Thứ tư 14/01/2026 11:34
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tội đua xe trái phép theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) - Một số đề xuất, kiến nghị hoàn thiện

Thời gian qua, tình hình tội phạm hình sự nói chung và các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng nói riêng trong đó có Tội đua xe trái phép vẫn diễn biến hết sức phức tạp, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an trên nhiều địa bàn, gây nhức nhối, bức xúc trong dư luận xã hội và quần chúng nhân dân.

Thời gian qua, tình hình tội phạm hình sự nói chung và các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng nói riêng trong đó có Tội đua xe trái phép vẫn diễn biến hết sức phức tạp, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an trên nhiều địa bàn, gây nhức nhối, bức xúc trong dư luận xã hội và quần chúng nhân dân. Đây là hành vi xâm phạm quan hệ trong lĩnh vực công cộng, thường được thực hiện công khai ở những nơi đông người, thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Hình thức biểu hiện thường là tụ tập theo nhóm từ hai người trở lên, đi xe máy tốc độ cao, lạng lách đánh võng kèm theo đó là các hành vi gây huyên náo, đánh lộn, đập phá, gây lộn xộn ở nơi đông người, hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản, chống người thi hành công vụ, cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thậm chí là hành vi giết người...

Tình trạng trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân như: sự phát triển của nền kinh tế - xã hội, quá trình giao lưu, hội nhập quốc tế đã tác động đến tâm lý, sở thích của người dân, trong đó có một bộ phận thanh thiếu niên chưa thực sự làm chủ được bản thân, thích cảm giác mạnh, thích thể hiện. Mặt khác, điều kiện về đường sá giao thông ngày được mở rộng đi liền với sự phát triển ồ ạt của các loại ô tô, xe gắn máy cá nhân, trong khi công tác quản lý còn nhiều bất cập của các cơ quan chức năng; ý thức tham gia giao thông và nhận thức pháp luật của một bộ phận người dân còn hạn chế; sự buông lỏng trong quản lý giáo dục của gia đình, nhà trường và xã hội đối với con em; các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm còn chưa đủ tác dụng răn đe, phòng ngừa...

Để đấu tranh phòng chống hành vi đua xe trái phép, trong một thời gian dài các cơ quan chức năng đã ban hành nhiều văn bản pháp luật để nhằm ngăn chặn cũng như xử lý hành vi này[1]. Thực tế cho thấy, kể từ khi được quy định thành tội danh độc lập trong Bộ luật Hình sự năm 1999 cho tới nay, tình hình tội phạm đua xe trái phép vẫn có diễn biến phức tạp, công tác phòng ngừa, đấu tranh với loại tội phạm này còn gặp nhiều khó khăn bất cập, việc áp dụng các văn bản quy phạm để xử lý hành vi đua xe trái phép không thống nhất, dẫn tới hiệu quả của công tác phòng ngừa đấu tranh với loại tội phạm này còn chưa cao. Chính vì vậy, nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa đấu tranh với loại hình tội phạm đua xe trái phép, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định Tội đua xe trái phép tại Điều 266 với nội dung có nhiều sửa đổi, bổ sung quan trọng.

1. Khái niệm Tội đua xe trái phép

Hiện nay, chưa có một định nghĩa thống nhất trong khái niệm về Tội đua xe trái phép. Tuy nhiên, dưới góc độ khoa học luật hình sự Việt Nam, khái niệm tội phạm này có thể được định nghĩa như sau: Tội đua xe trái phép là hành vi của hai người trở lên điều khiển xe ô tô, xe máy hoặc các loại xe khác có gắn động cơ chạy thi trên đường bộ, do người không lâm vào tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện, gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này, đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

Như vậy, hành vi đua xe trái phép là sự ganh đua tốc độ của từ 02 bên trở lên trên đường bộ một cách trái phép. Đua tốc độ chủ yếu thực tế là đua nhanh, nhưng việc đua chậm vẫn bị coi là tội phạm nếu có đủ dấu hiệu theo quy định. Phương tiện đua là ô tô, xe máy, phương tiện có gắn động cơ khác. Việc đua các loại phương tiện thô sơ như xe trâu, xe ngựa… thì không coi là tội đua xe trái phép nhưng có thể bị xử lí về tội khác. Tội phạm hoàn thành khi thuộc một trong các trường hợp: đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại điều này hoặc Điều 265 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm…

2. Cấu thành tội phạm của Tội đua xe trái phép

2.1. Chủ thể của Tội đua xe trái phép: chủ thể của này là người không lâm vào tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo quy định, cụ thể: đối với người đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đua xe trái phép theo các khoản 1, 2, 3, 4, Điều 266 Bộ luật Hình sự năm 2015; còn đối với người đủ 14 tuổi đến 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự khi phạm tội thuộc các khoản 3, 4, Điều 266 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

2.2. Khách thể Tội đua xe trái phép: hành vi đua xe trái phép xâm phạm đến khách thể là an toàn công cộng trật tự công cộng, ảnh hưởng đến an toàn trật tự xã hội. Đối tượng tác động chính là các phương tiện giao thông đường bộ (xe gắn máy, ô tô, các loại xe động cơ khác…).

2.3. Mặt chủ quan Tội đua xe trái phép: người thực hiện hành vi phạm tội này với lỗi cố ý (trực tiếp hoặc gián tiếp). Chủ thể biết được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn thực hiện, mong muốn hậu quả xảy ra hoặc không mong muốn nhưng chấp nhận hậu quả nếu xảy ra.

2.4. Mặt khách quan Tội đua xe trái phép:

+ Về hành vi khách quan: hành vi khách quan của tội phạm này là hành vi đua xe. Người đua xe trái phép có thể thực hiện một trong các hành vi như: chuẩn bị, tập kết phương tiện đua (xe đua) và những điều kiện cần thiết cho cuộc đua, đến nơi tập kết, tập trung đua, điều khiển xe tham gia cuộc đua. Cần lưu ý là: chỉ người điều khiển xe tham gia cuộc đua mới là người thực hiện hành vi đua xe, còn người ngồi sau xe đua (nếu có) chỉ là người cổ vũ, họ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đua xe trái phép mà tùy trường hợp có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội gây rối trật tự công cộng.

+ Về hậu quả: hậu quả của tội này là gây mất trật tự an ninh xã hội, an toàn công cộng, gây thương tích hoặc tổn hại cho tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác, đây là dấu hiệu bắt buộc của loại tội phạm này. Nếu hậu quả chưa xảy ra, tức là chưa gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác thì hành vi đua xe trái phép chưa cấu thành tội đua xe trái phép. Tuy nhiên, hành vi đua xe trái phép của người đua xe có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội gây rối trật tự công cộng.

3. Hình phạt của Tội đua xe trái phép

Điều 266 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định các khung hình phạt sau:

+ Khung 1: Người nào đua trái phép xe ô tô, xe máy hoặc các loại xe khác có gắn động cơ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc Điều 265 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

b) Gây thiệt hại về tài sản từ 50.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng.

So với Bộ luật Hình sự năm 1999, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã tăng hình phạt tiền từ mức tối thiểu 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng lên 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, giảm mức hình phạt cải tạo không giam giữ tối đa đến 02 năm (luật cũ là ba năm) và tăng hình phạt tù tối thiểu “từ 06 tháng đến 03 năm” (luật cũ là ba tháng đến ba năm).

+ Khung 2: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

đ) Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

e) Tham gia cá cược;

g) Chống lại người có trách nhiệm bảo đảm trật tự, an toàn giao thông hoặc người có trách nhiệm giải tán cuộc đua xe trái phép;

h) Tại nơi tập trung đông dân cư;

i) Tháo dỡ thiết bị an toàn khỏi phương tiện đua;

k) Tái phạm nguy hiểm.

Khoản 2, Điều 266 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định thêm hình phạt tiền và tăng mức hình phạt tù “từ 03 năm đến 10 năm” (so với khoản 2 Điều 207 của Bộ luật Hình sự năm 1999 không quy định hình phạt tiền và quy định mức hình phạt tù “từ hai đến bảy năm”), đồng thời cụ thể hóa, lượng hóa mức độ gây thiệt hại về sức khỏe và tài sản của người vi phạm.

+ Khung 3: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Làm chết 2 người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

c) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

Khung 3 của điều luật cụ thể hóa, lượng hóa các trường hợp gây hậu quả rất nghiêm trọng, gây thiệt hại lớn về sức khỏe và tài sản của người bị thiệt hại đồng thời tăng mức hình phạt tù lên “07 năm đến 15 năm” (luật cũ từ năm năm đến mười lăm năm).

+ Khung 4: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Làm chết 03 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

Khung 4 của điều luật cụ thể hóa, lượng hóa các trường hợp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, gây thiệt hại đặc biệt lớn về sức khỏe và tài sản của người bị thiệt hại, về hình phạt vẫn giữ nguyên mức hình phạt như trước đây (phạt tù từ 12 năm đến 20 năm).

* Hình phạt bổ sung: Khoản 5, Điều 266 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng” (so với luật cũ là “phạt tiền từ năm triệu đồng đến ba mươi triệu đồng”).

Như vậy, nhìn chung các quy định về hình phạt của Tội đua xe trái phép tại Điều 266 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là tăng mức hình phạt tiền, tăng hoặc giữ nguyên các mức hình phạt tù đối với người vi phạm so với quy định tại Điều 207 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

4. Một số đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả của công tác bảo đảm an toàn giao thông đường bộ và phòng chống Tội đua xe trái phép

Xuất phát từ thực tiễn công tác phòng ngừa, đấu tranh, xử lý các hành vi đua xe trái phép hiện nay còn có nhiều bất cập, do nhiều nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan, trong đó có nguyên nhân là hình phạt quy định đối với tội phạm này còn nhẹ, chưa đủ nghiêm để giáo dục phòng ngừa vi phạm. Từ những phân tích trên, theo chúng tôi các cơ quan chức năng cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều 266 Bộ luật Hình sự năm 2015 theo hướng cụ thể như sau:

Một là, sửa đổi, bổ sung khoản 1, Điều 266 Bộ luật Hình sự năm 2015: Người nào đua trái phép xe ô tô, xe máy, hoặc các loại xe khác có gắn động cơ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc Điều 265 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tính mà còn vi phạm, “thì bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Hai là, nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung thêm tình tiết tăng nặng hình phạt đối với những trường hợp đua xe ở đường phố nơi có mật độ người tham gia giao thông cao, khu vực có nhiều người ở và sinh sống; tại trung tâm thành phố, khu đô thị, thị xã, thị trấn; nơi có trụ sở các cơ quan nhà nước, cơ quan công an, đơn vị quân đội đang đóng quân, bệnh viện, trường học, trạm y tế…; thay đổi kết cấu xe để tăng tốc độ.

Ba là, cần bổ sung thêm tình tiết tăng nặng đối với trường hợp các đối tượng tham gia đua xe đã sử dụng bia rượu hoặc một chất kích thích khác.

Bốn là, bổ sung quy định về tịch thu toàn bộ phương tiện sung quỹ nhà nước đối với người có hành vi tham gia đua xe trái phép, nhằm nâng cao tính răn đe giáo dục phòng ngừa chung, góp phần đảm bảo an toàn công cộng, trật tự công cộng.

Năm là, tích cực tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật trong lĩnh vực an toàn giao thông, an toàn công cộng và trật tự công cộng và Tội đua xe trái phép nói riêng; tăng cường sự phối kết hợp giữa các cơ quan chức năng như Công an, Viện kiểm sát, Tòa án, nhà trường và xã hội trong việc giáo dục ý thức chấp hành pháp luật, ngăn chặn, phòng ngừa, xử lý vi phạm; giáo dục mọi người dân chấp hành nghiêm chỉnh Luật Giao thông đường bộ, Luật Phòng chống tác hại của rượu bia, Bộ luật Hình sự và các văn bản pháp luật có liên quan…thực hiện nghiêm quy định “đã uống rượu bia thì không lái xe”.

Sáu là, tiếp tục rà soát, kiến nghị và hoàn thiện các quy định của pháp luật trong lĩnh vực giao thông đường bộ, an toàn công cộng và trật tự công cộng trong đó có Tội đua xe trái phép để tạo cơ sở, hành lang pháp lý trong việc xử lý;

Bẩy là, tăng cường công tác tuần tra, giám sát, kịp thời phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, xét xử nghiêm minh đối với Tội đua xe trái phép, có kết hợp với công tác giáo dục, tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng;

Tám là, tăng cường lực lượng, phương tiện cho cán bộ, chiến sĩ, người thi hành công vụ làm công tác bảo đảm an ninh trật tự, an toàn giao thông đường bộ để kịp thời phát hiện, xử lý vi phạm;

Chín là, tổ chức củng cố mạng lưới giao thông và điều khiển hoạt động giao thông đường bộ, quản lý các phương tiện vật chất và người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ; quản lý chặt chẽ và nâng cao công tác đào tạo, cấp, thu hồi giấy phép lái xe, đăng ký phương tiện giao thông đường bộ;

Mười là, thực hiện các cam kết về bảo đảm an toàn giao thông trong các cơ quan, tổ chức, nhà trường; tăng cường sự quản lý, giáo dục của gia đình đối với đối tượng thanh thiếu niên có sử dụng xe gắn máy./.

Hồ Nguyễn Quân
Tòa án quân sự Khu vực Quân khu 4


[1] Như: Thông tư liên tịch số 10/TTLT ngày 31/12/1996 hướng dẫn xử lý các hành vi đua xe trái phép, Chỉ thị số 33/1999/CT-BGTVT ngày 27/12/1999 về tăng cường trách nhiệm quản lý Nhà nước trong công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông, Nghị định số 34/2010/NĐ-CP có hiệu lực kể từ ngày 02/4/2010 (thay thế cho Nghị định 146/NĐ-CP ngày 14/8/2007) quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, Luật Giao thông đường bộ 2008, Nghị định 100/2019/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, Bộ luật Hình sự năm 1999 hình sự hóa hành vi đua xe trái phép thành một tội danh độc lập quy định tại Điều 207.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Sau hơn 17 năm thi hành, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, thực tiễn đời sống xã hội đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hoạt động TTTP về dân sự. Do đó, việc tổng kết thực tiễn thực hiện Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 là cần thiết, từ đó, đánh giá những điểm còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn, làm cơ sở đề xuất hoàn thiện pháp luật TTTP về dân sự trong bối cảnh mới.

Theo dõi chúng tôi trên: