Thứ ba 26/05/2026 19:59
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tình hình thực hiện Đề án 06 trên địa bàn Thành phố Hà Nội trong 06 tháng đầu năm 2024

Trong 06 tháng đầu năm 2024, Thành phố Hà Nội tiếp tục phát huy sự chủ động, tích cực, quyết liệt trong thực hiện các nội dung công tác phục vụ triển khai thực hiện Đề án 06/CP về phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030 trên địa bàn Thành phố; giữ vững vị thế là địa phương tiên phong đi đầu trong thực hiện Đề án 06/CP đảm bảo tiến độ, lộ trình đã được đề ra.

Những kết quả đã đạt được

Lực lượng Công an cấp huyện, cấp xã đã triển khai thực hiện quyết liệt các giải pháp làm sạch dữ liệu dân cư, tiêm chủng, hộ tịch, đoàn thể… đảm bảo cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư “đúng, đủ, sạch, sống” phục vụ kết nối, tích hợp, chia sẻ với các cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác; thực hiện nghiêm túc công tác thu nhận hồ sơ căn cước công dân, tài khoản định danh điện tử, đăng ký, quản lý cư trú và tiếp nhận, giải quyết hồ sơ trên Cổng dịch vụ công trực tuyến đều được triển khai thực hiện nghiêm túc và đã hoàn thành các chỉ tiêu được Bộ Công an giao cho Công an Thành phố.

Với những nhiệm vụ Tổ công tác Chính phủ giao triển khai thí điểm trên địa bàn Thành phố Hà Nội trong năm 2024, bao gồm: Xây dựng Sổ sức khỏe điện tử, Hồ sơ sức khỏe điện tử; tuyên truyền, vận động, hướng dẫn người dân thực hiện mở tài khoản phục vụ chi trả an sinh xã hội không dùng tiền mặt trên địa bàn Thành phố Hà Nội; triển khai ứng dụng mô hình thu phí trông giữ phương tiện không dùng tiền mặt; thí điểm cấp Phiếu Lý lịch tư pháp trên ứng dụng VneID... Cơ bản, Thành phố đều thực hiện nghiêm túc, tiến độ nhanh, có kết quả cụ thể, rõ ràng.

Trong thời gian tới, bám sát chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Tổ công tác Chính phủ, Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ Công an (Cục C06) và Thành phố Hà Nội sẽ tập trung triển khai các giải pháp chuyển đổi số sang sử dụng VNeID là tài khoản duy nhất trong thực hiện dịch vụ công trực tuyến theo Nghị định số 59/2022/NĐ-CP ngày 05/9/2022 của Chính phủ quy định về định danh và xác thực điện tử (kể từ ngày 01/7/2024) và thực hiện đồng bộ các giải pháp, biện pháp, xây dựng 28 mô hình điểm về chuyển đổi số để triển khai thực hiện kịp thời, có hiệu quả các nhiệm vụ của Đề án 06/CP và Chỉ thị số 04/CT-TTg ngày 11/02/2024 của Thủ tướng Chính phủ về tiếp tục đẩy mạnh triển khai Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030 tại các bộ, ngành, địa phương năm 2024 và những năm tiếp theo.

Một số khó khăn, vướng mắc

Bên cạnh kết quả đạt được, tổng hợp 06 tháng đầu năm 2024 triển khai thực hiện Đề án 06/CP trên địa bàn Thành phố Hà Nội còn một số tồn tại, hạn chế, khó khăn, vướng mắc như vẫn còn tình trạng người dân, doanh nghiệp chưa thực hiện dịch vụ công một phần, toàn trình trên các Cổng dịch vụ công; chưa hoàn thành được việc số hóa và tái sử dụng kết quả số hóa hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính có liên quan đến thông tin, giấy tờ cá nhân trong tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính do chưa được trang cấp đủ phương tiện, thiết bị phục vụ cho việc số hóa.

Trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội: Có nhiều trường hợp người tham gia kê khai sai cấu trúc số định danh; kê khai chưa đầy đủ, chính xác thông tin định danh cá nhân (như chỉ có năm sinh, sai nơi cư trú, sai số Chứng minh nhân dân hoặc Căn cước công dân, không kê khai hoặc kê khai sai số điện thoại…) nên gây khó khăn trong việc rà soát, xác minh đúng người tham gia (phần lớn trong số người tham gia này là các trường hợp người chỉ tham gia bảo hiểm y tế: Người có công, người cao tuổi, người thuộc đối tượng bảo trợ xã hội...). Có trường hợp dữ liệu của người tham gia đã đúng với thông tin trên Căn cước công dân gắn chíp nhưng vẫn chưa được xác thực với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư hoặc bị báo sai thông tin nhân thân. Ngoài ra, Bảo hiểm xã hội Thành phố Hà Nội được Bảo hiểm xã hội Việt Nam trang bị 27 thiết bị mạng Switch Access Cisco 2960X 48 cổng (dự án xây dựng trụ sở Bảo hiểm xã hội Thành phố Hà Nội) từ năm 2018, 22 trụ sở Bảo hiểm xã hội quận/huyện/thị xã được trang bị 51 thiết bị Switch Cisco 2960 24 port từ năm 2017 trở về trước đã hết khấu hao, thường xuyên hỏng hóc, không có thiết bị thay thế gây ảnh hưởng đến hệ thống mạng của đơn vị, cán bộ xử lý nghiệp vụ trên phần mềm của Ngành không kịp thời, hồ sơ chậm muộn.

Công tác thu nhận hồ sơ định danh điện tử đối với phần mềm xử lý hồ sơ định danh địa phương (phiên bản web): Chức năng báo cáo, thống kê chỉ thống kê được hồ sơ thu nhận của công dân tại một đơn vị thu nhận, không thống kê được số công dân thu nhận tại các đơn vị khác nên khó khăn trong việc thống kê số công dân thường trú đã thực hiện thu nhận định danh điện tử và số liệu thống kê trên Phần mềm xử lý hồ sơ định danh địa phương (phiên bản web) bị lệch so với phân hệ DC01 mở rộng tra cứu định danh, điện tử trên phần mềm dữ liệu dân cư vì thực tế công dân có thể thu nhận hồ sơ tại nơi khác nơi thường trú.

Phần mềm thu nhận và xử lý hồ sơ cấp định danh điện tử (phiên bản trên laptop): Trong quá trình thực hiện phần mềm thường xuyên xuất hiện lỗi, phải khởi động lại máy mới có thể đăng nhập để sử dụng hoặc có nhiều trường hợp không xác thực được thông tin về ảnh và vân tay do chất lượng vân và ảnh khi thu nhận hồ sơ làm Căn cước công dân thấp; trang web “dinhdanhdientu.dancuquocgia.bca” hiện chỉ cho thống kê, tìm kiếm trong thời gian 03 tháng, gây khó khăn cho công tác thống kê, tra cứu.

Công tác làm sạch dữ liệu dân cư: Rà soát, cập nhật Chứng minh nhân dân 09 số, thiếu trường thông tin phát sinh liên tục do đặc thù Thành phố Hà Nội thực hiện hồ sơ cư trú thường xuyên, dữ liệu công dân ở tỉnh chuyển về với số lượng nhiều. Đối với các trường hợp hộ không chủ hộ , hộ có trên 01 chủ hộ chưa có chức năng cảnh báo, có biện pháp chặn để không phát sinh không chủ hộ, hộ có trên 01 chủ hộ.

Công tác thu nhận hồ sơ Căn cước công dân: Nhiều trường hợp công dân không đăng ký được hồ sơ trực tuyến: Công dân đủ 14 tuổi cấp Căn cước công dân lần đầu; công dân mất Chứng minh nhân dân 12 số/thẻ; Căn cước công dân chưa đăng ký sim điện thoại chính chủ và chưa đăng ký tài khoản định danh điện tử; công dân chưa đăng ký sim điện thoại chính chủ và tài khoản định danh điện tử bị khóa; người cao tuổi không sử dụng điện thoại thông minh… Khi tổ chức cấp Căn cước công dân lưu động tại trường học, cơ quan, tổ chức… cơ quan tiếp nhận hồ sơ cấp Căn cước công dân không thể thực hiện việc khai thác thông tin trực tiếp từ Cơ cở dữ liệu quốc gia về dân cư và không thể đồng bộ được hồ sơ trực tuyến khi công dân đăng ký dịch vụ công Căn cước công dân.

Hệ thống dịch vụ công thường xuyên bị: Lỗi đồng bộ, lỗi mã xác thực OTP, lỗi không đăng nhập được tài khoản dịch vụ công… Nhiều trường hợp công dân phải chờ đợi rất lâu để hệ thống ổn định và thực hiện việc đăng ký hồ sơ trực tuyến, đồng thời khi đó cán bộ mới thực hiện được việc đồng bộ được hồ sơ trực tuyến để tiếp nhận hồ sơ.

Trên phần mềm cấp Căn cước công dân không có chức năng “từ chối tiếp nhận hồ sơ cấp Căn cước công dân” đối với các trường hợp: Công dân đăng ký dịch vụ công không đúng loại cấp (hệ thống chỉ thể hiện tên dịch vụ là Căn cước công dân không thể hiện rõ loại cấp, cấp đổi, cấp lại Căn cước công dân nên cán bộ tiếp nhận khó xác định được loại cấp khi công dân đăng ký trực tuyến); thông tin công dân không đồng nhất với thông tin trên hệ thống dân cư quốc gia; không có thông tin số Chứng minh nhân dân 09 số trên hệ thông dân cư quốc gia khi công dân đăng ký cấp Giấy xác nhận số Chứng minh nhân dân.

Công tác cấp Phiếu Lý lịch tư pháp trên VneID tại Phòng Hồ sơ - Công an Thành phố Hà Nội còn gặp một số khó khăn, vướng mắc như sau: (i) Phần mềm chưa thiết kế việc duyệt kết quả của chỉ huy đội, việc ký số chưa được phân cấp cho Lãnh đạo phòng. Hiện tại, một cán bộ có thể vừa xác nhận, vừa cập nhật thông tin, vừa ký số trả kết quả. Phần mềm hiện cho ký số dưới 100 trường hợp, tuy nhiên, nếu ký trên 100 trường hợp sẽ bị treo. (ii) Tài liệu đã ký số khi trích xuất không hiển thị file theo danh sách để theo dõi được. (iii) Trường hợp cán bộ cập nhật nhầm “không án tích” cho trường hợp “có án tích” không thể sửa được (trường hợp cập nhật có án tích lại sửa, xóa được). (iv) Danh sách trích xuất ra file excel phục vụ để tra cứu không khớp thứ tự với danh sách hiển thị trên phần mềm quản lý nên khi cần cập nhật thông tin cán bộ phải tìm kiếm từng trường hợp để cập nhật thông tin nên mất rất nhiều thời gian. (v) Phần mềm chưa hỗ trợ thống kê số liệu yêu cầu đến, số đã có kết quả, chưa có kết quả, số không có án tích, có án tích, không có án tích trước ngày 01/7/2010… Hiện nay, phải đếm số liệu hiển thị theo danh sách đã được tìm kiếm. (vi) Ngoài việc thực hiện tra cứu cấp Phiếu Lý lịch tư pháp thí điểm trên phần mềm qua VNeID, hằng ngày, Phòng Hồ sơ vẫn đang tiếp nhận các trường hợp đề nghị cấp Phiếu Lý lịch tư pháp không qua VNeID (thực hiện trên Cổng dịch vụ công, làm trực tiếp…) và không có vân tay của người xin cấp Phiếu Lý lịch tư pháp kèm theo nên các trường hợp này Phòng Hồ sơ vẫn đang đề xuất Cục C06 tiếp tục cung cấp thông tin sinh trắc học để phục vụ tra cứu đảm bảo chính xác. Do phải làm đồng thời trên 02 hệ thống nên mất rất nhiều thời gian, công sức, Phòng Hồ sơ phải bố trí cán bộ đi gửi, lấy dữ liệu vân tay và Cục C06 vẫn phải bố trí cán bộ thực hiện trích xuất dữ liệu để cung cấp vân tay cho Phòng Hồ sơ phục vụ tra cứu.

Thực hiện thí điểm thu phí trông giữ xe không dùng tiền mặt tại các bãi đỗ xe tĩnh: (i) Hệ thống công nghệ vẫn gặp trường hợp lỗi hệ thống hay bị treo khi thanh toán. Đối với xe máy, hệ thống chưa ghi nhận hết thông tin về phương tiện (nhân viên vẫn phải viết tay biển số xe), giá vé thấp nên một số ngân hàng chưa hỗ trợ thanh toán (như Agribank, Indovina Bank, ABBank, ACB…). Các điểm trông giữ xe máy ngày, đêm, các đơn vị cung cấp phần mềm chưa cung cấp được giải pháp thu phí đối với những xe gửi cả ngày và đêm (mã QR chỉ thanh toán được theo đúng giá 5.000đ hoặc 8.000đ). (ii) Các điểm đỗ xe chủ yếu là đỗ xe tạm thời, thời gian cấp phép trông giữ phương tiện từ 03 - 06 tháng nên khó khăn cho các công ty lập kế hoạch đầu tư tài sản và quản lý vận hành của các công ty trông giữ phương tiện. Phát sinh thêm chi phí của các công ty do phải trả phí cho đơn vị cung cấp ứng dụng công nghệ (qua trao đổi của Công ty VETC phí dịch vụ sau thời gian thí điểm là 5%/tổng doanh thu ghi nhận qua hệ thống của VETC (bao gồm cả vé tháng và vé lượt); chi phí thiết bị các đơn vị có thể đầu tư hoặc thuê lại của VETC với mức 1.000.000đ/tháng/thiết bị di động thu phí ô tô, 500.000đ/tháng/thiết bị di động thu phí xe máy trong thời gian 01 năm, sau 01 năm VETC sẽ chuyển giao tài sản cho doanh nghiệp).

Việc cấp phép sử dụng tạm thời hè phố, lòng đường để trông giữ phương tiện theo thẩm quyền thì dưới lòng đường do Sở Giao thông vận tải cấp phép, trên vỉa hè do Ủy ban nhân dân quận cấp phép, do vậy, cần có sự thống nhất để triển khai thực hiện. Đây là hình thức trông giữ xe mới, chuyển đổi từ hình thức thủ công sang việc sử dụng ứng dụng công nghệ nên việc thay đổi thói quen không sử dụng tiền mặt của người dân cần phải có thời gian thay đổi, nhất là tại các khu vực bệnh viện, có nhiều người dân ngoại tỉnh và người cao tuổi đến bệnh viện không sử dụng điện thoại thông minh, không có tài khoản ngân hàng, không có app thanh toán… gây khó khăn cho việc thanh toán không dùng tiền mặt./.

Thủy Bích

Sở Tư pháp Thành phố Hà Nội

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: