Chủ nhật 08/02/2026 05:32
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tình hình thực hiện Đề án 06 trên địa bàn Thành phố Hà Nội trong 06 tháng đầu năm 2024

Trong 06 tháng đầu năm 2024, Thành phố Hà Nội tiếp tục phát huy sự chủ động, tích cực, quyết liệt trong thực hiện các nội dung công tác phục vụ triển khai thực hiện Đề án 06/CP về phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030 trên địa bàn Thành phố; giữ vững vị thế là địa phương tiên phong đi đầu trong thực hiện Đề án 06/CP đảm bảo tiến độ, lộ trình đã được đề ra.

Những kết quả đã đạt được

Lực lượng Công an cấp huyện, cấp xã đã triển khai thực hiện quyết liệt các giải pháp làm sạch dữ liệu dân cư, tiêm chủng, hộ tịch, đoàn thể… đảm bảo cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư “đúng, đủ, sạch, sống” phục vụ kết nối, tích hợp, chia sẻ với các cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác; thực hiện nghiêm túc công tác thu nhận hồ sơ căn cước công dân, tài khoản định danh điện tử, đăng ký, quản lý cư trú và tiếp nhận, giải quyết hồ sơ trên Cổng dịch vụ công trực tuyến đều được triển khai thực hiện nghiêm túc và đã hoàn thành các chỉ tiêu được Bộ Công an giao cho Công an Thành phố.

Với những nhiệm vụ Tổ công tác Chính phủ giao triển khai thí điểm trên địa bàn Thành phố Hà Nội trong năm 2024, bao gồm: Xây dựng Sổ sức khỏe điện tử, Hồ sơ sức khỏe điện tử; tuyên truyền, vận động, hướng dẫn người dân thực hiện mở tài khoản phục vụ chi trả an sinh xã hội không dùng tiền mặt trên địa bàn Thành phố Hà Nội; triển khai ứng dụng mô hình thu phí trông giữ phương tiện không dùng tiền mặt; thí điểm cấp Phiếu Lý lịch tư pháp trên ứng dụng VneID... Cơ bản, Thành phố đều thực hiện nghiêm túc, tiến độ nhanh, có kết quả cụ thể, rõ ràng.

Trong thời gian tới, bám sát chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Tổ công tác Chính phủ, Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ Công an (Cục C06) và Thành phố Hà Nội sẽ tập trung triển khai các giải pháp chuyển đổi số sang sử dụng VNeID là tài khoản duy nhất trong thực hiện dịch vụ công trực tuyến theo Nghị định số 59/2022/NĐ-CP ngày 05/9/2022 của Chính phủ quy định về định danh và xác thực điện tử (kể từ ngày 01/7/2024) và thực hiện đồng bộ các giải pháp, biện pháp, xây dựng 28 mô hình điểm về chuyển đổi số để triển khai thực hiện kịp thời, có hiệu quả các nhiệm vụ của Đề án 06/CP và Chỉ thị số 04/CT-TTg ngày 11/02/2024 của Thủ tướng Chính phủ về tiếp tục đẩy mạnh triển khai Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030 tại các bộ, ngành, địa phương năm 2024 và những năm tiếp theo.

Một số khó khăn, vướng mắc

Bên cạnh kết quả đạt được, tổng hợp 06 tháng đầu năm 2024 triển khai thực hiện Đề án 06/CP trên địa bàn Thành phố Hà Nội còn một số tồn tại, hạn chế, khó khăn, vướng mắc như vẫn còn tình trạng người dân, doanh nghiệp chưa thực hiện dịch vụ công một phần, toàn trình trên các Cổng dịch vụ công; chưa hoàn thành được việc số hóa và tái sử dụng kết quả số hóa hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính có liên quan đến thông tin, giấy tờ cá nhân trong tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính do chưa được trang cấp đủ phương tiện, thiết bị phục vụ cho việc số hóa.

Trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội: Có nhiều trường hợp người tham gia kê khai sai cấu trúc số định danh; kê khai chưa đầy đủ, chính xác thông tin định danh cá nhân (như chỉ có năm sinh, sai nơi cư trú, sai số Chứng minh nhân dân hoặc Căn cước công dân, không kê khai hoặc kê khai sai số điện thoại…) nên gây khó khăn trong việc rà soát, xác minh đúng người tham gia (phần lớn trong số người tham gia này là các trường hợp người chỉ tham gia bảo hiểm y tế: Người có công, người cao tuổi, người thuộc đối tượng bảo trợ xã hội...). Có trường hợp dữ liệu của người tham gia đã đúng với thông tin trên Căn cước công dân gắn chíp nhưng vẫn chưa được xác thực với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư hoặc bị báo sai thông tin nhân thân. Ngoài ra, Bảo hiểm xã hội Thành phố Hà Nội được Bảo hiểm xã hội Việt Nam trang bị 27 thiết bị mạng Switch Access Cisco 2960X 48 cổng (dự án xây dựng trụ sở Bảo hiểm xã hội Thành phố Hà Nội) từ năm 2018, 22 trụ sở Bảo hiểm xã hội quận/huyện/thị xã được trang bị 51 thiết bị Switch Cisco 2960 24 port từ năm 2017 trở về trước đã hết khấu hao, thường xuyên hỏng hóc, không có thiết bị thay thế gây ảnh hưởng đến hệ thống mạng của đơn vị, cán bộ xử lý nghiệp vụ trên phần mềm của Ngành không kịp thời, hồ sơ chậm muộn.

Công tác thu nhận hồ sơ định danh điện tử đối với phần mềm xử lý hồ sơ định danh địa phương (phiên bản web): Chức năng báo cáo, thống kê chỉ thống kê được hồ sơ thu nhận của công dân tại một đơn vị thu nhận, không thống kê được số công dân thu nhận tại các đơn vị khác nên khó khăn trong việc thống kê số công dân thường trú đã thực hiện thu nhận định danh điện tử và số liệu thống kê trên Phần mềm xử lý hồ sơ định danh địa phương (phiên bản web) bị lệch so với phân hệ DC01 mở rộng tra cứu định danh, điện tử trên phần mềm dữ liệu dân cư vì thực tế công dân có thể thu nhận hồ sơ tại nơi khác nơi thường trú.

Phần mềm thu nhận và xử lý hồ sơ cấp định danh điện tử (phiên bản trên laptop): Trong quá trình thực hiện phần mềm thường xuyên xuất hiện lỗi, phải khởi động lại máy mới có thể đăng nhập để sử dụng hoặc có nhiều trường hợp không xác thực được thông tin về ảnh và vân tay do chất lượng vân và ảnh khi thu nhận hồ sơ làm Căn cước công dân thấp; trang web “dinhdanhdientu.dancuquocgia.bca” hiện chỉ cho thống kê, tìm kiếm trong thời gian 03 tháng, gây khó khăn cho công tác thống kê, tra cứu.

Công tác làm sạch dữ liệu dân cư: Rà soát, cập nhật Chứng minh nhân dân 09 số, thiếu trường thông tin phát sinh liên tục do đặc thù Thành phố Hà Nội thực hiện hồ sơ cư trú thường xuyên, dữ liệu công dân ở tỉnh chuyển về với số lượng nhiều. Đối với các trường hợp hộ không chủ hộ , hộ có trên 01 chủ hộ chưa có chức năng cảnh báo, có biện pháp chặn để không phát sinh không chủ hộ, hộ có trên 01 chủ hộ.

Công tác thu nhận hồ sơ Căn cước công dân: Nhiều trường hợp công dân không đăng ký được hồ sơ trực tuyến: Công dân đủ 14 tuổi cấp Căn cước công dân lần đầu; công dân mất Chứng minh nhân dân 12 số/thẻ; Căn cước công dân chưa đăng ký sim điện thoại chính chủ và chưa đăng ký tài khoản định danh điện tử; công dân chưa đăng ký sim điện thoại chính chủ và tài khoản định danh điện tử bị khóa; người cao tuổi không sử dụng điện thoại thông minh… Khi tổ chức cấp Căn cước công dân lưu động tại trường học, cơ quan, tổ chức… cơ quan tiếp nhận hồ sơ cấp Căn cước công dân không thể thực hiện việc khai thác thông tin trực tiếp từ Cơ cở dữ liệu quốc gia về dân cư và không thể đồng bộ được hồ sơ trực tuyến khi công dân đăng ký dịch vụ công Căn cước công dân.

Hệ thống dịch vụ công thường xuyên bị: Lỗi đồng bộ, lỗi mã xác thực OTP, lỗi không đăng nhập được tài khoản dịch vụ công… Nhiều trường hợp công dân phải chờ đợi rất lâu để hệ thống ổn định và thực hiện việc đăng ký hồ sơ trực tuyến, đồng thời khi đó cán bộ mới thực hiện được việc đồng bộ được hồ sơ trực tuyến để tiếp nhận hồ sơ.

Trên phần mềm cấp Căn cước công dân không có chức năng “từ chối tiếp nhận hồ sơ cấp Căn cước công dân” đối với các trường hợp: Công dân đăng ký dịch vụ công không đúng loại cấp (hệ thống chỉ thể hiện tên dịch vụ là Căn cước công dân không thể hiện rõ loại cấp, cấp đổi, cấp lại Căn cước công dân nên cán bộ tiếp nhận khó xác định được loại cấp khi công dân đăng ký trực tuyến); thông tin công dân không đồng nhất với thông tin trên hệ thống dân cư quốc gia; không có thông tin số Chứng minh nhân dân 09 số trên hệ thông dân cư quốc gia khi công dân đăng ký cấp Giấy xác nhận số Chứng minh nhân dân.

Công tác cấp Phiếu Lý lịch tư pháp trên VneID tại Phòng Hồ sơ - Công an Thành phố Hà Nội còn gặp một số khó khăn, vướng mắc như sau: (i) Phần mềm chưa thiết kế việc duyệt kết quả của chỉ huy đội, việc ký số chưa được phân cấp cho Lãnh đạo phòng. Hiện tại, một cán bộ có thể vừa xác nhận, vừa cập nhật thông tin, vừa ký số trả kết quả. Phần mềm hiện cho ký số dưới 100 trường hợp, tuy nhiên, nếu ký trên 100 trường hợp sẽ bị treo. (ii) Tài liệu đã ký số khi trích xuất không hiển thị file theo danh sách để theo dõi được. (iii) Trường hợp cán bộ cập nhật nhầm “không án tích” cho trường hợp “có án tích” không thể sửa được (trường hợp cập nhật có án tích lại sửa, xóa được). (iv) Danh sách trích xuất ra file excel phục vụ để tra cứu không khớp thứ tự với danh sách hiển thị trên phần mềm quản lý nên khi cần cập nhật thông tin cán bộ phải tìm kiếm từng trường hợp để cập nhật thông tin nên mất rất nhiều thời gian. (v) Phần mềm chưa hỗ trợ thống kê số liệu yêu cầu đến, số đã có kết quả, chưa có kết quả, số không có án tích, có án tích, không có án tích trước ngày 01/7/2010… Hiện nay, phải đếm số liệu hiển thị theo danh sách đã được tìm kiếm. (vi) Ngoài việc thực hiện tra cứu cấp Phiếu Lý lịch tư pháp thí điểm trên phần mềm qua VNeID, hằng ngày, Phòng Hồ sơ vẫn đang tiếp nhận các trường hợp đề nghị cấp Phiếu Lý lịch tư pháp không qua VNeID (thực hiện trên Cổng dịch vụ công, làm trực tiếp…) và không có vân tay của người xin cấp Phiếu Lý lịch tư pháp kèm theo nên các trường hợp này Phòng Hồ sơ vẫn đang đề xuất Cục C06 tiếp tục cung cấp thông tin sinh trắc học để phục vụ tra cứu đảm bảo chính xác. Do phải làm đồng thời trên 02 hệ thống nên mất rất nhiều thời gian, công sức, Phòng Hồ sơ phải bố trí cán bộ đi gửi, lấy dữ liệu vân tay và Cục C06 vẫn phải bố trí cán bộ thực hiện trích xuất dữ liệu để cung cấp vân tay cho Phòng Hồ sơ phục vụ tra cứu.

Thực hiện thí điểm thu phí trông giữ xe không dùng tiền mặt tại các bãi đỗ xe tĩnh: (i) Hệ thống công nghệ vẫn gặp trường hợp lỗi hệ thống hay bị treo khi thanh toán. Đối với xe máy, hệ thống chưa ghi nhận hết thông tin về phương tiện (nhân viên vẫn phải viết tay biển số xe), giá vé thấp nên một số ngân hàng chưa hỗ trợ thanh toán (như Agribank, Indovina Bank, ABBank, ACB…). Các điểm trông giữ xe máy ngày, đêm, các đơn vị cung cấp phần mềm chưa cung cấp được giải pháp thu phí đối với những xe gửi cả ngày và đêm (mã QR chỉ thanh toán được theo đúng giá 5.000đ hoặc 8.000đ). (ii) Các điểm đỗ xe chủ yếu là đỗ xe tạm thời, thời gian cấp phép trông giữ phương tiện từ 03 - 06 tháng nên khó khăn cho các công ty lập kế hoạch đầu tư tài sản và quản lý vận hành của các công ty trông giữ phương tiện. Phát sinh thêm chi phí của các công ty do phải trả phí cho đơn vị cung cấp ứng dụng công nghệ (qua trao đổi của Công ty VETC phí dịch vụ sau thời gian thí điểm là 5%/tổng doanh thu ghi nhận qua hệ thống của VETC (bao gồm cả vé tháng và vé lượt); chi phí thiết bị các đơn vị có thể đầu tư hoặc thuê lại của VETC với mức 1.000.000đ/tháng/thiết bị di động thu phí ô tô, 500.000đ/tháng/thiết bị di động thu phí xe máy trong thời gian 01 năm, sau 01 năm VETC sẽ chuyển giao tài sản cho doanh nghiệp).

Việc cấp phép sử dụng tạm thời hè phố, lòng đường để trông giữ phương tiện theo thẩm quyền thì dưới lòng đường do Sở Giao thông vận tải cấp phép, trên vỉa hè do Ủy ban nhân dân quận cấp phép, do vậy, cần có sự thống nhất để triển khai thực hiện. Đây là hình thức trông giữ xe mới, chuyển đổi từ hình thức thủ công sang việc sử dụng ứng dụng công nghệ nên việc thay đổi thói quen không sử dụng tiền mặt của người dân cần phải có thời gian thay đổi, nhất là tại các khu vực bệnh viện, có nhiều người dân ngoại tỉnh và người cao tuổi đến bệnh viện không sử dụng điện thoại thông minh, không có tài khoản ngân hàng, không có app thanh toán… gây khó khăn cho việc thanh toán không dùng tiền mặt./.

Thủy Bích

Sở Tư pháp Thành phố Hà Nội

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:

Theo dõi chúng tôi trên: