Thứ bảy 12/09/2026 06:12
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tìm hiểu về kết cấu hành chính địa phương của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa theo Hiến pháp năm 1982

Về chế độ chính trị cũng như về mô hình tổ chức nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa có nhiều điểm tương đồng. Vì vậy, khi nghiên cứu vấn đề cải cách chính quyền địa phương ở Việt Nam thì Trung Quốc được xem là một đối mẫu rất thích hợp để tham khảo và học tập. Tuy nhiên, cần thấy rằng, bản thân việc xác định các cấp hành chính địa phương ở Trung Quốc phức tạp hơn ở Việt Nam, nên các quy định về vị trí, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương cũng phong phú và mang tính phân hóa cao hơn.

1. Về khái niệm đơn vị hành chính và chính quyền địa phương

Về mặt lý luận, nhìn chung chính quyền địa phương (CQĐP) thường được hiểu là tập hợp các cơ quan thực thi quyền lực nhà nước ở địa phương nhưng phạm vi của tập hợp này có thể rộng hay hẹp tùy theo cách quan niệm. Có tác giả cho rằng, cơ quan chính quyền địa phương về nguyên tắc phải do nhân dân địa phương trực tiếp bầu ra hoặc do cơ quan đại diện nhân dân ở địa phương đó thành lập. Hiểu theo cách này CQĐP không bao gồm những cơ quan do cấp trên bổ nhiệm hoặc chỉ định xuống[1]. Cách quan niệm rộng hơn thì cho rằng “CQĐP có thể chỉ là một cơ quan hành chính được thiết lập bằng nhiều cách thức khác nhau, có thể do cơ quan hành chính cấp trên quyết định thành lập, hay do HĐND cấp dưới bầu, hoặc theo cách thức khác”[2]. ở Việt Nam, chúng ta thường tiếp cận khái niệm chính quyền địa phương theo nghĩa hẹp, phần đông các học giả xác định chính quyền địa phương gồm Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân mà không bao gồm cơ quan xét xử và cơ quan kiểm sát ở địa phương (song cũng có học giả cho rằng cần xem bản thân nhân dân địa phương là một chủ thể quan trọng nhất của chính quyền địa phương[3]).

Rất gần gũi với khái niệm “chính quyền địa phương” chúng ta có khái niệm “đơn vị hành chính”. Nói cách khác, không thể xây dựng định nghĩa “chính quyền địa phương” nếu không thông qua khái niệm “đơn vị hành chính”. Về mối quan hệ giữa hai khái niệm này, có tác giả đồng nhất chính quyền địa phương với đơn vị hành chính, từ đó đề cập đến việc phải nhìn nhận tư cách pháp nhân đối với đơn vị hành chính. Ngược lại, có tác giả đặc biệt nhấn mạnh đến sự khác biệt giữa hai thuật ngữ nói trên, từ đó kiến nghị phải xây dựng Luật Tổ chức đơn vị hành chính bên cạnh Luật Tổ chức chính quyền địa phương[4]. Theo người viết, cần thiết phải phân biệt chính quyền địa phương với đơn vị hành chính ở một mức độ nhất định. Đơn vị hành chính nên được hiểu là một đơn vị lãnh thổ xác định có địa giới được phân định bởi một quyết định mang tính hành chính và là khách thể của hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Chính quyền địa phương nên được hiểu là một tổ hợp thiết chế công quyền được thiết lập trên một đơn vị hành chính, thực thi quyền lực nhà nước và cung cấp các dịch vụ công trong phạm vi đơn vị hành chính đó. Nói cách khác, chính quyền địa phương có tư cách của pháp nhân công quyền và đóng vai trò chủ thể trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước.

Các đơn vị hành chính theo nghĩa này là các phần tử hợp thành lãnh thổ của một quốc gia, căn cứ vào địa vị pháp lý của từng loại đơn vị hành chính ta có các lát cắt gọi là “cấp hành chính”. Trong khi đó, chính quyền các địa phương cùng với chính quyền trung ương là các phần tử hợp thành bộ máy nhà nước (tất nhiên khái niệm bộ máy nhà nước bao gồm cả các phân hệ cơ quan khác nữa), theo các lát cắt chúng ta có các “cấp chính quyền”. “Cấp hành chính” và “cấp chính quyền” không nhất thiết phải trùng khớp với nhau bởi trong các cấp hành chính địa phương có thể có cấp trung gian (cấp hành chính nhân tạo) nơi mà ở đó không cần tổ chức cấp chính quyền hoàn chỉnh.

2. Địa phương và cơ sở phân định các cấp hành chính địa phương ở Trung Quốc

Một số quan điểm hiện nay cho rằng, ở các nhà nước có cấu trúc liên bang, do mỗi bang thành viên có tính chất của một nhà nước độc lập tương đối nên chúng có tư cách như một cấp hành chính trung gian, còn các đơn vị hành chính lãnh thổ được phân ra từ các bang mới được xem là địa phương. Theo đó, mỗi bang có thể có cách phân chia lãnh thổ khác nhau và có số lượng cấp hành chính địa phương khác nhau. Trong khi đó ở các quốc gia có hình thức cấu trúc đơn nhất, “địa phương” được hiểu đơn giản là mọi đơn vị hành chính nhỏ hơn quốc gia và hợp thành lãnh thổ quốc gia đơn nhất. Cách hiểu này cũng tương đồng với định nghĩa về mục từ “địa phương” được đưa ra trong Từ điển tiếng Việt thông dụng của Nhà xuất bản Giáo dục (Nguyễn Như ý chủ biên), theo đó địa phương là“các vùng được phân ra từ một tổ chức hành chính cao nhất là trung ương”. Dù mang trong mình những yếu tố đơn biệt nhưng về cơ bản, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa vẫn được xác định là một nhà nước có cấu trúc đơn nhất, do vậy, chúng ta hoàn toàn có thể tiếp cận theo cách hiểu nêu trên khi xem xét về các cấp hành chính địa phương được quy định trong Hiến pháp năm 1982 của Trung Quốc.

Điều 30 Hiến pháp Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1982 quy định:

“Điều 30. Khu vực hành chính

Các khu vực hành chính nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được phân định như sau:

1. Cả nước phân thành tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương.

2. Tỉnh, khu tự trị phân thành châu tự trị, huyện, huyện tự trị, thành phố.

3. Huyện, huyện tự trị phân thành hương, hương dân tộc, trấn.

Thành phố trực thuộc trung ương và thành phố tương đối lớn phân thành khu và huyện. Châu tự trị phân thành huyện, huyện tự trị, thành phố.

Khu tự trị, châu tự trị, huyện tự trị đều là khu tự trị dân tộc địa phương”.

Ngoài ra, lãnh thổ Trung Quốc còn bao gồm các vùng lãnh thổ được gọi là đặc khu hành chính được quy định tại Điều 31, các đặc khu hành chính này xét về cấp hành chính thì nằm ngang hàng với các tỉnh, khu tự trị và thành phố trực thuộc trung ương:

“Điều 31. Khu vực hành chính đặc biệt

Nhà nước trong trường hợp cần thiết có thể thành lập khu hành chính đặc biệt. Trong khu hành chính đặc biệt thi hành chế độ căn cứ theo tình hình cụ thể do Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc quy định theo pháp luật”.

Hiện Trung Quốc chỉ có hai đặc khu hành chính là Ma Cao và Hồng Kông, tức các vùng nhượng địa trước đây. Trong khuôn khổ của bài viết, người viết không đi sâu vào loại đơn vị hành chính đặc biệt này.

Quay trở lại với Điều 30 Hiến pháp Trung Quốc năm 1982, cách kết cấu 3 khoản và sự sắp xếp thiếu trật tự dễ dẫn đến một sự hiểu lầm rằng Trung Quốc có 3 cấp hành chính địa phương bao gồm cấp tỉnh (tương đương với tỉnh có khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương), cấp huyện (tương đương với huyện có huyện tự trị, châu tự trị, thành phố) và cấp hương (tương đương với hương có hương dân tộc, trấn). Tuy nhiên trên thực tế, Trung Quốc có tới 4 cấp hành chính địa phương[5] với cấp địa khu là một cấp đặc thù nằm dưới cấp tỉnh nhưng trên cấp huyện (không có cấp tương đương ở Việt Nam). Cấp địa khu là tên gọi chung dùng để chỉ các đơn vị hành chính thuộc cấp hành chính địa phương thứ hai, bao gồm:

- Tự trị châu: Diễn đạt theo trật tự từ tiếng Việt là châu tự trị.

- Địa cấp thị (tiếng Anh: Prefectural-level city): Dịch ra là thành phố cấp địa khu, cũng có khi gọi là “tỉnh hạt thị” dịch ra là thành phố trực thuộc tỉnh. Một số địa cấp thị được nâng cấp lên thành “phó tỉnh cấp thành thị” - thành phố phó tỉnh. Thành phố phó tỉnh là các thành phố lớn, phát triển, có mức độ đô thị hóa cao, tuy về mặt hành chính nằm ngang hàng với địa cấp thị nhưng lại được trao nhiều quyền tự quyết hơn[6].

- Địa khu (tiếng Anh: Prefecture): Phần lớn đã được chuyển đổi sang mô hình địa cấp thị, hiện chỉ còn lại 14 đơn vị hành chính có tên gọi là địa khu.

- Minh: Đơn vị hành chính chỉ tồn tại ở Nội Mông Cổ, hiện cũng chỉ còn lại 3 minh.

Ngoài Hồng Kông và Ma Cao, Trung Quốc hiện có 31 đơn vị hành chính cấp tỉnh, bao gồm 22 tỉnh, 5 khu tự trị, 4 trực hạt thị (thành phố trực thuộc trung ương)[7]. Hầu hết các đơn vị có tên gọi là tỉnh và khu tự trị đều chia thành châu tự trị và địa cấp thị rồi mới chia tiếp thành huyện, huyện tự trị, huyện cấp thị (có thể dịch là thị xã hoặc đô thị cấp huyện)… Tuy nhiên, cá biệt tỉnh Hải Nam lại có cấu tạo hành chính độc đáo với các huyện, huyện tự trị, phó địa cấp thị (một dạng huyện cấp thị cao cấp) nằm ngay dưới tỉnh một cách trực tiếp, bên cạnh đó vẫn có 4 địa cấp thị là Hải Khẩu, Tam á, Đam Châu và Tam Sa[8]. Chính vì vậy, khoản 2 Điều 30 Hiến pháp năm 1982 của Trung Quốc buộc phải quy định tỉnh, khu tự trị phân thành châu tự trị, huyện, huyện tự trị và thành phố (thực chất bao gồm 2 loại thành phố là địa cấp thị/phó tỉnh cấp thành thị và huyện cấp thị/phó địa cấp thị) để bao quát hết mọi trường hợp. Trong khi đó các trực hạt thị lại được chia thẳng xuống cấp hành chính địa phương thứ 3 là quận (thị hạt khu) và huyện. Đây có thể xem là nguyên nhân chính dẫn đến sự nhập nhằng giữa cấp hành chính địa phương thứ hai và thứ ba.

Các đơn vị hành chính còn lại của Trung Quốc đều có đơn vị tương ứng ở Việt Nam nên khá tiện đối sánh. Huyện, huyện tự trị của Trung Quốc tương đương với huyện của Việt Nam, khu (gọi đầy đủ là thị hạt khu) của Trung Quốc tương đương với quận (nội thành) của Việt Nam. Hương, hương tự trị của Trung Quốc tương đương với xã của Việt Nam. Có một lưu ý nhỏ rằng đơn vị hành chính dưới khu được gọi là nhai đạo (tên đầy đủ: Nhai đạo biện sự xứ) tương đương với phường của Việt Nam lại không được nêu tên trong Điều 30 Hiến pháp Trung Hoa năm 1982. Tương tự như Việt Nam, Trung Quốc cũng không công nhận thôn là một cấp hành chính chính thức.

3. Một số nhận xét

Có thể nói, quy định trong Hiến pháp của Trung Quốc về phân định khu vực hành chính không phản ánh được đầy đủ và sáng rõ cấu trúc hành chính lãnh thổ Trung Quốc trên thực tế, thể hiện việc không phân định được rạch ròi các cấp hành chính địa phương và một số đơn vị hành chính chính thức tuy tồn tại trên thực tế, nhưng không được nêu tên trong Hiến pháp.

Về mặt cấu tạo lãnh thổ, Trung Quốc tồn tại nhiều yếu tố đơn biệt hiện hữu, biến nó trở thành một Nhà nước đơn nhất phức tạp. Các yếu tố đó bao gồm:

- Yếu tố chuyển tiếp: Ma Cao và Hồng Kông vốn là những vùng nhượng địa mà Trung Quốc đã cắt cho quốc gia khác. Sau khi được trả về cho Trung Quốc, các vùng lãnh thổ này vẫn giữ lại một số đặc điểm của nền hành chính cũ. Mặc dù gọi là khu vực hành chính đặc biệt nhưng trên thực tế, không chỉ về phương diện hành chính mà ngay cả chế độ chính trị, các vùng lãnh thổ này cũng không hoàn toàn nhất thống với Trung Quốc lục địa. Bên cạnh đó cũng phải nói đến việc Trung Quốc hiện nay không công nhận sự độc lập của Đài Loan và (muốn) coi Đài Loan là tỉnh thứ 23 của họ.

- Yếu tố tự trị: Yếu tố tự trị xuất hiện rất dày đặc trong hệ thống hành chính của Trung Quốc ở các cấp độ khác nhau: Khu tự trị, châu tự trị, huyện tự trị (được gọi chung là “địa phương tự trị dân tộc” hoặc “khu tự trị dân tộc”). Các địa phương tự trị dân tộc có quy chế pháp lý không hoàn toàn giống như các địa phương thông thường mà được điều chỉnh để bảo đảm quyền tự trị của người dân tộc bản địa phù hợp với đặc điểm của từng vùng.

- Yếu tố quá độ: Như đã đề cập ở mục 1.2, ở Trung Quốc có một loại thành phố đặc biệt là “phó tỉnh cấp thành thị”, một số tài liệu dịch là thành phố phó tỉnh. Chữ “phó” ở đây có nghĩa là phụ trợ, hạng nhì bởi vậy các phó tỉnh cấp thành thị có thể được hiểu nôm na là các “tỉnh loại hai”. Các thành phố này tuy nằm ngang hàng với đơn vị hành chính cấp 2 (cấp địa khu) nhưng có xu hướng phát triển lên thành đơn vị hành chính cấp 1 (có thể là tỉnh hoặc thành phố trực thuộc trung ương). Chính bởi vậy, quy chế pháp lý của các phó tỉnh cấp thành thị này cũng được mở rộng hơn so với các địa cấp thị. Tương tự như vậy, các phó địa cấp thị có quy chế pháp lý được mở rộng hơn so với các huyện cấp thị, mặc dù cùng được đặt ngang hàng ở cấp hành chính địa phương thứ 3.

Những nét độc đáo nói trên trong kết cấu hành chính địa phương của Trung Quốc dẫn tới sự phân hóa rất cao trong các quy định về chính quyền địa phương của nước này trong Hiến pháp năm 1982. Bởi vậy, không thể vận dụng một cách chính xác cách thức tổ chức và hoạt động của họ nếu chúng ta bỏ qua việc tìm hiểu về sự phân cấp hành chính.

ThS. Phạm Vĩnh Hà

Đại học Luật Hà Nội



Tài liệu tham khảo:

[1]. Xem Trương Đắc Linh, “Bàn về khái niệm CQĐP và tên gọi của Luật tổ chức HĐND và UNBD hiện hành”. Tạp chí Khoa học pháp lý, số 2/2001.

[2]. Xem Phạm Hồng Thái, “Quy định của Hiến pháp năm 2013 về chính quyền địa phương và việc ban hành Luật Tổ chức chính quyền địa phương”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 3+4/2015.

[3]. Xem Nguyễn Trọng Hải, “Cần xác định rõ chủ thể của chính quyền địa phương trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992”, Tạp chí Tổ chức nhà nước, số 4/2013.

[4]. Xem Nguyễn Ngọc Toán, “Một số góp ý về chương Tổ chức đơn vị hành chính trong Dự thảo Luật Tổ chức chính quyền địa phương”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 24/2014.

[5]. http://thinkingchinese.com/index.php?page_id=126.

[6]. http://www.china.org.cn/english/Political/28842.htm.

[7]. http://www.gov.cn/test/2005-06/15/content_18253.htm.

[8]. Chủ quyền của Tam Sa hiện nay đang nằm trong vòng tranh chấp.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Trong bước chuyển mình của đất nước bước vào kỷ nguyên mới, văn hóa đang được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Cùng với đó, con người được xác định là trung tâm của sự nghiệp phát triển văn hóa khi vừa là chủ thể sáng tạo, gìn giữ, vừa là lực lượng trực tiếp biến những giá trị ấy thành nguồn lực phát triển cho đất nước.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: