Thứ hai 21/09/2026 20:26
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tình hình thực hiện Đề án 06 trên địa bàn Thành phố Hà Nội trong 06 tháng đầu năm 2024

Trong 06 tháng đầu năm 2024, Thành phố Hà Nội tiếp tục phát huy sự chủ động, tích cực, quyết liệt trong thực hiện các nội dung công tác phục vụ triển khai thực hiện Đề án 06/CP về phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030 trên địa bàn Thành phố; giữ vững vị thế là địa phương tiên phong đi đầu trong thực hiện Đề án 06/CP đảm bảo tiến độ, lộ trình đã được đề ra.

Những kết quả đã đạt được

Lực lượng Công an cấp huyện, cấp xã đã triển khai thực hiện quyết liệt các giải pháp làm sạch dữ liệu dân cư, tiêm chủng, hộ tịch, đoàn thể… đảm bảo cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư “đúng, đủ, sạch, sống” phục vụ kết nối, tích hợp, chia sẻ với các cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác; thực hiện nghiêm túc công tác thu nhận hồ sơ căn cước công dân, tài khoản định danh điện tử, đăng ký, quản lý cư trú và tiếp nhận, giải quyết hồ sơ trên Cổng dịch vụ công trực tuyến đều được triển khai thực hiện nghiêm túc và đã hoàn thành các chỉ tiêu được Bộ Công an giao cho Công an Thành phố.

Với những nhiệm vụ Tổ công tác Chính phủ giao triển khai thí điểm trên địa bàn Thành phố Hà Nội trong năm 2024, bao gồm: Xây dựng Sổ sức khỏe điện tử, Hồ sơ sức khỏe điện tử; tuyên truyền, vận động, hướng dẫn người dân thực hiện mở tài khoản phục vụ chi trả an sinh xã hội không dùng tiền mặt trên địa bàn Thành phố Hà Nội; triển khai ứng dụng mô hình thu phí trông giữ phương tiện không dùng tiền mặt; thí điểm cấp Phiếu Lý lịch tư pháp trên ứng dụng VneID... Cơ bản, Thành phố đều thực hiện nghiêm túc, tiến độ nhanh, có kết quả cụ thể, rõ ràng.

Trong thời gian tới, bám sát chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Tổ công tác Chính phủ, Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ Công an (Cục C06) và Thành phố Hà Nội sẽ tập trung triển khai các giải pháp chuyển đổi số sang sử dụng VNeID là tài khoản duy nhất trong thực hiện dịch vụ công trực tuyến theo Nghị định số 59/2022/NĐ-CP ngày 05/9/2022 của Chính phủ quy định về định danh và xác thực điện tử (kể từ ngày 01/7/2024) và thực hiện đồng bộ các giải pháp, biện pháp, xây dựng 28 mô hình điểm về chuyển đổi số để triển khai thực hiện kịp thời, có hiệu quả các nhiệm vụ của Đề án 06/CP và Chỉ thị số 04/CT-TTg ngày 11/02/2024 của Thủ tướng Chính phủ về tiếp tục đẩy mạnh triển khai Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030 tại các bộ, ngành, địa phương năm 2024 và những năm tiếp theo.

Một số khó khăn, vướng mắc

Bên cạnh kết quả đạt được, tổng hợp 06 tháng đầu năm 2024 triển khai thực hiện Đề án 06/CP trên địa bàn Thành phố Hà Nội còn một số tồn tại, hạn chế, khó khăn, vướng mắc như vẫn còn tình trạng người dân, doanh nghiệp chưa thực hiện dịch vụ công một phần, toàn trình trên các Cổng dịch vụ công; chưa hoàn thành được việc số hóa và tái sử dụng kết quả số hóa hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính có liên quan đến thông tin, giấy tờ cá nhân trong tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính do chưa được trang cấp đủ phương tiện, thiết bị phục vụ cho việc số hóa.

Trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội: Có nhiều trường hợp người tham gia kê khai sai cấu trúc số định danh; kê khai chưa đầy đủ, chính xác thông tin định danh cá nhân (như chỉ có năm sinh, sai nơi cư trú, sai số Chứng minh nhân dân hoặc Căn cước công dân, không kê khai hoặc kê khai sai số điện thoại…) nên gây khó khăn trong việc rà soát, xác minh đúng người tham gia (phần lớn trong số người tham gia này là các trường hợp người chỉ tham gia bảo hiểm y tế: Người có công, người cao tuổi, người thuộc đối tượng bảo trợ xã hội...). Có trường hợp dữ liệu của người tham gia đã đúng với thông tin trên Căn cước công dân gắn chíp nhưng vẫn chưa được xác thực với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư hoặc bị báo sai thông tin nhân thân. Ngoài ra, Bảo hiểm xã hội Thành phố Hà Nội được Bảo hiểm xã hội Việt Nam trang bị 27 thiết bị mạng Switch Access Cisco 2960X 48 cổng (dự án xây dựng trụ sở Bảo hiểm xã hội Thành phố Hà Nội) từ năm 2018, 22 trụ sở Bảo hiểm xã hội quận/huyện/thị xã được trang bị 51 thiết bị Switch Cisco 2960 24 port từ năm 2017 trở về trước đã hết khấu hao, thường xuyên hỏng hóc, không có thiết bị thay thế gây ảnh hưởng đến hệ thống mạng của đơn vị, cán bộ xử lý nghiệp vụ trên phần mềm của Ngành không kịp thời, hồ sơ chậm muộn.

Công tác thu nhận hồ sơ định danh điện tử đối với phần mềm xử lý hồ sơ định danh địa phương (phiên bản web): Chức năng báo cáo, thống kê chỉ thống kê được hồ sơ thu nhận của công dân tại một đơn vị thu nhận, không thống kê được số công dân thu nhận tại các đơn vị khác nên khó khăn trong việc thống kê số công dân thường trú đã thực hiện thu nhận định danh điện tử và số liệu thống kê trên Phần mềm xử lý hồ sơ định danh địa phương (phiên bản web) bị lệch so với phân hệ DC01 mở rộng tra cứu định danh, điện tử trên phần mềm dữ liệu dân cư vì thực tế công dân có thể thu nhận hồ sơ tại nơi khác nơi thường trú.

Phần mềm thu nhận và xử lý hồ sơ cấp định danh điện tử (phiên bản trên laptop): Trong quá trình thực hiện phần mềm thường xuyên xuất hiện lỗi, phải khởi động lại máy mới có thể đăng nhập để sử dụng hoặc có nhiều trường hợp không xác thực được thông tin về ảnh và vân tay do chất lượng vân và ảnh khi thu nhận hồ sơ làm Căn cước công dân thấp; trang web “dinhdanhdientu.dancuquocgia.bca” hiện chỉ cho thống kê, tìm kiếm trong thời gian 03 tháng, gây khó khăn cho công tác thống kê, tra cứu.

Công tác làm sạch dữ liệu dân cư: Rà soát, cập nhật Chứng minh nhân dân 09 số, thiếu trường thông tin phát sinh liên tục do đặc thù Thành phố Hà Nội thực hiện hồ sơ cư trú thường xuyên, dữ liệu công dân ở tỉnh chuyển về với số lượng nhiều. Đối với các trường hợp hộ không chủ hộ , hộ có trên 01 chủ hộ chưa có chức năng cảnh báo, có biện pháp chặn để không phát sinh không chủ hộ, hộ có trên 01 chủ hộ.

Công tác thu nhận hồ sơ Căn cước công dân: Nhiều trường hợp công dân không đăng ký được hồ sơ trực tuyến: Công dân đủ 14 tuổi cấp Căn cước công dân lần đầu; công dân mất Chứng minh nhân dân 12 số/thẻ; Căn cước công dân chưa đăng ký sim điện thoại chính chủ và chưa đăng ký tài khoản định danh điện tử; công dân chưa đăng ký sim điện thoại chính chủ và tài khoản định danh điện tử bị khóa; người cao tuổi không sử dụng điện thoại thông minh… Khi tổ chức cấp Căn cước công dân lưu động tại trường học, cơ quan, tổ chức… cơ quan tiếp nhận hồ sơ cấp Căn cước công dân không thể thực hiện việc khai thác thông tin trực tiếp từ Cơ cở dữ liệu quốc gia về dân cư và không thể đồng bộ được hồ sơ trực tuyến khi công dân đăng ký dịch vụ công Căn cước công dân.

Hệ thống dịch vụ công thường xuyên bị: Lỗi đồng bộ, lỗi mã xác thực OTP, lỗi không đăng nhập được tài khoản dịch vụ công… Nhiều trường hợp công dân phải chờ đợi rất lâu để hệ thống ổn định và thực hiện việc đăng ký hồ sơ trực tuyến, đồng thời khi đó cán bộ mới thực hiện được việc đồng bộ được hồ sơ trực tuyến để tiếp nhận hồ sơ.

Trên phần mềm cấp Căn cước công dân không có chức năng “từ chối tiếp nhận hồ sơ cấp Căn cước công dân” đối với các trường hợp: Công dân đăng ký dịch vụ công không đúng loại cấp (hệ thống chỉ thể hiện tên dịch vụ là Căn cước công dân không thể hiện rõ loại cấp, cấp đổi, cấp lại Căn cước công dân nên cán bộ tiếp nhận khó xác định được loại cấp khi công dân đăng ký trực tuyến); thông tin công dân không đồng nhất với thông tin trên hệ thống dân cư quốc gia; không có thông tin số Chứng minh nhân dân 09 số trên hệ thông dân cư quốc gia khi công dân đăng ký cấp Giấy xác nhận số Chứng minh nhân dân.

Công tác cấp Phiếu Lý lịch tư pháp trên VneID tại Phòng Hồ sơ - Công an Thành phố Hà Nội còn gặp một số khó khăn, vướng mắc như sau: (i) Phần mềm chưa thiết kế việc duyệt kết quả của chỉ huy đội, việc ký số chưa được phân cấp cho Lãnh đạo phòng. Hiện tại, một cán bộ có thể vừa xác nhận, vừa cập nhật thông tin, vừa ký số trả kết quả. Phần mềm hiện cho ký số dưới 100 trường hợp, tuy nhiên, nếu ký trên 100 trường hợp sẽ bị treo. (ii) Tài liệu đã ký số khi trích xuất không hiển thị file theo danh sách để theo dõi được. (iii) Trường hợp cán bộ cập nhật nhầm “không án tích” cho trường hợp “có án tích” không thể sửa được (trường hợp cập nhật có án tích lại sửa, xóa được). (iv) Danh sách trích xuất ra file excel phục vụ để tra cứu không khớp thứ tự với danh sách hiển thị trên phần mềm quản lý nên khi cần cập nhật thông tin cán bộ phải tìm kiếm từng trường hợp để cập nhật thông tin nên mất rất nhiều thời gian. (v) Phần mềm chưa hỗ trợ thống kê số liệu yêu cầu đến, số đã có kết quả, chưa có kết quả, số không có án tích, có án tích, không có án tích trước ngày 01/7/2010… Hiện nay, phải đếm số liệu hiển thị theo danh sách đã được tìm kiếm. (vi) Ngoài việc thực hiện tra cứu cấp Phiếu Lý lịch tư pháp thí điểm trên phần mềm qua VNeID, hằng ngày, Phòng Hồ sơ vẫn đang tiếp nhận các trường hợp đề nghị cấp Phiếu Lý lịch tư pháp không qua VNeID (thực hiện trên Cổng dịch vụ công, làm trực tiếp…) và không có vân tay của người xin cấp Phiếu Lý lịch tư pháp kèm theo nên các trường hợp này Phòng Hồ sơ vẫn đang đề xuất Cục C06 tiếp tục cung cấp thông tin sinh trắc học để phục vụ tra cứu đảm bảo chính xác. Do phải làm đồng thời trên 02 hệ thống nên mất rất nhiều thời gian, công sức, Phòng Hồ sơ phải bố trí cán bộ đi gửi, lấy dữ liệu vân tay và Cục C06 vẫn phải bố trí cán bộ thực hiện trích xuất dữ liệu để cung cấp vân tay cho Phòng Hồ sơ phục vụ tra cứu.

Thực hiện thí điểm thu phí trông giữ xe không dùng tiền mặt tại các bãi đỗ xe tĩnh: (i) Hệ thống công nghệ vẫn gặp trường hợp lỗi hệ thống hay bị treo khi thanh toán. Đối với xe máy, hệ thống chưa ghi nhận hết thông tin về phương tiện (nhân viên vẫn phải viết tay biển số xe), giá vé thấp nên một số ngân hàng chưa hỗ trợ thanh toán (như Agribank, Indovina Bank, ABBank, ACB…). Các điểm trông giữ xe máy ngày, đêm, các đơn vị cung cấp phần mềm chưa cung cấp được giải pháp thu phí đối với những xe gửi cả ngày và đêm (mã QR chỉ thanh toán được theo đúng giá 5.000đ hoặc 8.000đ). (ii) Các điểm đỗ xe chủ yếu là đỗ xe tạm thời, thời gian cấp phép trông giữ phương tiện từ 03 - 06 tháng nên khó khăn cho các công ty lập kế hoạch đầu tư tài sản và quản lý vận hành của các công ty trông giữ phương tiện. Phát sinh thêm chi phí của các công ty do phải trả phí cho đơn vị cung cấp ứng dụng công nghệ (qua trao đổi của Công ty VETC phí dịch vụ sau thời gian thí điểm là 5%/tổng doanh thu ghi nhận qua hệ thống của VETC (bao gồm cả vé tháng và vé lượt); chi phí thiết bị các đơn vị có thể đầu tư hoặc thuê lại của VETC với mức 1.000.000đ/tháng/thiết bị di động thu phí ô tô, 500.000đ/tháng/thiết bị di động thu phí xe máy trong thời gian 01 năm, sau 01 năm VETC sẽ chuyển giao tài sản cho doanh nghiệp).

Việc cấp phép sử dụng tạm thời hè phố, lòng đường để trông giữ phương tiện theo thẩm quyền thì dưới lòng đường do Sở Giao thông vận tải cấp phép, trên vỉa hè do Ủy ban nhân dân quận cấp phép, do vậy, cần có sự thống nhất để triển khai thực hiện. Đây là hình thức trông giữ xe mới, chuyển đổi từ hình thức thủ công sang việc sử dụng ứng dụng công nghệ nên việc thay đổi thói quen không sử dụng tiền mặt của người dân cần phải có thời gian thay đổi, nhất là tại các khu vực bệnh viện, có nhiều người dân ngoại tỉnh và người cao tuổi đến bệnh viện không sử dụng điện thoại thông minh, không có tài khoản ngân hàng, không có app thanh toán… gây khó khăn cho việc thanh toán không dùng tiền mặt./.

Thủy Bích

Sở Tư pháp Thành phố Hà Nội

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: