pháp kỹ thuật khác.

Tóm lại, trình độ sáng tạo là điều kiện bắt buộc để giải pháp kỷ thuật được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế, trong đó, sáng tạo là kết quả của những ý tưởng được hiện thực hóa và mô tả chi tiết trong điều kiện kỹ thuật hiện đại một người có kỹ năng thông thường (trình độ kỹ thuật trung bình) không thể tự tìm ra[13]. Trong tình hình kinh tế hội nhập hiện nay, hòa nhập chung với sự phát triển của nền kinh tế thế giới, vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cũng được chú trọng quan tâm. Đặc biệt vấn đề bảo hộ sáng chế thì được các quốc gia đặc biệt cân nhắc, chú trọng. Đối với Việt Nam là một nước đang phát triển, đang trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đòi hỏi, phải có những cơ chế, những chính sách, quy định về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và sáng chế nói riêng, nhằm thúc đẩy, khuyến khích hoạt động sáng chế của con người cũng như nhằm bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong nước trong thời kỳ hội nhập.

Võ Văn Tuấn Khanh
Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang


[1] Trang thông tin điện tử Thanh tra Bộ Khoa học và công nghệ, http://thanhtra.most.gov.vn/vi/article/so-huu-tri-tue-trong-tien-trinh-hoi-nhap-kinh-te-quoc-te.

[2] Trần Thanh Lâm: Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong bối cảnh hội nhập và xây dựng nền kinh tế tri thức - Viện Tài nguyên nước và Môi trường Đông - Nam Á, http://thanhtra.most.gov.vn/vi/cac-bai-nghien-cuu-shtt/bao-ho-quyen-so-huu-tri-tue-trong-boi-canh-hoi-nhap-va-xay-dung-nen-kinh-te-tri-thuc.

[3] Đại học Huế, Giáo trình pháp luật sở hữu trí tuệ, Nxb. Chính trị quốc gia - sự thật, năm 2012, tr. 130-137.

[4] Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ.

[5] Bộ khoa học và Công nghệ, Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN ngày 14/02/2007 hướng dẫn thi hành Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp, được sửa đổi, bổ sung theo Thông tư số 13/2010/TT-BKHCN ngày 30/7/2010 và Thông tư số 18/2011/TT-BKHCN ngày 22/7/2011.

[6] Đại học Huế, Giáo trình pháp luật sở hữu trí tuệ, Nxb. Chính trị quốc gia - sự thật, năm 2012, tr.130-137.

[7] Điều 61 Luật Sở hữu trí tuệ.

[8] Đại học Huế, Giáo trình pháp luật sở hữu trí tuệ, Nxb. Chính trị quốc gia - sự thật, năm 2012, tr. 130-137.

[9] Lê Hồng Hạnh: Vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, tr.75.

[10] Giải thích cụm từ “nguồn thông tin tối thiểu bắt buộc” theo quy định tại Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN ngày 14/02/2007:

’’25.5 Đánh giá tính mới theo quy định tại Điều 60 của Luật Sở hữu trí tuệ

a) Nguồn thông tin tối thiểu bắt buộc

Để đánh giá tính mới của giải pháp kỹ thuật nêu trong đơn, ít nhất phải tiến hành tra cứu thông tin trong các nguồn bắt buộc sau đây (nhưng không chỉ giới hạn việc tra cứu ở nguồn tối thiểu đó):

(i) Tất cả các đơn đăng ký sáng chế đã được Cục Sở hữu trí tuệ tiếp nhận có cùng chỉ số phân loại với chỉ số phân loại của đối tượng nêu trong đơn đang được thẩm định - tính đến chỉ số phân lớp (chỉ số hạng thứ ba) và có ngày công bố sớm hơn ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên của đơn đang được thẩm định;

(ii) Các đơn đăng ký sáng chế hoặc các văn bằng bảo hộ sáng chế do các tổ chức, quốc gia khác công bố, trong vòng 25 năm trước ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên của đơn đang được thẩm định (nếu đơn được hưởng quyền ưu tiên) được lưu giữ trong cơ sở dữ liệu sáng chế có tại Cục Sở hữu trí tuệ và các nguồn thông tin khác do Cục Sở hữu trí tuệ quy định, với phạm vi tra cứu quy định tại điểm 25.5.a (i) trên đây.

Trong trường hợp cần thiết và có thể, việc tra cứu được mở rộng đến các báo cáo khoa học, báo cáo kết quả của các chương trình, đề tài nghiên cứu và các tài liệu khác thuộc cùng lĩnh vực kỹ thuật được công bố và lưu giữ tại Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia’’.

[11] Bộ khoa học và Công nghệ, Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN ngày 14/02/2007 hướng dẫn thi hành Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp, được sửa đổi, bổ sung theo Thông tư số 13/2010/TT-BKHCN ngày 30/7/2010 và Thông tư số 18/2011/TT-BKHCN ngày 22/7/2011, Điều 25.6, b.

[12] Giải thích cụm từ “nguồn thông tin tối thiểu bắt buộc” theo quy định tại điểm 25.5 Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN ngày 14/02/2007:

“25.5 Đánh giá tính mới theo quy định tại Điều 60 của Luật Sở hữu trí tuệ

a) Nguồn thông tin tối thiểu bắt buộc

Để đánh giá tính mới của giải pháp kỹ thuật nêu trong đơn, ít nhất phải tiến hành tra cứu thông tin trong các nguồn bắt buộc sau đây (nhưng không chỉ giới hạn việc tra cứu ở nguồn tối thiểu đó):

(i) Tất cả các đơn đăng ký sáng chế đã được Cục Sở hữu trí tuệ tiếp nhận có cùng chỉ số phân loại với chỉ số phân loại của đối tượng nêu trong đơn đang được thẩm định - tính đến chỉ số phân lớp (chỉ số hạng thứ ba) và có ngày công bố sớm hơn ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên của đơn đang được thẩm định;

(ii) Các đơn đăng ký sáng chế hoặc các văn bằng bảo hộ sáng chế do các tổ chức, quốc gia khác công bố, trong vòng 25 năm trước ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên của đơn đang được thẩm định (nếu đơn được hưởng quyền ưu tiên) được lưu giữ trong cơ sở dữ liệu sáng chế có tại Cục Sở hữu trí tuệ và các nguồn thông tin khác do Cục Sở hữu trí tuệ quy định, với phạm vi tra cứu quy định tại điểm 25.5.a (i) trên đây.

Trong trường hợp cần thiết và có thể, việc tra cứu được mở rộng đến các báo cáo khoa học, báo cáo kết quả của các chương trình, đề tài nghiên cứu và các tài liệu khác thuộc cùng lĩnh vực kỹ thuật được công bố và lưu giữ tại Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia”.

[13] TS. Trần Lê Đăng Phương, Bài giảng Luật Sở hữu trí tuệ, năm 2015 - 2016, tr. 60.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: