Thứ năm 22/01/2026 18:12
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tìm hiểu về kết cấu hành chính địa phương của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa theo Hiến pháp năm 1982

Về chế độ chính trị cũng như về mô hình tổ chức nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa có nhiều điểm tương đồng. Vì vậy, khi nghiên cứu vấn đề cải cách chính quyền địa phương ở Việt Nam thì Trung Quốc được xem là một đối mẫu rất thích hợp để tham khảo và học tập. Tuy nhiên, cần thấy rằng, bản thân việc xác định các cấp hành chính địa phương ở Trung Quốc phức tạp hơn ở Việt Nam, nên các quy định về vị trí, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương cũng phong phú và mang tính phân hóa cao hơn.

1. Về khái niệm đơn vị hành chính và chính quyền địa phương

Về mặt lý luận, nhìn chung chính quyền địa phương (CQĐP) thường được hiểu là tập hợp các cơ quan thực thi quyền lực nhà nước ở địa phương nhưng phạm vi của tập hợp này có thể rộng hay hẹp tùy theo cách quan niệm. Có tác giả cho rằng, cơ quan chính quyền địa phương về nguyên tắc phải do nhân dân địa phương trực tiếp bầu ra hoặc do cơ quan đại diện nhân dân ở địa phương đó thành lập. Hiểu theo cách này CQĐP không bao gồm những cơ quan do cấp trên bổ nhiệm hoặc chỉ định xuống[1]. Cách quan niệm rộng hơn thì cho rằng “CQĐP có thể chỉ là một cơ quan hành chính được thiết lập bằng nhiều cách thức khác nhau, có thể do cơ quan hành chính cấp trên quyết định thành lập, hay do HĐND cấp dưới bầu, hoặc theo cách thức khác”[2]. ở Việt Nam, chúng ta thường tiếp cận khái niệm chính quyền địa phương theo nghĩa hẹp, phần đông các học giả xác định chính quyền địa phương gồm Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân mà không bao gồm cơ quan xét xử và cơ quan kiểm sát ở địa phương (song cũng có học giả cho rằng cần xem bản thân nhân dân địa phương là một chủ thể quan trọng nhất của chính quyền địa phương[3]).

Rất gần gũi với khái niệm “chính quyền địa phương” chúng ta có khái niệm “đơn vị hành chính”. Nói cách khác, không thể xây dựng định nghĩa “chính quyền địa phương” nếu không thông qua khái niệm “đơn vị hành chính”. Về mối quan hệ giữa hai khái niệm này, có tác giả đồng nhất chính quyền địa phương với đơn vị hành chính, từ đó đề cập đến việc phải nhìn nhận tư cách pháp nhân đối với đơn vị hành chính. Ngược lại, có tác giả đặc biệt nhấn mạnh đến sự khác biệt giữa hai thuật ngữ nói trên, từ đó kiến nghị phải xây dựng Luật Tổ chức đơn vị hành chính bên cạnh Luật Tổ chức chính quyền địa phương[4]. Theo người viết, cần thiết phải phân biệt chính quyền địa phương với đơn vị hành chính ở một mức độ nhất định. Đơn vị hành chính nên được hiểu là một đơn vị lãnh thổ xác định có địa giới được phân định bởi một quyết định mang tính hành chính và là khách thể của hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Chính quyền địa phương nên được hiểu là một tổ hợp thiết chế công quyền được thiết lập trên một đơn vị hành chính, thực thi quyền lực nhà nước và cung cấp các dịch vụ công trong phạm vi đơn vị hành chính đó. Nói cách khác, chính quyền địa phương có tư cách của pháp nhân công quyền và đóng vai trò chủ thể trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước.

Các đơn vị hành chính theo nghĩa này là các phần tử hợp thành lãnh thổ của một quốc gia, căn cứ vào địa vị pháp lý của từng loại đơn vị hành chính ta có các lát cắt gọi là “cấp hành chính”. Trong khi đó, chính quyền các địa phương cùng với chính quyền trung ương là các phần tử hợp thành bộ máy nhà nước (tất nhiên khái niệm bộ máy nhà nước bao gồm cả các phân hệ cơ quan khác nữa), theo các lát cắt chúng ta có các “cấp chính quyền”. “Cấp hành chính” và “cấp chính quyền” không nhất thiết phải trùng khớp với nhau bởi trong các cấp hành chính địa phương có thể có cấp trung gian (cấp hành chính nhân tạo) nơi mà ở đó không cần tổ chức cấp chính quyền hoàn chỉnh.

2. Địa phương và cơ sở phân định các cấp hành chính địa phương ở Trung Quốc

Một số quan điểm hiện nay cho rằng, ở các nhà nước có cấu trúc liên bang, do mỗi bang thành viên có tính chất của một nhà nước độc lập tương đối nên chúng có tư cách như một cấp hành chính trung gian, còn các đơn vị hành chính lãnh thổ được phân ra từ các bang mới được xem là địa phương. Theo đó, mỗi bang có thể có cách phân chia lãnh thổ khác nhau và có số lượng cấp hành chính địa phương khác nhau. Trong khi đó ở các quốc gia có hình thức cấu trúc đơn nhất, “địa phương” được hiểu đơn giản là mọi đơn vị hành chính nhỏ hơn quốc gia và hợp thành lãnh thổ quốc gia đơn nhất. Cách hiểu này cũng tương đồng với định nghĩa về mục từ “địa phương” được đưa ra trong Từ điển tiếng Việt thông dụng của Nhà xuất bản Giáo dục (Nguyễn Như ý chủ biên), theo đó địa phương là“các vùng được phân ra từ một tổ chức hành chính cao nhất là trung ương”. Dù mang trong mình những yếu tố đơn biệt nhưng về cơ bản, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa vẫn được xác định là một nhà nước có cấu trúc đơn nhất, do vậy, chúng ta hoàn toàn có thể tiếp cận theo cách hiểu nêu trên khi xem xét về các cấp hành chính địa phương được quy định trong Hiến pháp năm 1982 của Trung Quốc.

Điều 30 Hiến pháp Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1982 quy định:

“Điều 30. Khu vực hành chính

Các khu vực hành chính nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được phân định như sau:

1. Cả nước phân thành tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương.

2. Tỉnh, khu tự trị phân thành châu tự trị, huyện, huyện tự trị, thành phố.

3. Huyện, huyện tự trị phân thành hương, hương dân tộc, trấn.

Thành phố trực thuộc trung ương và thành phố tương đối lớn phân thành khu và huyện. Châu tự trị phân thành huyện, huyện tự trị, thành phố.

Khu tự trị, châu tự trị, huyện tự trị đều là khu tự trị dân tộc địa phương”.

Ngoài ra, lãnh thổ Trung Quốc còn bao gồm các vùng lãnh thổ được gọi là đặc khu hành chính được quy định tại Điều 31, các đặc khu hành chính này xét về cấp hành chính thì nằm ngang hàng với các tỉnh, khu tự trị và thành phố trực thuộc trung ương:

“Điều 31. Khu vực hành chính đặc biệt

Nhà nước trong trường hợp cần thiết có thể thành lập khu hành chính đặc biệt. Trong khu hành chính đặc biệt thi hành chế độ căn cứ theo tình hình cụ thể do Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc quy định theo pháp luật”.

Hiện Trung Quốc chỉ có hai đặc khu hành chính là Ma Cao và Hồng Kông, tức các vùng nhượng địa trước đây. Trong khuôn khổ của bài viết, người viết không đi sâu vào loại đơn vị hành chính đặc biệt này.

Quay trở lại với Điều 30 Hiến pháp Trung Quốc năm 1982, cách kết cấu 3 khoản và sự sắp xếp thiếu trật tự dễ dẫn đến một sự hiểu lầm rằng Trung Quốc có 3 cấp hành chính địa phương bao gồm cấp tỉnh (tương đương với tỉnh có khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương), cấp huyện (tương đương với huyện có huyện tự trị, châu tự trị, thành phố) và cấp hương (tương đương với hương có hương dân tộc, trấn). Tuy nhiên trên thực tế, Trung Quốc có tới 4 cấp hành chính địa phương[5] với cấp địa khu là một cấp đặc thù nằm dưới cấp tỉnh nhưng trên cấp huyện (không có cấp tương đương ở Việt Nam). Cấp địa khu là tên gọi chung dùng để chỉ các đơn vị hành chính thuộc cấp hành chính địa phương thứ hai, bao gồm:

- Tự trị châu: Diễn đạt theo trật tự từ tiếng Việt là châu tự trị.

- Địa cấp thị (tiếng Anh: Prefectural-level city): Dịch ra là thành phố cấp địa khu, cũng có khi gọi là “tỉnh hạt thị” dịch ra là thành phố trực thuộc tỉnh. Một số địa cấp thị được nâng cấp lên thành “phó tỉnh cấp thành thị” - thành phố phó tỉnh. Thành phố phó tỉnh là các thành phố lớn, phát triển, có mức độ đô thị hóa cao, tuy về mặt hành chính nằm ngang hàng với địa cấp thị nhưng lại được trao nhiều quyền tự quyết hơn[6].

- Địa khu (tiếng Anh: Prefecture): Phần lớn đã được chuyển đổi sang mô hình địa cấp thị, hiện chỉ còn lại 14 đơn vị hành chính có tên gọi là địa khu.

- Minh: Đơn vị hành chính chỉ tồn tại ở Nội Mông Cổ, hiện cũng chỉ còn lại 3 minh.

Ngoài Hồng Kông và Ma Cao, Trung Quốc hiện có 31 đơn vị hành chính cấp tỉnh, bao gồm 22 tỉnh, 5 khu tự trị, 4 trực hạt thị (thành phố trực thuộc trung ương)[7]. Hầu hết các đơn vị có tên gọi là tỉnh và khu tự trị đều chia thành châu tự trị và địa cấp thị rồi mới chia tiếp thành huyện, huyện tự trị, huyện cấp thị (có thể dịch là thị xã hoặc đô thị cấp huyện)… Tuy nhiên, cá biệt tỉnh Hải Nam lại có cấu tạo hành chính độc đáo với các huyện, huyện tự trị, phó địa cấp thị (một dạng huyện cấp thị cao cấp) nằm ngay dưới tỉnh một cách trực tiếp, bên cạnh đó vẫn có 4 địa cấp thị là Hải Khẩu, Tam á, Đam Châu và Tam Sa[8]. Chính vì vậy, khoản 2 Điều 30 Hiến pháp năm 1982 của Trung Quốc buộc phải quy định tỉnh, khu tự trị phân thành châu tự trị, huyện, huyện tự trị và thành phố (thực chất bao gồm 2 loại thành phố là địa cấp thị/phó tỉnh cấp thành thị và huyện cấp thị/phó địa cấp thị) để bao quát hết mọi trường hợp. Trong khi đó các trực hạt thị lại được chia thẳng xuống cấp hành chính địa phương thứ 3 là quận (thị hạt khu) và huyện. Đây có thể xem là nguyên nhân chính dẫn đến sự nhập nhằng giữa cấp hành chính địa phương thứ hai và thứ ba.

Các đơn vị hành chính còn lại của Trung Quốc đều có đơn vị tương ứng ở Việt Nam nên khá tiện đối sánh. Huyện, huyện tự trị của Trung Quốc tương đương với huyện của Việt Nam, khu (gọi đầy đủ là thị hạt khu) của Trung Quốc tương đương với quận (nội thành) của Việt Nam. Hương, hương tự trị của Trung Quốc tương đương với xã của Việt Nam. Có một lưu ý nhỏ rằng đơn vị hành chính dưới khu được gọi là nhai đạo (tên đầy đủ: Nhai đạo biện sự xứ) tương đương với phường của Việt Nam lại không được nêu tên trong Điều 30 Hiến pháp Trung Hoa năm 1982. Tương tự như Việt Nam, Trung Quốc cũng không công nhận thôn là một cấp hành chính chính thức.

3. Một số nhận xét

Có thể nói, quy định trong Hiến pháp của Trung Quốc về phân định khu vực hành chính không phản ánh được đầy đủ và sáng rõ cấu trúc hành chính lãnh thổ Trung Quốc trên thực tế, thể hiện việc không phân định được rạch ròi các cấp hành chính địa phương và một số đơn vị hành chính chính thức tuy tồn tại trên thực tế, nhưng không được nêu tên trong Hiến pháp.

Về mặt cấu tạo lãnh thổ, Trung Quốc tồn tại nhiều yếu tố đơn biệt hiện hữu, biến nó trở thành một Nhà nước đơn nhất phức tạp. Các yếu tố đó bao gồm:

- Yếu tố chuyển tiếp: Ma Cao và Hồng Kông vốn là những vùng nhượng địa mà Trung Quốc đã cắt cho quốc gia khác. Sau khi được trả về cho Trung Quốc, các vùng lãnh thổ này vẫn giữ lại một số đặc điểm của nền hành chính cũ. Mặc dù gọi là khu vực hành chính đặc biệt nhưng trên thực tế, không chỉ về phương diện hành chính mà ngay cả chế độ chính trị, các vùng lãnh thổ này cũng không hoàn toàn nhất thống với Trung Quốc lục địa. Bên cạnh đó cũng phải nói đến việc Trung Quốc hiện nay không công nhận sự độc lập của Đài Loan và (muốn) coi Đài Loan là tỉnh thứ 23 của họ.

- Yếu tố tự trị: Yếu tố tự trị xuất hiện rất dày đặc trong hệ thống hành chính của Trung Quốc ở các cấp độ khác nhau: Khu tự trị, châu tự trị, huyện tự trị (được gọi chung là “địa phương tự trị dân tộc” hoặc “khu tự trị dân tộc”). Các địa phương tự trị dân tộc có quy chế pháp lý không hoàn toàn giống như các địa phương thông thường mà được điều chỉnh để bảo đảm quyền tự trị của người dân tộc bản địa phù hợp với đặc điểm của từng vùng.

- Yếu tố quá độ: Như đã đề cập ở mục 1.2, ở Trung Quốc có một loại thành phố đặc biệt là “phó tỉnh cấp thành thị”, một số tài liệu dịch là thành phố phó tỉnh. Chữ “phó” ở đây có nghĩa là phụ trợ, hạng nhì bởi vậy các phó tỉnh cấp thành thị có thể được hiểu nôm na là các “tỉnh loại hai”. Các thành phố này tuy nằm ngang hàng với đơn vị hành chính cấp 2 (cấp địa khu) nhưng có xu hướng phát triển lên thành đơn vị hành chính cấp 1 (có thể là tỉnh hoặc thành phố trực thuộc trung ương). Chính bởi vậy, quy chế pháp lý của các phó tỉnh cấp thành thị này cũng được mở rộng hơn so với các địa cấp thị. Tương tự như vậy, các phó địa cấp thị có quy chế pháp lý được mở rộng hơn so với các huyện cấp thị, mặc dù cùng được đặt ngang hàng ở cấp hành chính địa phương thứ 3.

Những nét độc đáo nói trên trong kết cấu hành chính địa phương của Trung Quốc dẫn tới sự phân hóa rất cao trong các quy định về chính quyền địa phương của nước này trong Hiến pháp năm 1982. Bởi vậy, không thể vận dụng một cách chính xác cách thức tổ chức và hoạt động của họ nếu chúng ta bỏ qua việc tìm hiểu về sự phân cấp hành chính.

ThS. Phạm Vĩnh Hà

Đại học Luật Hà Nội



Tài liệu tham khảo:

[1]. Xem Trương Đắc Linh, “Bàn về khái niệm CQĐP và tên gọi của Luật tổ chức HĐND và UNBD hiện hành”. Tạp chí Khoa học pháp lý, số 2/2001.

[2]. Xem Phạm Hồng Thái, “Quy định của Hiến pháp năm 2013 về chính quyền địa phương và việc ban hành Luật Tổ chức chính quyền địa phương”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 3+4/2015.

[3]. Xem Nguyễn Trọng Hải, “Cần xác định rõ chủ thể của chính quyền địa phương trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992”, Tạp chí Tổ chức nhà nước, số 4/2013.

[4]. Xem Nguyễn Ngọc Toán, “Một số góp ý về chương Tổ chức đơn vị hành chính trong Dự thảo Luật Tổ chức chính quyền địa phương”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 24/2014.

[5]. http://thinkingchinese.com/index.php?page_id=126.

[6]. http://www.china.org.cn/english/Political/28842.htm.

[7]. http://www.gov.cn/test/2005-06/15/content_18253.htm.

[8]. Chủ quyền của Tam Sa hiện nay đang nằm trong vòng tranh chấp.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: