Thứ bảy 30/05/2026 14:59
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tính nhân văn trong áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất và tài sản trên đất

Trong các biện pháp cưỡng chế thì biện pháp cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất và nhà ở trên đất là biện pháp được áp dụng phổ biến nhất hiện nay

Trong các biện pháp cưỡng chế thì biện pháp cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất và nhà ở trên đất là biện pháp được áp dụng phổ biến nhất hiện nay. Công tác thi hành án dân sự (THADS) được hiểu là việc các chủ thể có thẩm quyền đưa các bản án, quyết định của các thiết chế tài phán thi hành trên thực tế theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định[1]. Cưỡng chế THADS là một trong các biện pháp THADS được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước, đây là biện pháp cuối cùng được cơ quan THADS áp dụng đối với người phải thi hành án có điều kiện thi hành nhưng không tự nguyện thi hành, đảm bảo cho bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật được thi hành trên thực tế[2]. Việc xây dựng và áp dụng trong thực tiễn các quy định pháp luật về THADS nói chung, đặc biệt các biện pháp cưỡng chế THADS nói riêng dựa trên nhiều yêu cầu khác nhau, trong đó có các chuẩn mực về tính nhân văn và đạo đức xã hội. Phân tích vụ việc dưới đây để có thể thấy được chuẩn mực đạo đức, tính nhân văn của pháp luật về THADS trong việc áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất và nhà ở trên đất, biện pháp cưỡng chế được áp dụng phổ biến nhất trong công tác THADS tại nước ta hiện nay.

Theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên đương sự trong lĩnh vực kinh doanh thương mại ngày 18/3/2013 của Tòa án nhân dân huyện BĐ thì bà Trần Thị H và Ngân hàng SG đã thỏa thuận: Bà H sẽ thanh toán số tiền 03 tỷ đồng cho Ngân hàng chậm nhất là ngày 30/5/2013; đến thời hạn thanh toán, bà H không thanh toán đầy đủ số tiền vay thì Ngân hàng có quyền xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và nhà ở trên đất thuộc quyền sở hữu của bà H.

Đến thời hạn thanh toán, bà H vẫn không thực hiện cam kết trả nợ nên Ngân hàng đã làm đơn yêu cầu thi hành án. Ngày 01/7/2013, Chi cục THADS huyện BĐ đã ra quyết định thi hành án với nội dung: Buộc bà H phải trả nợ cho Ngân hàng số tiền 03 tỷ đồng; tài sản bảo đảm thi hành án cho khoản vay là quyền sử dụng đất và nhà ở trên đất thuộc quyền sở hữu của bà H đã thế chấp nói trên. Quá trình thi hành vụ việc, Chi cục THADS huyện BĐ đã xác minh được biết quyền sử dụng đất và nhà ở trên đất thuộc quyền sở hữu của bà H đang do gia đình ông Nguyễn Văn K quản lý, sử dụng, giữa bà H và gia đình ông K có thỏa thuận riêng về việc sử dụng này.

Do bà H không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ nên Chi cục THADS huyện BĐ đã tổ chức cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất và nhà ở trên đất vào ngày 10/02/2014; sau đó ký kết hợp đồng với trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản để bán đấu giá theo quy định pháp luật. Sau khi tài sản bảo đảm thi hành án nói trên đã bán đấu giá thành, Chi cục THADS huyện BĐ đã thông báo cho gia đình ông K tự nguyện chuyển đi nơi khác để giao tài sản cho người mua được tài sản bán đấu giá. Mặc dù được gia hạn nhiều lần, nhưng gia đình ông K vẫn không tự nguyện chuyển đi nơi khác, mặt khác, còn chống đối cho rằng đây là tài sản của mình. Chi cục THADS huyện BĐ đã giải thích, hướng dẫn cho gia đình ông K khởi kiện ra Tòa án nhân dân để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình nhưng gia đình ông K không thực hiện quyền khởi kiện.

Trước tình hình đó, Chi cục THADS huyện BĐ đã căn cứ áp dụng Điều 115 và Điều 117 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) quy định về cưỡng chế giao quyền sử dụng đất và cưỡng chế giao nhà, tiến hành xây dựng kế hoạch và tổ chức cưỡng chế giao tài sản cho người mua tài sản bán đấu giá. Quá trình xây dựng kế hoạch cưỡng chế và chuẩn bị tổ chức cưỡng chế giao tài sản cho người trúng đấu giá, có ý kiến cho rằng, khi tổ chức cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất và nhà ở trên đất, cơ quan THADS đồng thời phải cưỡng chế gia đình ông K ra khỏi nhà và đất nói trên để có tài sản “sạch” (tức cưỡng chế gia đình ông K ra khỏi nhà vào ngày 10/02/2014), khi bán đấu giá thành, cơ quan THADS chỉ việc tổ chức giao tài sản cho người mua. Ý kiến khác lại cho rằng, nếu cưỡng chế giao nhà thì gia đình ông K bị “đẩy” ra đường, vấn đề chỗ ở được giải quyết như thế nào? Về vấn đề này xin được trao đổi thêm trên cơ sở quy định của pháp luật và thực tiễn công tác THADS khi cơ quan THADS áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất và nhà ở trên đất, qua đó có thể thấy được tính nhân văn của pháp luật nước ta trong trường hợp này.

Theo quy định tại Điều 112 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì sau khi cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất, chấp hành viên sẽ giao cho người hiện đang quản lý, khai thác, sử dụng được tiếp tục quản lý, sử dụng quyền sử dụng đất đã kê biên. Trường hợp người đang quản lý, khai thác, sử dụng từ chối nhận thì chấp hành viên giao cho người khác. Cũng cần phân biệt về quy định cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trong THADS khác so với Nhà nước tổ chức cưỡng chế hành chính khi thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh, thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng và thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai được quy định tại Điều 61, Điều 62 và Điều 64 Luật Đất đai năm 2013. Khi thực hiện các mục đích trên, theo Luật Đất đai năm 2013, Nhà nước sẽ tiến hành lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được cấp có thẩm quyền phê duyệt trước đó nhiều năm, có phương án và thực hiện đền bù, tái định cư cho nhân dân vùng giải tỏa. Trường hợp người dân khu vực này vẫn kiên quyết chống đối thì Nhà nước sẽ tổ chức cưỡng chế hành chính để có “đất sạch” trước khi triển khai dự án về quốc phòng, an ninh, kinh tế và xã hội. Như vậy, cùng là cưỡng chế nhưng đối với cưỡng chế trong THADS được thực hiện trên cơ sở bản án, quyết định của Tòa án, quyết định thi hành án, quyết định cưỡng chế kê biên của cơ quan THADS nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức cụ thể; đối với cưỡng chế hành chính về đất đai được thực hiện trên cơ sở quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đối tượng được hướng đến là lợi ích quốc gia, cộng đồng xã hội.

Về cơ sở thực tiễn, để đảm bảo tính đồng bộ, hiệu quả trong công tác quản lý tài sản và thống nhất với quy định về tạm giao quản lý, khai thác, sử dụng quyền sử dụng đất tại Điều 112 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), thông thường, chấp hành viên sẽ giao cho người hiện đang quản lý, khai thác, sử dụng được tiếp tục quản lý, sử dụng quyền sử dụng đất và nhà ở trên đất đã kê biên. Người được giao này có thể là người phải thi hành án, người thân của người phải thi hành án hoặc người được người phải thi hành án cho ở nhờ, cho thuê ở …

Sau khi bán đấu giá thành, cơ quan THADS sẽ thông báo cho người được giao quản lý, sử dụng tài sản biết để chuyển đi nơi khác trước khi tổ chức giao tài sản cho người mua trúng đấu giá. Khoảng thời gian từ khi cơ quan THADS tổ chức cưỡng chế kê biên đến khi giao tài sản cho người mua trúng đấu giá phụ thuộc vào quá trình bán đấu giá tài sản thi hành án, thông thường khoảng thời gian này kéo dài hơn 06 tháng, đặc biệt có những vụ việc kéo dài hơn 02 năm, trải qua nhiều lần giảm giá mới bán đấu giá thành. Như vậy, những người được chấp hành viên giao quản lý, sử dụng quyền sử dụng đất và nhà ở gắn liền với đất bị kê biên có khoảng thời gian khá dài để tạo lập nơi ở mới trước khi chuyển đi. Như vậy, quy định của Luật Thi hành án dân sự sẽ tránh được trường hợp những người này lâm cảnh “màn trời chiếu đất” đột ngột nếu buộc phải chuyển đi tại thời điểm cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất và nhà ở gắn liền với đất như ý kiến được nêu ra ở trên.

Ngoài ra, theo quy định của Luật Thi hành án dân sự và hướng dẫn của Tổng cục THADS thì trường hợp cưỡng chế giao nhà là nhà ở duy nhất của người phải thi hành án hoặc người được người phải thi hành án cho ở nhờ, cho thuê ở… giao cho người mua được tài sản bán đấu giá, nếu xét thấy sau khi thanh toán các khoản nghĩa vụ thi hành án mà những người đang ở không còn đủ tiền để thuê nhà hoặc tạo lập nơi ở mới thì trước khi làm thủ tục chi trả cho người được thi hành án, chấp hành viên trích lại từ số tiền bán tài sản một khoản tiền để những người đang ở thuê nhà phù hợp với giá thuê nhà trung bình tại địa phương trong thời hạn 01 năm.

Trong vụ việc trên, gia đình ông K có khoảng thời gian khá dài để chuẩn bị trước khi chuyển đi nơi khác, hơn nữa, nếu là nhà ở duy nhất thì có thêm một khoản tiền để tạo lập cho cuộc sống ban đầu. Với quy định hiện nay đã cho thấy tính nhân văn sâu sắc của pháp luật nước ta đối với người phải thi hành án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khi cơ quan THADS áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất và nhà ở trên đất. Qua đó cũng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án, người mua tài sản bán đấu giá thành và trên hết góp phần bảo vệ công lý, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

ThS. Đinh Phạm Văn Minh

Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình





[1]. Trường Trung cấp Luật Buôn Ma Thuột, Giáo trình Công tác THADS (2013), Nxb. Tư pháp, tr. 11.

[2]. Điều 9, Điều 46 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).



Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: